Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 26 - 9 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Tư.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Diện
Bà Nguyễn Thị Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị C - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 60/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Lù Seo C, sinh ngày 14/10/2003 tại huyện H, tỉnh Hà Giang. Nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 09/5/2021; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Sấn Đ và bà Sải Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 05/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang. Có mặt.

- Người làm chứng: Cháu Đặng Văn Q, sinh năm 2007. Người đại diện hợp pháp chị Đặng Thị T, sinh năm 1988. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 05/7/2024, tại tổ dân phố T, thị trấn V, huyện B, Công an huyện B, tỉnh Hà Giang phát hiện 02 thanh niên điều khiển xe mô tô Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 23D1-471.41 có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên đã tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi áo khoác bên phải (áo chống nắng) đang mặc của Lù Seo C1, sinh năm 2003, trú tại thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang có 02 gói giấy bạc bên trong đều chứa chất màu trắng dạng bột và dạng cục nghi là ma túy Heroin; kiểm tra người lái xe là Đặng Văn Q, sinh năm 2007, trú tại thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang, không phát hiện đồ vật gì. Qua làm việc, Lù S C khai nhận 02 gói giấy bạc bên trong chứa chất màu trắng dạng bột và dạng cục là ma túy heroin, được C2 mua của một người đàn ông khoảng 35 tuổi tại khu vực nghĩa trang gần Bệnh viện huyện L, tỉnh Yên Bái với giá 300.000 đồng về để sử dụng. Công an huyện B tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các đồ vật có liên quan gồm: 02 (hai) gói giấy bạc bên trong có chất màu trắng dạng bột và dạng cục nghi là ma túy Heroin; 01 xe mô tô loại Wave, màu đen bạc, BKS 23D1 - 471.41, cũ đã qua sử dụng.

Đến 19 giờ 40 phút cùng ngày, Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lù S C tại thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang, quá trình khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan. Đồng thời, Công an huyện B cũng đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Lù Seo C và Đặng Văn Q. Kết luận Lù Seo C dương tính với chất ma túy H, Đặng Văn Q âm tính với chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Lù Seo C1 khai nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2021, vào khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 05/7/2024, do lên cơn nghiện ma tuý, nên Lù S C một mình đi bộ sang nhà Đặng Văn Q, sinh năm 2007, trú cùng thôn nhờ Q đưa đến huyện L, tỉnh Yên Bái có chút việc. Q đồng ý và lấy xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 23D1-471.41 của gia đình chở Lù Seo C đi đến huyện L, tỉnh Yên Bái. Khi đi đến khu vực nghĩa trang T1 thị trấn Y, huyện L, tỉnh Yên Bái, Lù Seo C bảo Q đứng ở ngoài đường đợi, còn C2 đi vào khu vực nghĩa trang thì gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ đang đứng ở đó, cao khoảng 1m65, dáng người cao, gày, da ngăm đen, mặc áo khoác kín, đeo khẩu trang nhìn giống người nghiện ma túy nên C2 hỏi “Anh có ma túy H không bán cho em 300.000đ”, người đàn ông đồng ý. Cáo đưa cho người đàn ông số tiền 300.000 đồng, gồm 02 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng và một 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng, người đàn ông cầm lấy tiền và đưa cho C2 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa ma túy Heroine. C2 cầm 02 gói ma túy mở ra xem thấy bên trong chứa chất bột màu trắng dạng bột và dạng cục, sau đó gói lại và cho vào túi áo bên phải đang mặc, rồi đi bộ ra chỗ Q đứng đợi và đi về. Khi đến khu vực tổ dân phố T, thị trấn V, huyện B, tỉnh Hà Giang thì bị Công an huyện B kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.

Hồi 20 giờ 30 phút, ngày 05/7/2024, Công an huyện B đã tiến hành cân tịnh vật chứng đã thu giữ của Lù Seo C, kết quả cân tịnh: Mẫu ký hiệu A1 có khối lượng là 0,119 gam (không phẩy một trăm mười chín gam); Mẫu ký hiệu A2 có khối lượng là 0,120 gam (không phẩy một trăm hai mươi gam). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã lấy mẫu giám định ký hiệu A1, A2, đồng thời ban hành quyết định số 489/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh H giám định đối với chất bột màu trắng dạng bột và dạng cục ký hiệu A1, A2 thu giữ của Lù S C có phải là ma túy không? Nếu có thì là loại ma túy gì? Có khối lượng là bao nhiêu?

Tại kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: 02 (hai) mẫu gửi giám định ký hiệu A1, A2 đều là ma túy, loại Heroin (H), có tổng khối lượng là 0,239g (không phẩy hai trăm ba mươi chín gam). Heroin (Heroine) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Với chứng cứ và hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 60/CT-VKSBQ ngày 05/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã truy tố bị cáo Lù S C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Lù S C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu.

Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Lù Seo C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  • * Về điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lù S C từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ (ngày 05/7/2024). Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng như sau: Đề nghị xử tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Vỏ bao gói sau giám định”; 01 phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”; 01 phong bì màu trắng, có viền màu xanh đỏ, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Lù S C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Về án phí: Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đã đề nghị trong bản luận tội.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên toà Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng và người đại diện của người làm chứng, nhưng trước đó họ đã có đầy đủ lời khai có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ và bản ảnh bắt quả tang ngày 05/7/2024; Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu; Bản ảnh vật chứng; Biên bản làm việc cân tịnh vật chứng và bản ảnh cân tịnh ngày 05/7/2024; Kết luận giám định số 256/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh H cùng tài liệu khác có trong hồ sơ đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 05/7/2024, Lù S C có hành vi tàng trữ trên người 02 gói ma túy, trên cơ sở giám định và cân tịnh đã kết luận là ma tuý loại Heroine, có khối lượng là 0,239g (không phẩy hai trăm ba mươi chín gam), nên bị cáo Lù S C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Hành vi đó đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước trong việc quản lý và sử dụng chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Chất ma tuý nói chung, H1 nói riêng là chất gây nghiện nghiêm trọng, không những huỷ hoại sức khoẻ của người mắc nghiện, hủy hoại đạo đức của con người, mà còn là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Mặc dù, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng do lối sống chơi bời, coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội thấy rằng: Trong vụ án này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51

của Bộ luật Hình sự. Do đó khi áp dụng mức hình phạt cũng xem xét để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo L1 Seo C, ngày 15/8/2024 Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt cảnh sáo theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị cáo đang bị tạm giam: Căn cứ vào Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét thấy, cần tiếp tục tạm giam bị cáo L1 Seo C để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

[8] Về xử lý vật chứng: Trên cơ sở vật chứng đã thu giữ trong vụ án, căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử, xác định: 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Vỏ bao gói sau giám định”; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”; 01 (một) phong bì màu trắng, có viền màu xanh đỏ, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Lù S C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”, là những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, không có giá trị và không sử dụng được, nên cần tịch thu tiêu huỷ.

[9] Đối với vật chứng Công an huyện B tạm giữ là 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại Wave, màu đen bạc, biển kiểm soát 23D1 - 471.41, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu tại giai đoạn điều tra, Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[10] Đối với Đặng Văn Q là người lái xe mô tô đưa Lù S C đến huyện L, tỉnh Yên Bái. Quá trình đi lại, Lù S C không nói cho Q biết việc mua ma tuý về sử dụng, cơ quan điều tra xác định Q không biết nên không xử lý về hình sự mà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt số tiền 250.000đ theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 21 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 18/12/2021 của Chính phủ) là đúng quy định của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Từ những phân tích nêu trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về giải quyết vụ án, đề nghị về tội danh, đề nghị áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo, đề nghị xử lý vật chứng, án phí là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 333, 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 3, Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lù S C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù S C 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt giữ (ngày 05/7/2024).

    Tiếp tục tạm giam bị cáo Lù S C để bảo đảm việc thi hành án, thời hạn tạm giam đối với bị cáo là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

  3. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Vỏ bao gói sau giám định”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn lại sau giám định ký hiệu A1, A2”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng K, Công an tỉnh H; 01 (một) phong bì màu trắng, có viền màu xanh đỏ, mặt trước phong bì ghi “Vỏ bao gói sau cân tịnh vụ Lù S C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau có chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong và đóng 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Hà Giang.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/9/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Quang).

  4. Về án phí: Bị cáo Lù S C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân dự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Công an huyện Bắc Quang (02 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện BQ;
  • - UBND xã Vĩnh Hảo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đàm Thị Tư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lù Seo C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger