Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày: 18/6/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Ngọc Sáng; Ông Nguyễn Đức Thật.

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thùy Linh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa:

Ông Bùi Ngọc Chín- Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Tòa án nhân dân huyện Mường Tè xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 02/2024/HSST-QĐ ngày 23/5/2024 đối với bị cáo:

Đỗ Đức N, sinh năm 1973, tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Q, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nơi tạm trú: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Chức vụ đoàn thể, chính quyền: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Đức M, sinh năm 1942, con bà Đỗ Thị N1 (đã chết); Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1976 và có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện M từ ngày 21/12/2023 đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Trần Văn C, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Đ, thôn C, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974.

    Địa chỉ: Đ, thôn A, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên.

  2. Trần Văn Đ1, sinh năm 1983.

    Địa chỉ: Khu đô thị D, phường D, quận H, thành phố Hà Nội.

  3. Nguyễn Vũ S, sinh năm 1984.

    Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  4. Bùi Văn N2, sinh năm 1994.

    Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  5. Nguyễn Tiến P, sinh năm 1983.

    Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  6. Đinh Ngọc T, sinh năm 1975.

    Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  7. Lê Thị V, sinh năm 1977.

    Địa chỉ: Bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  8. Khoàng Phí D, sinh năm 1985.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

  9. Lý Thị Ú, sinh năm 1981.

    Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu.

Tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 17/9/2023, tại lán công trình thuỷ điện T, thuộc bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu, Đỗ Đức N, sinh năm 1973, ngồi ăn cơm, uống rượu cùng với 09 người công nhân khác, gồm: Trần Văn C, sinh năm 1971, trú tại Đ, thôn C, xã Q, thành phố H, tỉnh Hưng Yên; Trần Duy Đ2, sinh năm 1983; Nguyễn Đình Đ, sinh năm 1974; Nguyễn Vũ S, sinh năm 1984; Bùi Văn N2, sinh năm 1994; Nguyễn Tiến P, sinh năm 1983; Lê Thị V, sinh năm 1977; Khoàng Phí D1, sinh năm 1985 và Lý Thị Ú, sinh năm 1981. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, mâm cơm chỉ còn lại 04 người (gồm: Nghị, D1, Ú và S), còn những người khác đã lần lượt đứng dậy nghỉ trước, riêng Chiều thì đứng dậy đi ra bàn bên cạnh ngồi uống nước. Trong lúc ngồi uống nước, C có nói chuyện với mọi người trong mâm cơm nên N nói với Chiều: “Anh không uống được thì anh đừng có chõ mồm vào đây nữa”. Chiều đáp: “Uống rượu chúng mày tuổi gì”. Nghị nói tiếp: “Ông im mẹ mồm đi”. Nghe N nói vậy, C chỉ tay về phía N và nói: “Mày tuổi gì, mày muốn gì tao chiều”; đồng thời, C cầm điếu cày đứng dậy chỉ về hướng N đang ngồi và tiếp tục chửi nhau qua lại với N. Cho rằng Chiều định đánh mình nên N đứng dậy, dùng tay phải với lấy 01 con dao bầu có tổng chiều dài 34,5 cm, lưỡi dao dài 23 cm, mũi dao gãy, lưỡi dao chỗ rộng nhất 6,8 cm, sống dao dày 0,15 cm, chuôi dao được làm bằng gỗ dài 11,5 cm có đường kính 3,5 cm đang để ở ghế ngay phía cửa ra vào bếp và tiến đến chỗ anh C, rồi dùng tay phải cầm vào chuôi dao, giơ lên chém 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải về phía người Chiều. Thấy vậy, C đứng dậy để tránh nhưng lại trúng vào trán bên phải của C làm cho Chiều bị thương phải đưa vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh L điều trị.

Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 198/2023/KTTTCT-TTPY&GĐYK ngày 27/11/2023 của Trung tâm P1 - Sở Y tế tỉnh H kết luận:

" - Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp ý, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn C tại thời điểm giảm định là: 20% (hai mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Cơ chế hình thành thương tích là do dạng vật sắc gây nên."

Tại bản cáo trạng số 18/CT- VKS-MT ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè truy tố bị cáo Đỗ Đức N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 50 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Đức N 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách cho bị cáo 05 (năm) năm, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại không đề nghị gì nên không đề cập xử lý.

Xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bầu có chiều dài 34,5 cm; lưỡi dao dài 23 cm, mũi dao gãy, lưỡi dao chỗ rộng nhất 6,8 cm, sống dao dày 0,15 cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 11,5 cm (có đường kính 3,5 cm, chuôi dao có 02 khuy được làm bằng kim loại); 01 chiếc áo ngắn tay màu trắng, xanh kẻ ca-ro nhãn hiệu Vinhtien bị rách đường chỉ vạt áo bên phải; 01 túi niêm phong mã số PS1 2117818 do V1 - Bộ C1 nghiên cứu chế tạo.

Bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, bản luận tội của Viện kiểm sát và không bổ sung gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Lai Châu- Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu- Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp.

[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên Tòa và trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định tỷ lệ thương tích, các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Tòa án đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 17/9/2023, tại lán công trình thuỷ điện T, thuộc bản N, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu, do mâu thuẫn trong lời nói và cho rằng Trần Văn C cầm điếu cày có ý định đánh mình nên Đỗ Đức N đã dùng tay phải cầm vào chuôi 01 con dao bầu có tổng chiều dài 34,5 cm, lưỡi dao dài 23 cm, mũi dao gãy, lưỡi dao chỗ rộng nhất 6,8 cm, sống dao dày 0,15 cm, chuôi dao được làm bằng gỗ dài 11,5 cm, giơ lên chém 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải trúng vào trán bên phải của anh Trần Văn C. Hậu quả: Hành vi dùng dao của Đỗ Đức N đã gây thương tích cho bị hại Trần Văn C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 20% với tình tiết "hung khí nguy hiểm". Do đó hành vi của bị cáo Đỗ Đức N đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của Đỗ Đức N là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết rõ hành vi phạm tội của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì. Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng và bị hại có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm. Nên cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo Đỗ Đức N không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây ảnh hưởng xấu đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm nên cần căn cứ vào Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022, ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Điều 65 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử cần xử phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo đủ sức răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá điều tra, truy tố bị cáo đã bồi thường cho bị hại tổng số tiền 40.000.000 đồng tiền tổn thương về sức khỏe (chưa bao gồm chi phí đi lại, viện phí). Tại phiên tòa bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao bầu có chiều dài 34,5 cm, lưỡi dao dài 23 cm, mũi dao gãy, lưỡi dao chỗ rộng nhất 6,8 cm, sống dao dày 0,15 cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 11,5 cm (có đường kính 3,5 cm, chuôi dao có 02 khuy được làm bằng kim loại); 01 chiếc áo ngắn tay màu trắng, xanh kẻ ca-ro nhãn hiệu Vinhtien bị rách đường chỉ vạt áo bên phải; 01 túi niêm phong mã số PS1 2117818 do V1 - Bộ C1 nghiên cứu chế tạo. Tất cả đều không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

[7] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 50; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Đức N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Xử phạt bị cáo Đỗ Đức N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo.

    Thời gian thử thách của bị cáo là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Đỗ Đức N cho UBND xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo chuyển nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án hình sự.

  2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bầu có chiều dài 34,5 cm, lưỡi dao dài 23 cm, mũi dao gãy, lưỡi dao chỗ rộng nhất 6,8 cm, sống dao dày 0,15 cm, chuôi dao làm bằng gỗ dài 11,5 cm (có đường kính 3,5 cm, chuôi dao có 02 khuy được làm bằng kim loại); 01 chiếc áo ngắn tay màu trắng, xanh kẻ ca-ro nhãn hiệu Vinhtien bị rách đường chỉ vạt áo bên phải; 01 túi niêm phong mã số PS1 2117818 do V1 - Bộ C1 nghiên cứu chế tạo.

    (Vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè ngày 15/4/2024).

  3. Án phí HSST: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKS ND tỉnh Lai Châu (01);
  • - VKSND huyện Mường Tè (01);
  • - Công an huyện + THAHS (02);
  • - THADS huyện (01);
  • - Bị cáo, Bị hại (02);
  • - Lưu HSVA (01);
  • - Lưu TA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger