Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 22/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và ông Hoàng Quốc Toản.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế - số F Đ, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với:

Bị cáo Lê Công T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 4 năm 1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số A đường Đ (nay là số B đường T), phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Công L và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có;

Nhân thân: Ngày 11/02/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 02 măm 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 13/2020/HSST); chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/3/2022; án phí HSST ngày 09/7/2021.

Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Võ Văn T2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A đường Đ (nay là số B đường T), phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Chị Hoàng Thị H, sinh năm 2000; địa chỉ: Cư xá X, đường X, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Chị Phan Thị T3, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị Như Ý, sinh năm 1984; địa chỉ: Số H đường M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Hữu T4, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Trọng A, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Văn H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Chị Hồ Thị H2, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Số A đường Đ (nay là số B đường T), phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  • + Chị Hoàng Thị H, sinh năm 2000; địa chỉ: Cư xá X, đường X, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Chị Phan Thị T3, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Chị Trần Thị Như Ý, sinh năm 1984; địa chỉ: Số H đường M, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Hữu T4, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Ông Nguyễn Trọng A, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Anh Trần Văn H1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A đường T, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Thanh T5, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • + Chị Hồ Thị H2, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 27/7/2024, Lê Công T điều khiển xe mô tô Honda Airblade biển kiểm soát 43K1- 472.19 (xe của Võ Văn T2, sinh năm: 1998, trú tại: thôn T, xã H, thành phố H), đi từ thành phố H về thị xã H. Khi đi qua nhà bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1957, ở tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thì phát hiện nhà bà D không khóa cửa và không có người. T dừng xe, cầm theo 01 tuốc nơ vít, đi vào trong nhà lục tìm tài sản lấy trộm được 01 ví da màu trắng đã cũ bên trong có 3.000.000 đồng, 02 chiếc nhẫn vàng (bà D khai 02 chiếc nhẫn là vàng 9999, loại nhẫn khâu trơn, mỗi chiếc là 01 chỉ).

Sau khi lấy trộm được tài sản nói trên, T vứt bỏ ví da, tuốc nơ vít, dọc đường còn tiền, vàng, cất dấu trong người rồi đến tiệm V - D, địa chỉ tại B Bà T, phường X, thành phố H (tiệm vàng của chị Trần Thị Như Ý, sinh năm 1984, trú tại H M, phường T, thành phố H); bán 02 nhẫn vàng được số tiền là 14.000.000 đồng.

Số tiền trộm cắp được, T cho chị Hoàng Thị H, sinh năm: 2000, trú tại cư xá X, phường V, thành phố H, số tiền 5.000.000 đồng; chuyển khoản cho chị Phan Thị T3, sinh năm 1985, trú tại tổ G, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, số tiền 6.250.000 đồng; số tiền còn lại T tiêu xài hết.

Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 43K1 – 472.19, nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, số khung: RLHJF6305FZ370754; số máy; JF63E1370789; 01 USB hiệu Kingston, dung lượng A, bên trong có chứa file hình ảnh chú thích: “Trộm cắp tài sản ngày 27.7.2024 tại tổ A.” Đối với 01 ví da màu trắng đã cũ, 01 tuốc nơ vít, 02 nhẫn vàng Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Hiện cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu; 01 USB hiệu Kingston lưu trong hồ sơ vụ án.

Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, có cơ sở xác định: 02 chiếc nhẫn vàng nói trên là vàng 24K (vàng 9999), loại nhẫn khâu trơn, mỗi chiếc có trọng lượng 01 chỉ; được bà Nguyễn Thị D mua cách đây khoảng 10 năm tại cửa hàng V1, ở chợ D1, tổ C, phường T, thị xã H. Giá vàng bị cáo bán tại thời điểm phạm tội (ngày 27/7/2024), là 02 chỉ giá 14.000.000 đồng.

Ngày 18/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ban hành Yêu cầu định giá tài sản số: 1620/YC-ĐCSHS, để yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, tiến hành định giá đối với 02 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng là 02 chỉ.

Ngày 01/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H, có văn bản số: 05/HĐĐG, trả lời: “...từ chối thực hiện do không có các hồ sơ liên quan đến việc giám định tài sản (kim loại vàng) của cơ quan chức năng để Hội đồng có cơ sở tiến hành định giá”.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 68/KL-HĐĐGTS ngày 08/9/2024 của Hội đồng định tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thị xã H kết luận: 01 ví da màu trắng (loại không có dây treo) kích thước 15x10 cm đã qua sử dụng, trị giá: 0 đồng.

Do vật chứng (là 02 nhẫn vàng 24K) không thu giữ được nên không tiến hành giám định và định giá được tài sản. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở để xác định: Vào ngày 27/7/2024, Lê Công T đã trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị D, 02 nhẫn vàng 24K, trị giá là: 14.000.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 17.000.000 đồng (mười bảy triệu đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Công T cùng gia đình đã bồi thường theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị D, tổng số tiền là 18.060.000 đồng, bà D đã nhận đủ số tiền trên nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 67/CT-VKSHTh ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Lê Công T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Công T từ 9 đến 12 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 27/7/2024, tại tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Công T đã có hành vi trộm cắp của bà Nguyễn Thị D 3.000.000 đồng và 02 chiếc nhẫn vàng 24k trị giá 14.000.000 đồng; tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng chẵn). Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 67/CT-VKSHTh ngày 24/10/2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại với tổng giá trị là 17.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Công T có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt tù về hành vi “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Công T cùng gia đình đã bồi thường theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị D, tổng số tiền là 18.060.000 đồng, bà D đã nhận đủ số tiền trên nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp, không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tiếp tục lưu giữ 01 USB hiệu Kingston trong hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Công T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt: Bị cáo Lê Công T 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 09/8/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Công T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế
  • - VKSND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Công T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger