|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST
Ngày 11 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Lê Đăng Thiện
Ông Nguyễn Văn Sâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân .
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Văn Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/TLST - HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/QĐ-HPT ngày 28/8/2024 đối với Bị cáo: Lê Khắc Q; Sinh ngày 25 tháng 10 năm 1982 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Lê Khắc L, sinh năm 1946; Mẹ Lê Thị L1, sinh năm 1958; Gia đình có 03 chị em, Bị cáo là con thứ 2; Vợ: Hà Thị C, sinh năm 1994 (đã ly thân); Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho Bị cáo: Luật sư Bùi Hữu N. Có mặt
Nơi công tác: Văn phòng Luật sư Bùi Hữu Nghĩa
Địa chỉ: Số D đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
- Bị hại: Anh Lê Công S, sinh năm 1999. Có mặt
Địa chỉ: Thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
- Người làm chứng:
- Cháu Lê Văn H, sinh năm 2008. Có mặt
Người đại diện hợp pháp của cháu H:
Chị Lê Thị B, sinh năm 1960(mẹ đẻ). Vắng mặt
- Ông Lê Khắc L, sinh năm 1946. Có mặt
- Bà Lê Thị L1, sinh năm 1958. Có mặt
- Anh Lê Khắc Đ, sinh năm 1982. Có mặt
- Anh Lê Công S1, sinh năm 1967. Có mặt
Cùng địa chỉ: Thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Để tổ chức đám cưới cho anh Lê Công S thì gia đình anh S sẽ dựng rạp cưới ở phía trước nhà và có lấn phần đường ở phía trước nhà bà Lê Thị L1 (bác ruột của S) và ông Lê khắc L2 nên nhà S đã sang nói chuyện xin phép và được ông L2 bà L1 đồng ý.
Khoảng 16 h ngày 25/4/2024 khi gia đình anh S đang tiến hành dựng rạp đám cưới thì anh Lê Khắc Đ từ trong nhà đi ra ngoài đường nhìn thấy thì có nói với nhà S về việc xe ô tô tải đang sửa bên trong, dựng rạp thế này thì xe ô tô tải không đi ra để chở hàng được và đề nghị đợi khoảng 1 - 2 giở đồng hồ nữa, khi sửa xe xong thì tiến hành dựng rạp.
Lê Công S và gia đình nghe thấy Đ nói vậy thì cho rằng Đ là người nhà mà gây khó dễ, không cho dựng rạp nên đã lời qua tiếng lại, cãi nhau với Đ. Lúc này Lê Khắc Q (anh trai Đ) ở trong nhà nghe thấy gia đình S chửi bới gia đình mình nên cầm một con dao thái đi ra ngoài nhưng sau đó mọi người can ngăn và sự việc cãi nhau to tiếng cũng dừng lại, ai về nhà nấy. Một lúc sau gia đình S có sang nhà nói chuyện với anh Đ và thống nhất về việc sẽ cho xe ô tô ra ngoài rồi tiếp tục dựng rạp đám cưới, sự việc to tiếng là do hiểu nhầm, hai bên gia đình bỏ qua cho nhau.
Đến khoảng 20h cùng ngày S đi ra ngoài xem dựng rạp thế nào thì nghe ông L2 bà L1 đứng ở sân nhà có nói về việc buổi chiều khi sảy ra sự việc cãi nhau có người bên nhà S dọa bắn nhà ông L2 bà L1. Sau đó S đi vào trong nhà bà L1 nói chuyện với ông L2 bà L1 về việc không biết ai dọa bắn, nếu có việc đó sẽ tìm hiểu rồi báo cho bà L1. Tại đây S và bà L1 có lời qua tiếng lại cãi nhau, hai bên đi ra khu vực trước cổng nhà bà L1 tiếp tục to tiếng. Lúc nay Q ở trong nhà nghe thấy S là cháu nhưng có lời lẽ thiếu tôn trọng, xúc phạm bố mẹ nên Q vào phòng ngủ cầm một con dao gấp bỏ vào túi quần bên phải đi ra khu vực cổng nhà. Thấy S vẫn to tiếng, giọng điệu thách thức bà L1 nên Q có lời qua tiếng lại với S. Q đứng dậy đồng thời dùng tay phải lấy con dao trong túi quần phải ra, nhưng dao bị rơi nên Q cúi xuống nhặt dao đồng thời kéo lưỡi dao ra. Khi Q đứng dậy thì thấy S đứng cách Q khoảng 30 - 40 cm, S chủ động đi chếch sang bên trái Q và dùng tay túm giữ người Q. Q dùng tay phải cầm dao đâm một nhát hướng từ ngoài vào trong trúng vào bắp tay trái của S. Bị đâm S lùi lại bỏ chạy vào nhà và được gia đình đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện T, bệnh việc đa khoa tỉnh Thanh Hóa và Bệnh viện N1 từ ngày 25/4/2024 đến ngày 27/4/2024 thì ra viện.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lê Công S xác định: Tại vị trí 1/3 trên mặt ngoài cánh tay trái có 01 vết thương rách da, chảy máu kích thước 02cm, bờ mép vết thương sắc gọn.
Tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với Lê Khắc Q không phát hiện dấu vết gì.
Tiến hành rà soát xác minh trong khu vực hiện trường, xung quanh hiện trường không phát hiện camera nào ghi nhận nội dung liên quan đến vụ án.
Lê Khắc Q thừa nhận đã có hành vi cầm dao gây thương tích cho Lê Công S.
Ngày 05/5/2024 Cơ quan điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành vết thương và tỉ lệ tổn hại sức khỏe do thương tích gây ra đối với Lê Công S.
Tại Kết luận số 3333/2024/Kl-KTHS ngày 14/5/2024 của V Bộ C1 kết luận: Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%. Tổn thương mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái của Lê Công S do vật sắc gây nên.
Ngày 27/5/2024 anh Lê Công S làm đơn đề nghị khởi tố vụ án, khởi tố Bị can đối với Lê Khắc Q về hành vi: “ Cố ý gây thương tích”.
Quá trình điều tra Lê Khắc Q giao nộp 01 con dao gập màu đen, nhãn hiệu STAINLESS, tổng chiều dài là 23cm, khi gập ngắn lại còn 15,5 cm, lưỡi dao gập màu xám dài 7,5cm, loại một lưỡi sắc, đầu nhọn, rộng nhất 1,5cm, phần tay cầm dài 15,5cm, có gắn kèm theo búa, kìm, dũa.
Tại Bản kết luận giám định số 1981/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của phòng K Công an tỉnh T xác định: Con dao gửi giám định thuộc lại vũ khí thô sơ.
Tại Bản kết luận giám định số 2028/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của phòng K Công an tỉnh T xác định: Mẫu chất màu nâu đỏ bám dính trên dao và mẫu chất màu nâu đỏ ghi thu tại hiện trường gửi giám định đều là máu của một người nam giới, AND của người nam giới này trùng khớp với của Lê Công S.
Đối với hành vi sử dụng vũ khí thô sơ của Lê Khắc Q Cơ quan điều tra Công an huyện T đề nghị chủ tịch UBND huyện T xử phạt theo quy định.
Vật chứng của vụ án: 01 con dao gập màu đen, nhãn hiệu STAINLESS, tổng chiều dài là 23cm, khi gập ngắn lại còn 15,5 cm, lưỡi dao gập màu xám dài 7,5cm, loại một lưỡi sắc, đầu nhọn, rộng nhất 1,5cm, phần tay cầm dài 15,5cm, có gắn kèm theo búa, kìm, dũa hiện đang quản lý theo quy định pháp luật.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Lê Công S yêu cầu Bị cáo Q bồi thương thiệt hại về sức khỏe gồm:
- Tiền thuốc và viện phí 4.000.000₫
- Tiền thuốc mua ngoài 900.000₫
- Tiền siêu âm tại phòng khám N2 300.000₫
- Tiền thuốc tại phòng khám N2 1.000.000₫
- Tiền xe ta xi đi từ bệnh viện T đi bệnh viện tỉnh Thanh Hóa 1.000.000₫
- Tiền xe ta xi đi từ bệnh viện tỉnh T đến Bệnh viện N1
- Tiền xe ta xi đi từ bệnh viện N1 về nhà tại T 1.000.000₫
- Tiền mua thuốc bổ uống tại nhà 2.000.000₫
- Tiền tiêm truyền tại nhà 500.000₫
- Tiền thuê rạp cưới 10.000.000₫
- Tiền xe di chuyển đám cưới 5.000.000₫
- Tiền ảnh hưởng đến công việc ngày 26/4/2024 là 11.000.000₫
- Tiền ảnh hưởng đến công việc ngày 30/4/2024 và 01/5/2024 là 13.000.000₫
- Tiền ảnh hưởng đến công việc giảng dạy tháng 5/2024 là 10.000.000₫
- Tiền ảnh hưởng đến công việc các ngày 18, 19, 20, 21/5/2024 là 8.000.000₫
- Tiền tổn thất tinh thần là 20.000.000₫
- Tiền xe Ta xi gọi đến Cơ quan điều tra làm việc 2.000.000₫
- Tiền giám định thương tật 2.000.000₫.
Tổng số tiền = 92.700.000₫
Cáo trạng số 64/CT - VKS ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Bị cáo Lê Khắc Q về tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lê Khắc Q phạm tội: “ Cố ý gây thương tích”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 134, điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt Bị cáo Lê Khắc Q từ 06(sáu) tháng đến 09(chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12(mười hai) đến 18(mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đề nghị tịch hu tiê huỷ vật chứng của ụ án; Buộc Bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại gồm các khoản chi phí hợp lý là 13.922.900đ; Buộc bị cáo chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho Bị cáo Lê Khắc Q trình bày quan điểm bào chữa: Về tội danh và khung hình phạt tôi đồng ý với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố. Bị cáo Lê Khắc Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo phạm tội khi tinh thần bị kích động; Bị cáo Q là đối tượng nghiện ma túy đang được điều trị cai nghiện bằng phương pháp uống Methanol, Bị cáo bị mắc bệnh pakison nặng. Vì vậy đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, s, e khoản 1 điều 51; Điều 65; Khoản 1 điều 54 BLHS cho Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất dưới khung hình phạt và được cải tạo tại địa phương, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Q. Về phần Bồi thường thiệt hại về sức khoẻ đề nghị HĐXX xem xét theo quy định pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Bị cáo đề nghị HĐXX cho Bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Vào khoảng 20h 15 phút ngày 25/4/2024 Bị cáo Lê Khắc Q đã có hành vi dùng dao đâm một nhát vào vùng bắp tay trái của Lê Công S gây tổn hại 01% sức khỏe. Hành vi của Bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 điều 134 BLHS.
Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Lê Khắc Q phạm tội: "Cố ý gây thương tích" theo điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật hình sự
Cáo trạng số 64/CT - VKS ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố Bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ nghiêm trọng của vụ án: Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng.
[4] Về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ về hành vi dùng dao gây thương tích cho Bị hại sẽ dẫn đến hậu quả xấu cho người Bị hại nhưng Bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của Bị cáo đã cố ý xâm hại đến sức khoẻ của người Bị hại. Tính mạng và sức khoẻ của con người là vốn quý được pháp luật bảo vệ nhưng Bị cáo đã coi thường sức khoẻ của người khác. Vì vậy cần phải xử phạt Bị cáo thật nghiêm minh.
[5] Về nhân thân của Bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà Luật sư bào chữa cho Bị cáo đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ “ Phạm tội khi tinh thần bị kích động” quy định tại điểm e khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 54 Bộ luật Hình sự đối với Bị cáo nhưng HĐXX xét thấy không đủ căn cứ nên không chấp nhận đề nghị của Luật sư.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo nên Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 điều 51 BLHS. Vì vậy HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho Bị cáo để Bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về hình phạt: HĐXX xét thấy Bị cáo không có Tiền án, Tiền sự, lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly xã hội đối với Bị cáo. HĐXX áp dụng điều 65 BLHS cho Bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát và Người bào chữa cho Bị cáo là phù hợp và cũng đủ điều kiện giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu Bị cáo Lê Khắc Q phải bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 92.700.000đ. HĐXX thấy rằng:
Đối với khoản Tiền thuốc và viện phí 4.000.000 nhưng theo Hóa đơn chứng từ hợp pháp do B1 hại cung cấp thì tổng số tiền thuốc và viện phí là 1.982.900đ nên HĐXX chấp nhận tiền thuốc và viện phí là 1.982.900đ.
Đối với khoản Tiền xe ta xi đi bệnh viện, đi giám định đều không có hóa đơn chứng từ hợp pháp nhưng đây là chi phí hợp lý nên HĐXX chấp nhận gồm: Tiền xe đi từ xã T đến bệnh viện đa khoa huyện T, từ Bệnh viện đa khoa huyện T đến Bệnh viện đa khoa tỉnh T, từ Bệnh viện đa khoa tỉnh T đến Bệnh viện đa khoa huyện N1, từ Bệnh viện N1 về nhà tại xã T, tổng là 3.000.000đ;
Đối với khoản Tiền chi phí đi giám định(tiền xe và ăn uống) là 2.000.000₫ là phù hợp quy định pháp luật nên được HĐXX chấp nhận.
Đối với các khoản gồm: Tiền thuốc mua ngoài là 900.000; Tiền siêu âm tại phòng khám N2; Tiền thuốc tại phòng khám N2; Tiền mua thuốc bổ uống tại nhà 2.000.000đ; Tiền tiêm truyền tại nhà 500.000đ. Tất cả đều không có chỉ định của bác sĩ và đều không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp nên HĐXX không chấp nhận.
Đối với khoản Tiền thuê rạp cưới 10.000.000đ và Tiền xe di chuyển đám cưới 5.000.000đ. Tại phiên toà Bị hại rút yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Đối với các khoản Tiền ảnh hưởng đến công việc ngày 26/4/2024 là 11.000.000đ; Tiền ảnh hưởng đến công việc ngày 30/4/2024 và 01/5/2024 là 13.000.000đ; Tiền ảnh hưởng đến công việc giảng dạy tháng 5/2024 là 10.000.000đ; Tiền ảnh hưởng đến công việc các ngày 18, 19, 20, 21/5/2024 là 8.000.000đ, tổng = 42.000.000đ thì HĐXX thấy rằng: Người Bị hại là anh Lê Công S làm nghề Giáo viên môn MC thuyết trình của Trung tâm N3. Theo Bảng lương do anh S cung cấp thì thu nhập bình quân mỗi tháng tính từ tháng 01/2024 đến tháng 6/2024 là từ 9.450.000đ đến 12.150.000đ. HĐXX căn cứ vào điểm b, c khoản 1 điều 590 Bộ luật dân sự để áp dụng mức thu nhập trung bình là 400.000đ/ngày. Thời gian điều trị của anh S tại bệnh viện đa khoa tỉnh T theo Bệnh án từ ngày 25/4/2024 vào viện, đến ngày 26/4/2024 ra viện, thời gian điều trị tại Bệnh viện N1 từ ngày 26/4/2024 đến ngày 27/4/2024 ra viện, tổng thời gian điều trị tại Bệnh viện là 03 ngày. Sau khi ra viện anh S cần phải có thời gian phục hồi sức khỏe là 07 ngày nên HĐXX chỉ chấp nhận thời gian mất thu nhập của người bị thiệt hại là 10 ngày. Do đó tiền mất thu nhập của anh S là: 10 ngày x 400.000đ = 4.000.000đ; Người bị thiệt hại điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T và Bệnh viện N1 03 ngày nên cần người chăm sóc trong thời gian điều trị 03 ngày. Do đó tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 200.000₫ x 03 ngày = 600.000₫.
Đối với yêu cầu về Tiền tổn thất tinh thần là 20.000.000đ thì HĐXX thấy rằng: Anh S bị tổn hại 01% sức khỏe nên tiền bù đắp tổn thất về tinh thần của anh S là 01 tháng lương tối thiểu tại thời điểm hiện tại với mức 2.340.000₫ là 2.340.000₫.
Như vậy yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe của Bị hại là anh S được HĐXX chấp nhận theo quy định tại điều 590 Bộ luật dân sự gồm: Tiền thuốc và viện phí là 1.982.900đ; Tiền xe là 3.000.000đ; Tiền chi phí đi giám định là 2.000.000đ; Tiền mất thu nhập của anh S là 4.000.000đ; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 600.000đ; Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là 2.340.000đ; Tổng cộng = 13.922.900₫.
Bị cáo chưa bồi thường thiệt hại cho Bị hại nên buộc Bị cáo phải bồi thường cho Bị hại tổng số tiền là 13.922.900đ.
[8]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 con dao gập màu đen, nhãn hiệu STAINLESS, tổng chiều dài là 23cm, khi gập ngắn lại còn 15,5 cm, lưỡi dao gập màu xám dài 7,5cm, loại một lưỡi sắc, đầu nhọn, rộng nhất 1,5cm, phần tay cầm dài 15,5cm, có gắn kèm theo búa, kìm, dũa là công cụ phương tiện phạm tội nên HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 134; Điểm i, s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Khắc Q phạm tội : "Cố ý gây thương tích"
- Xử phạt: Bị cáo Lê Khắc Q 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12(mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Bị cáo Lê Khắc Q cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm bồi thường: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 590 và điều 357 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Lê Khắc Q phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho Bị hại là anh Lê Công S, sinh năm 1999; Địa chỉ: Thôn A xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa gồm: Tiền thuốc và viện phí là 1.982.900đ; Tiền xe là 3.000.000đ; Tiền chi phí đi giám định là 2.000.000đ; Tiền mất thu nhập của anh S là 4.000.000đ; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc là 600.000đ; Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần 2.340.000đ; Tổng cộng = 13.922.900₫.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác .
- Xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy 01 con dao gấp dạng dao đa năng màu đen, nhãn hiệu STAINLESS, tổng chiều dài là 23cm, khi gập ngắn lại còn 15,5 cm, lưỡi dao gập màu xám dài 7,5cm, loại một lưỡi sắc, đầu nhọn, rộng nhất 1,5cm, phần tay cầm dài 15,5cm, có gắn kèm theo búa, kìm, dũa, dao đã qua sử dụng. Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 75 ngày 30/7/2024 của chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS; Điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
Buộc Bị cáo Lê Khắc Q phải chịu 200.000đ án phí HSST và án phí DSST là 696.145đ, tổng là 896.134đ sung quỹ nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo và Bị hại có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Khắc Quang gây thương tích 01%
