TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 22-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Thẩm phán: Ông Bùi Trọng Danh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hùng
Bà Hà Thị Minh Phượng
Ông Đặng Công Thắng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Lựu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2024, tại hội trường Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng mở phiên toà để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2024/TLHS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
ĐẶNG QUANG V, sinh ngày 28/12/1990 tại Đà Nẵng; HKTT: Tổ H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: 4 đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: LĐPT; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Văn H và bà Trương Thị S (đều còn sống); Có vợ là Dương Thị Bích N (đã ly hôn) và có 01 con (sinh năm 2015);
Tiền án: Ngày 16/8/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ra trại ngày 23/4/2018 (Chưa được xóa án tích theo luật định).
Tiền sự:
Ngày 30/9/2021 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 (mười lăm) tháng. Chấp hành xong ngày 02/11/2022.
Về nhân thân:
- Ngày 04/9/2020 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 (mười hai) tháng. Chấp hành xong ngày 10/5/2021.
- Ngày 15/9/2023 bị Công an quận T, thành phố Đà Nẵng ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm ngàn đồng). (QĐ số: 119/QĐ-XPHC ngày 15/9/2023).
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/8/2023, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quang V - Luật sư Bùi Xuân N1 Đoàn Luật sư thành phố Đ theo yêu cầu của Tòa án. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Đoàn Ngọc Á, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Tổ A phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Ông Dương Văn Đ, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ E phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Tổ 03 phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Bà Trương Thị S, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Tổ H phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 21 giờ 00 ngày 25/8/2023, Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận T, thành phố Đà Nẵng kiểm tra hành chính nhà số K đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, phát hiện tại vị trí gác lững có 01(một) hộp kim loại màu xanh bên trong chứa 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy thuốc lắc; 13 (mười ba) gói ma túy loại khay; 01(một) gói ma túy đá; 03 (ba) gói ma túy dạng bột có chữ “Chali”; 07 (bảy) gói ma túy dạng bột có chữ “Cherryz”. Đặng Quang V khai nhận toàn bộ số ma túy trên là của V, nên Công an quận T, thành phố Đà Nẵng lập biên bản bắt người
phạm tội quả tang đối với Đặng Quang V về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy"
Tang vật chứng thu giữ gồm: 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy thuốc lắc; 13 (mười ba) gói ma túy loại khay; 01(một) gói ma túy đá; 03 (ba) gói ma túy dạng bột có chữ “Chali”; 07 (bảy) gói ma túy dạng bột có chữ “Cherryz”; 01(một) cân điện tử màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng để phân chia ma túy; 01(một) hộp kim loại màu xanh có chữ Trung Quốc (để cất giấu ma túy) và 01(một) điện thoại di động hiệu S1, màu đen, số sim 0905.687.286 của V (dùng để liên lạc mua bán ma túy);
Tại các Bản kết luận giám định số: 745/KL-KTHS ngày 31/8/2023 của Phòng KTHS Công an thành phố Đ; số 2432/KT-KTHS ngày 01/12/2023 và số 2522/KL-KTHS ngày 15/12/2023 của Phân viện KHHS - Bộ C1 tại thành phố Đà Nẵng có kết luận: Tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ tại nhà của V gồm 136,571 gam (loại Ketamine) và 74,136 gam gồm (loại Methamphetamine, MDMA).
Qua điều tra xác định: Đặng Quang V là đối tượng nghiện ma túy, V quen biết với T (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ngoài xã hội. Để có ma túy sử dụng V đồng ý nhận bán ma túy cho T. Cụ thể vào tối ngày 23/8/2023, T liên lạc qua mạng xã hội T1 cho V và nói có một thanh niên đem ma túy đến nhà V và dặn có người mua thì bán, V đồng ý. Khoảng 30 phút sau, có một thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà V tại số nhà K đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng đưa cho V 01(một) gói nilong chứa ma túy. V đem lên gác lửng kiểm tra thấy có ma túy gồm: 195 (một trăm chín mươi lăm) viên ma túy thuốc lắc; 13 (mười ba) gói ma túy loại khay; 01(một) gói ma túy đá; 03 (ba) gói ma túy dạng bột có chữ “Chali”; 07 (bảy) gói ma túy dạng bột có chữ “Cherryz”, V đã cất toàn bộ số ma túy trên vào hộp kim loại màu xanh để trên gác lửng. Khoảng 21 giờ ngày 24/8/2023, T liên lạc với V qua mạng xã hội Telegram bán ma túy cho 01(một) thanh niên (chưa xác định nhân thân, lai lịch) 01 (một) viên thuốc lắc, 01(một) gói ketamin giá 3.300.000₫ (Ba triệu, ba trăm ngàn đồng), V giao ma túy theo sự chỉ đạo của T (V không nhận tiền).
Lúc 19 giờ 30 phút ngày 25/8/2023, Đoàn Ngọc Á và Dương Văn Đ đến rủ V đi nhậu, Đ lên gác lửng tìm V nhưng không có V ở nhà, Đ thấy có sẵn ma túy trên sàn nên Đ tự ý lấy hút 03(ba) hơi rồi đi xuống chờ V về.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, V về nhà được một lúc thì Công an quận T, TP Đà Nẵng vào kiểm tra, phát hiện V cất giấu ma túy trên gác lửng nhằm mục đích mua bán. Tiến hành thử test ma túy đối với Đặng Quang V, Dương Văn Đ, Đoàn Ngọc Á cho kết quả dương tính với chất ma túy. Công an quận T, TP Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) mỗi người. Quá trình điều tra, Đặng Quang V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên .
Với nội dung trên: Tại Bản cáo trạng số: 84/CT-VKS-P1 ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đặng Quang V về tội
“Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bị cáo Đặng Quang V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng pháp luật. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để có ít thời gian học tập, cải tạo tốt sớm được đoàn tụ với gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đặng Quang V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy’ tại bản cáo trạng số 84/CT-VKS-P1 ngày 08/5/2024, trên cơ sở phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, qua đó đề nghị HĐXX:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Về hình phạt: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang V 20 (hai mươi) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 5 Điều 251 BLHS; Phạt tiền bổ sung bị cáo từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung vào Ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự xử lý như đã đề cập trong nội dung bản cáo trạng truy tố theo quy định của pháp luật.
- Luật sư Bùi Xuân N1 người bào chữa cho bị cáo Đặng Quang V có quan điểm luận cứ bào chữa như sau: Hoàn toàn thống nhất về tội danh, điểm, khoản, điều luật mà Cáo trạng Viện kiểm sát nhân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo Đặng Quang V là đúng pháp luật, nên không có tranh luận về tội danh. Tuy nhiên, luật sư đề nghị HĐXX khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như khai báo thàn khẩn, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con còn nhỏ (sau ly hôn), Do đó, Luật sư đồng tình với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa về việc áp dụng điểm s khoản 1, khoản khoản 2 Điều 51 BLHS để quyết định cho bị cáo mức hình phạt 20 (hai mươi) năm tù là phù hợp, nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật XHCN.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] [1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên (thuộc thành phố Đà nẵng) trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện VKS, luận cứ bào chữa của Luật sư, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định về các chất ma túy, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
[2.1] Lúc 21 giờ 00 phút ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại số nhà D đường L, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T, thành phố Đà Nẵng bắt quả tang Đặng Quang V có hành vi cất giấu 136,57 gam ma túy loại (Ketamine) và 74,136 gam ma túy loại (Methamphetamine, MDMA) nhằm mục đích bán cho các đối tượng nghiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng mà trước đó vào tối ngày 23/8/2023 do đối tượng tên T (không rõ nhân thân lai lịch), nhờ một thanh niên (cũng không rõ lai lịch) mang đến giao cho bị cáo cất giấu nhằm mục đích để bán giúp cho T, nhưng chưa bán hết thì bị bắt quả tang.
[2.2] Với hành vi tàng trữ các chất ma túy nêu tại tiểu mục [2,1] ở trên của bị cáo là đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét thấy khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi mua bán trên 100 gam gồm các chất ma túy loại (Ketamine, Methamphetamine, MDMA) là thuộc tình tiết định khung quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó; Cáo trạng số: 84/CT-VKS-P1 ngày 08/5/2024 của VKSND thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng; Bởi lẽ: Ma túy là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, vì vậy Nhà nước ta nghiêm cấm
mọi hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển...trái phép các chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào đều bị pháp luật trừng trị và xử lý tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra, bị cáo Đặng Quang V (là đối tượng nghiện ma túy) có đầy đủ nhận thức được tác hại của các chất ma túy, nhưng vì muốn có ma túy sử dụng cho nhu cầu của bản thân, nên bị cáo bất chấp sự trừng trị của pháp luật, lén lút thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng tương đối lớn 210,707gam (gồm 136,571 gam loại Ketamine và 74,136 gam loại Methamphetamine, MDMA); Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ, chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn quận T nói riêng và thành phố Đà Nẵng nói chung. Do vậy, việc các cơ quan tiến hành tố tụng, bắt điều tra, truy tố bị cáo ra trước pháp luật để xử lý trừng trị, răn đe giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Tại Bản án số: 61/2017/HSST ngày 09/6/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù, bị cáo đã chấp hành xong về hình phạt tù, về án phí. Tuy nhiên, đối với phần trách nhiệm dân sự bị cáo chưa thi hành án đối với số tiền 1.500.000đ (Một triệu, năm trăm ngàn đồng) mà Bản án buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Vì vậy, căn cứ vào Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về đương nhiên xóa án tích, thì bị cáo không thuộc trường hợp được đương nhiên xóa án tích theo Điều 70 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), do vậy lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS để áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con còn nhỏ (sau ly hôn), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS mà bị cáo được hưởng để xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt.
[5] Về quyết định hình phạt: Xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, số lượng ma túy bị cáo mua bán tương đối lớn, nhân thân bị cáo không tốt đã nhiều lần bị Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, lần phạm tội này là “Tái phạm”. Vì vậy, HĐXX thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài nhất định mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị
cáo và phòng ngừa chung cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa đại diện VKS nhân dân thành phố Đ đề nghị HĐXX áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước; HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện VKS là có căn cứ nên chấp nhận
[7] Xét luận cứ bào chữa và đề nghị của luật sư N1 người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt cho bị cáo là phù hợp với phần nhận định của HĐXX tại tiểu mục [4.2] và [5] như đã nêu trên nên chấp nhận.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý như sau:
- [8.1] Đối với: Các bì thư niêm phong (mẫu ma túy hoàn trả sau giám định) số 745/KL-KTHS, ngày 31/8/2023; số 2432/ KL-KTHS; số 2522/ KL-KTHS của Phòng KTHS - Công an thành phố Đ, Viện KHHS Bộ C1, 01 (một) cân điện tử màu trắng, 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) hộp kim loại màu xanh có chữ Trung Quốc và 01 (một) sim ĐT số 0905.687.xxx, xét thấy các vật chứng này không có giá trị sử dụng, nên tịch thu để tiêu hủy.
- [8.2] Đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 màu đen, đây là vật chứng bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[9] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
- [9.1] Đối với đối tượng tên “Tây” là người nhờ bị cáo bán ma túy và hai thanh niên là người giao và mua ma túy (đều chưa xác định được nhân thân, lai lịch) Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là có cơ sở, nên HĐXX không đề cập đến.
- [9.2] Đối với Dương Văn Đ, Đoàn Ngọc Á có mặt tại nhà V (khi bị lực lượng Công an bắt quả tang đối với V), tuy nhiên, việc Đ, Á có mặt tại nhà là rủ V đi nhậu, cả hai không biết V mua bán trái phép ma túy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, riêng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đ, Ánh Công an quận T, ra quyết định xử phạt hành chính là phù hợp, nên HĐXX cũng không đề cập đến
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
[10.1] Về án phí. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có liên quan có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Đặng Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy".
II. Về hình phạt;
2.1. Hình phạt chính: Căn cứ điểm h khoản 4 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Quang V: 20 (hai mươi) năm tù . Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, 25/8/2023.
2.2. Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 BLHS.
Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
III. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ Luật Tố tụng Hình sự
*Tuyên:
3.1. Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 04 (bốn) bì thư số 745/KL-KTHS, ngày 31/8/2023 (ký hiệu G1, G2, G3a, G4) của Phòng KTHS - Công an thành phố Đ, đã niêm phong (bên trong có ma túy đã giám định); 01 (một) bì thư số 2432/ KL-KTHS và 01 (một) bì thư số 2522/ KL-KTHS của V1- Bộ C1 đã niêm phong (bên trong có ma túy đã giám định), 01 (một) cân điện tử màu trắng, 01 (một) đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng; 01 (một) hộp kim loại màu xanh có chữ Trung Quốc và 01 (một) sim có ký hiệu : 8401-2002-3332-1381 (số I).
3.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 màu đen (không kiểm tra chất lượng bên trong của điện thoại) của bị cáo do sử dụng vào việc phạm tội.
Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án TP Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024..
IV. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
V. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhân được bản sao bản án, hoặc niêm uyết.
Nơi nhân: - VKSND TP. Đà Nẵng; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - Phòng HSNV- CATPĐN; - PC 47 - CQCSĐT CA TP. Đà Nẵng; - Cục THA dân sự Tp Đà Nẵng; - Sở tư pháp Tp Đà Nẵng; - Trại giam Hoà Sơn; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên toà Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 22/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Quang V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt 20 (hai mươi) năm
