Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HSST

Ngày: 17/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thành Đô

2. Bà Nguyễn Thị Lê

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa:

Ông Lường Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đàm Tiến T; sinh năm: 1968, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  2. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Số CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 01/10; Cha: Đàm Tiến S, (đã chết); Mẹ: Lê Thị Đ, (đã chết); Vợ: Lâm Thị T1, sinh năm: 1965; Con: Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1990, nhỏ nhất sinh năm 2006; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/4/2024 đến ngày 29/4/2024 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Phú T2; Sinh năm: 1964, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  4. Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Số CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 4/10. Cha: Nguyễn Phú K, sinh năm: 1932 (đã chết); Mẹ: Trương Thị T3, sinh năm: 1938 (đã chết); Vợ: Hồ Thị K1, sinh năm: 1969. Con: Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995; Bị cáo có 06 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 07/7/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước xử phạt 09 tháng tù treo về Tội đánh bạc tại Bản án số 56/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án; Ngày 20/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xử phạt 50.000.000đồng về tội Đánh bạc tại Bản án số 08/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Phạm Thị Thùy L; Sinh năm: 1989, tại: Bà Rịa V.
  6. Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Số CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Cha: Phạm T4, sinh năm: 1960; Mẹ: Hoàng Thị T5, sinh năm: 1963; Chồng: Nguyễn Văn T6, sinh năm: 1977 (đã chết); Con: Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2012 và năm 2021; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 20/4/2024 được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: Lê Duy P; Sinh năm: 1973, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  8. Nơi cư trú: Thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Số CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 9/12; Cha: Lê Duy G, sinh năm: 1947 (đã chết); Mẹ: Lê Thị M, sinh năm: 1950 (đã chết); Vợ: Lê Thị Thúy D, sinh năm: 1983; Con: Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2012; Bị cáo có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 02; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 20/4/2024 được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  9. Họ và tên: Nguyễn Hồng P1; Sinh năm: 1967, tại tỉnh: Ninh Bình.
  10. Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Nơi ở hiện nay: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

    Số CCCD số: [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 4/10; Cha: Nguyễn Văn T7, sinh năm: 1929 (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1930 (đã chết); Vợ: Phan Thị C, sinh năm: 1970; Con: Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1993; Bị cáo có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ 03 trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2024 đến ngày 20/4/2024 được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L cùng chồng là anh Nguyễn Văn T6 đến chơi nhà Đàm Tiến T tại thôn A, xã Đ, huyện B. Một lúc sau, thì T, L, P và T2 rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi “phỏm” thắng thua bằng tiền. T lấy bài có sẵn trong nhà ra cho tất cả cùng chơi, riêng T6 ngồi xem không tham gia chơi. Khoảng 16 giờ cùng ngày, T2 thua hết tiền nên gọi điện cho Nguyễn Hồng P1 đến để trao đổi việc cá nhân. Sau đó T2 đi về trước, còn P1 vào đánh thay tụ của T2 cùng với T, L và P. Sòng bạc chơi đến 20 giờ 15 phút cùng ngày thì bị Công an huyện B phối hợp Công an xã Đ 10 kiểm tra bắt quả tang người cùng tang vật gồm: 24.000.000 đồng tại chiếu bạc và 10.000.000 đồng trong ví (bóp) tại vị trí Nguyễn Hồng P1 ngồi; 07 bộ bài tây và 01 tấm thảm vải có hoa văn.

Quá trình chơi bài, Đàm Tiến T sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 8.500.000 đồng trên chiếu; Phạm Thị Thùy L sử dụng 1.900.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền trong tài khoản để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 1.700.000 đồng để trên chiếu; Lê Duy P sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc khi bị bắt tạm giữ 13.000.000 đồng; Nguyễn Hồng P1 sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 800.000 đồng trên chiếu và 10.000.000 đồng trong ví da; Nguyễn Phú T2 mang theo 8.200.000 đồng, sử dụng 8.100.000 đồng để đánh bạc và thua 8.100.000 đồng nên về trước.

Tổng số tiền đánh bạc tại thời điểm bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L và Đàm Tiến T chơi là 29.000.000 đồng.

Tổng số tiền đánh bạc tại thời điểm bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T chơi là 39.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 64/CTr –VKS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên nội dung Cáo trạng số: 64/CTr –VKS ngày 14/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T về tội “Đánh bạc” quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T phạm tội “Đánh bạc”;

Về hình phạt, đề nghị áp dụng Khoản 1 Khoản 2 Điều 321 BLHS; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T bằng hình phạt tiền, mức hình phạt đối với mỗi bị cáo từ 40 đến 50 triệu đồng; Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T2 từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bổ sung từ 10 đến 15 triệu đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T khai nhận hành vi đánh bạc như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố; Không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được Tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 14/4/2024, Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L và Đàm Tiến T cùng rủ nhau đánh bạc bằng hình thức chơi “phỏm” tại nhà của Đàm Tiến T ở thôn A, xã Đ, huyện B; Khoảng 16 giờ cùng ngày, T2 thua hết tiền nên gọi điện cho Nguyễn Hồng P1 đến để trao đổi việc mua bán sầu riêng rồi T2 đi về trước, còn P1 vào đánh thay tụ của T2 cùng với T, L và P; đến 20 giờ 15 phút thì bị Công an huyện B phối hợp Công an xã Đ 10 kiểm tra bắt quả tang người cùng tang vật. Vật chứng thu giữ gồm: 24.000.000 đồng và 10.000.000 đồng trong ví (bóp) tại vị trí Nguyễn Hồng P1 ngồi; 07 bộ bài tây và 01 tấm thảm vải có hoa văn sử dụng làm chiếu đánh bạc.

Quá trình chơi bài Đàm Tiến T sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 8.500.000 đồng trên chiếu; Phạm Thị Thùy L sử dụng 1.900.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền trong tài khoản để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 1.700.000 đồng để trên chiếu; Lê Duy P sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc khi bị bắt tạm giữ 13.000.000 đồng; Nguyễn Hồng P1 sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt tạm giữ 800.000 đồng trên chiếu và 10.000.000 đồng trong ví da; Nguyễn Phú T2 mang theo 8.200.000 đồng, sử dụng 8.100.000 đồng để đánh bạc và thua 8.100.000 đồng nên về trước.

Tổng số tiền đánh bạc tại thời điểm bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L và Đàm Tiến T chơi là 29.000.000 đồng, trong đó có 5.000.000 đồng trong tài khoản của L.

Tổng số tiền đánh bạc tại thời điểm bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T chơi là 39.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, lời khai của các bị cáo, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án; phù hợp với kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Phú T2, Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L và Đàm Tiến T phạm tội “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo là có cơ sở, có căn cứ pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, có thể gây ra những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng, nhưng vì hám lợi và ham mê trò chơi thắng thua bằng tiền nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an ninh, trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến nếp sống văn minh xã hội, nên cần xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà các bị cáo.

[4] Xét vai trò của các bị cáo: Trong vụ án là đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành trong vụ án.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình, bị cáo L có con còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; vì vậy, Hội đồng xét xử xét áp xử áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự, mức tiền phạt đối với mỗi bị cáo là 40 triệu đồng là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Phú T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bị cáo có nhiều thành tích, đóng góp đối với các phong trào xã hội ở địa phương, năm 2021 được Chủ tịch Uỷ ban nhân xã P Giấy khen do có nhiều đóng góp trong “Công tác phòng, chống dịch Covid”; năm 2022 được Chủ tịch Ủy ban nhân xã P Giấy khen do có nhiều đóng góp trong thực hiện phong trào “Chung tay xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã P”; năm 2023 được Chủ tịch Ủy ban nhân xã P Giấy khen do có nhiều thành tích tốt trong thực hiện “Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hoá” và C1 vận động “Người Bình Phước nói lời hay làm việc tốt gắn với phong trào toàn tỉnh chung sức xây dựng Nông thôn mới” là các tình tiết giảm nhẹ qui định tại Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo; tuổi đã cao, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp với tinh thần hướng dẫn tại điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số: 02/VBHN-TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.

[7] Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng Khoản 5 Điều 321 Bộ luật Hình sự xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Phú T2 số tiền 15.000.000đ. Các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[8] Về xử lý vật chứng vụ án:

  • + 39.000.000 đồng các bị cáo sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • + 07 bộ bài tây (trong đó có 05 bộ bài đã qua sử dụng); 01 tấm thảm vải có hoa văn sử dụng vào việc đánh bạc, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với nội dung vụ án, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1, Đàm Tiến T và Nguyễn Phú T2 phạm tội “Đánh bạc”.

  • + Áp dụng Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T mỗi bị cáo số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng);
  • + Áp dụng Khoản 1, K2 3 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T2 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Phú T2 số tiền 15.000.000đ (mươi lăm triệu đồng).

Giao bị cáo Nguyễn Phú T2 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 39.000.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 07 bộ bài tây (trong đó có 05 bộ bài đã qua sử dụng); 01 tấm thảm vải có hoa văn. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0010156, ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng với Cơ quan CSĐT Công an huyện B).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1, Đàm Tiến T và Phạm Phú T8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị L1

Phạm Thành Đô

Nguyễn Văn H

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 17 tháng 7 năm 2024;

Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị L1 và ông Phạm Thành Đ1

Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/HSST ngày 21 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Đàm Tiến T; sinh năm: 1968, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  2. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  3. Họ và tên: Nguyễn Phú T2; Sinh năm: 1964, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  4. Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  5. Họ và tên: Phạm Thị Thùy L; Sinh năm: 1989, tại tỉnh : Bà Rịa Vũng Tàu.
  6. Nơi cư trú: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  7. Họ và tên: Lê Duy P; Sinh năm: 1973, tại tỉnh : Thanh Hóa.
  8. Nơi cư trú: Thôn F, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  9. Họ và tên: Nguyễn Hồng P1; Sinh năm: 1967, tại tỉnh: Ninh Bình.
  10. Nơi cư trú: Thôn C, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Tuyên bố các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T và Nguyễn Phú T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Kết quả biểu quyết 3/3

Áp dụng Khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1 và Đàm Tiến T mỗi bị cáo số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng);

Kết quả biểu quyết 3/3

Áp dụng Khoản 1, K2 3 Điều 321; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Phú T2 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

Xử phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Phú T2 số tiền 15.000.000đ (mươi lăm triệu đồng).

Giao bị cáo Nguyễn Phú T2 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

Kết quả biểu quyết 3/3

[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 39.000.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Tịch thu tiêu huỷ 07 bộ bài tây (trong đó có 05 bộ bài đã qua sử dụng); 01 tấm thảm vải có hoa văn.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0010156, ngày 17/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng với Cơ quan CSĐT Công an huyện B).

Kết quả biểu quyết 3/3

[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Lê Duy P, Phạm Thị Thùy L, Nguyễn Hồng P1, Đàm Tiến T và Phạm Phú T8 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Kết quả biểu quyết 3/3

[4] Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết 3/3

Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 45 phút, ngày 17 tháng 7 năm 2024.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị L1

P

Nguyễn Văn H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HSST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 67/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về tội đánh bạc; bị cáo Đàm Tiến Tùng cùng đồng bọn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger