Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày: 21/06/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Cao Việt Hoàng;

Thẩm phán: ông Nguyễn Hữu Hòa.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đinh Minh Hải, ông Đinh Văn Luận và bà Phạm Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: ông Đoàn Xuân Chanh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H2 sinh năm 1962; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Đỗ Thị L sinh năm 1987; có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: năm 2004 bị Công an quận C, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính 100.000 đồng về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị cáo đã chấp hành xong Quyết định xử phạt.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H (luật sư chỉ định): Luật sư Vũ Xuân C, Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

- Bị hại: bà Vương Thị N; sinh năm 1975; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn L1; sinh năm 1975; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  2. Ông Hoàng Đình D; sinh năm 1974; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
  3. Bà Nguyễn Thị Vân A; sinh năm 1982; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu Đ, phường T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  4. Ông Hoàng Quốc T; sinh năm 1974; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số nhà D, tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
  5. Bà Đặng Thị B; sinh năm 1975; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị Hồng S; sinh năm 1973; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố N, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
  7. Bà Nguyễn Thị B1; sinh năm 1966; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  8. Bà Nguyễn Thị Ngọc H3; sinh năm 1994; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên; có mặt.
  9. Anh Nguyễn Văn H4, sinh năm 1984; chỗ ở: Tổ G, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị L2; sinh năm 1970; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố H, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị T1; sinh năm 1970; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.
  3. Ông Vương Văn T2; sinh năm 1974; nơi đăng kí hộ khẩu thường trú và chỗ ở: thôn P, xã N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận nguồn tin tội phạm của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, tỉnh Bắc Ninh về việc: ngày 26 tháng 9 năm 2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T kiểm tra và phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 931245, số vào sổ cấp GCN: CS78596 mang tên Hoàng Đình D, sinh năm 1974, nơi thường trú: Đại Tự, T, T, Bắc Ninh nghi là giả.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh tiếp nhận đơn tố giác của chị Vương Thị N, sinh năm 1975, nơi thường trú và nơi ở: khu K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh tố giác Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định có hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N số tiền 632.900.000 đồng.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, Nguyễn Văn H, sinh năm 1982, nơi thường trú: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định xin đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản (tiền) của chị Vương Thị N và làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Hoàng Đình D.

Quá trình điều tra đã xác định được hành vi phạm tội của bị can như sau:

Nguyễn Văn H là lao động tự do, không có công ăn việc làm ổn định. Huỳnh thường truy cập vào các trang mạng xã hội, tìm những người tham gia trên mạng là phụ nữ để làm quen. Khoảng tháng 6 năm 2023, H vào mạng xã hội TikTok kết bạn, làm quen với chị Vương Thị N, sinh năm 1975, nơi thường trú và nơi ở: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Sau đó H và chị N kết bạn Z để nhắn tin, trò chuyện với nhau. Mục đích H kết bạn với chị N là để H đưa ra các thông tin gian dối, không có thật nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N. Cụ thể, H sinh năm 1982, làm nghề thợ xây tự do. Tuy nhiên H đã nói dối chị N là H sinh năm 1972, H là chuyên viên, đang làm việc tại Bộ T8, H có nhiều tiền, nhiều bất động sản, thường xuyên đi công tác ở các địa phương, có nhiều mối quan hệ và H có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho các gia đình có đất gặp khó khăn, vướng mắc chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Để chị N tin H làm việc tại Bộ T8, H vào mạng xã hội, truy cập vào các trang mục về quản lý, đăng ký đất đai, trình tự thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tìm hiểu các từ ngữ chuyên môn về lĩnh vực này. Khi nhắn tin, nói chuyện với chị N thì H thường xuyên nói về các từ ngữ chuyên môn về quản lý, đăng ý đất đai. Huỳnh đến cổng trụ sở Bộ T8, địa chỉ ở đường T, phường M, quận N, thành phố Hà Nội trụ sở Bộ T8, chụp ảnh rồi nhắn tin qua mạng Zalo, gửi cho chị N vị trí trụ sở Bộ T8, nói dối chị N là H đang sinh sống và có nhà tại Hà Nội.

Trước các thông tin mà H đưa ra, chị N đã tin H là chuyên viên, làm việc tại Bộ T8 thật nên chị N đã nhiều lần nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chị N và một số gia đình khác, nhờ Huỳnh đo đất, xác định ranh giới đất. Mặc dù không có chức năng, thẩm quyền, nhiệm vụ gì trong việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có chuyên môn về đo đạc, xác định ranh giới đất nhưng vì mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N nên H đã nói dối chị N là H làm được với điều kiện chị N phải trả tiền cho H, yêu cầu chị N phải giao trước cho H một khoản tiền từ đó H chiếm đoạt tiền của chị N. Huỳnh còn đưa ra các thông tin gian dối với chị N là H có đất bán, đưa ra các thông tin gian dối để vay tiền của chị N và nhờ chị N mua đồ dùng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N bằng hình thức bán đất, vay tiền, nhờ mua đồ dùng. Do tin H là chuyên viên Bộ T8 thật nên chị N đã nhiều lần giao tiền cho H để nhờ H làm thủ tục tách, nhập các thửa đất, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc và xác định ranh giới đất, mua đất, cho vay, mua hộ đồ dùng và bị H chiếm đoạt. Quá trình nhận giúp chị N làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Hoàng Đình D thì H đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của anh D và giao cho chị N.

Cụ thể hành vi phạm tội của Nguyễn Văn H như sau:

  1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Vương Thị N 28 triệu đồng thông qua việc nhận làm thủ tục nhập 03 thửa đất của vợ chồng chị N với thửa đất của anh Hoàng Quốc T, sinh năm 1974, nơi ở: số nhà D, tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội sau đó tách làm 2 thửa.

    Chị N nói với H là vợ chồng chị N có 03 thửa đất tại khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh trong đó hai thửa đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 01 thửa đất mang tên chị N (thửa đất này còn bỏ trống chưa xây dựng gì), 01 thửa đất mang tên anh Nguyễn Văn L1 là chồng chị N (thửa đất này đã xây nhà và gia đình chị N đang ở) 01 thửa đất diện tích 50 m², giáp ranh với thửa đất mang tên anh L1, thửa đất này chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra chị N còn nói với H, năm 2011 chị N bán 01 thửa đất ở khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh cho anh Hoàng Quốc T sinh năm 1974 ở số nhà D, tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội, thửa đất này đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Hoàng Quốc T. Do thông tin thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T không đúng với thực tế đất nên chị N đã nhờ H làm thủ tục gộp 03 thửa đất của vợ chồng chị N với thửa đất của anh T làm thành 01 thửa. Sau đó tách thành 02 thửa mới, 01 thửa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị N và 01 thửa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh T. Huỳnh nói dối chị N là H làm được và đặt điều kiện là chị N phải chi cho H 28 triệu đồng, H đưa ra những thông tin gian dối về các khoản chi gồm: 05 triệu tiền đổi tên sổ đỏ từ chồng chị N sang tên chị N; 03 triệu tiền gộp 04 thửa đất thành 01 thửa mới; 05 triệu tiền tách thửa mới thành 02 thửa mang tên chị N và tên anh T; 10 triệu tiền làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 04 triệu chỉ để lấy sổ đỏ nhanh; 01 triệu bồi dưỡng cho cán bộ làm sổ đỏ. H bảo chị N cung cấp cho H các giấy tờ liên quan đến các thửa đất và Căn cước công dân của chị N, anh L1, anh T. Chị N đã giao cho H các giấy tờ sau: bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vương Thị N, bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Văn L1, bản gốc giấy mua bán 50m² đất giữa anh L1, chị N với thôn K (nay là khu phố K), phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, bản gốc Căn cước công dân của Vương Thị N, bản phô tô CCCD của Nguyễn Văn L1.

    Để chị N tin là H sẽ làm thủ tục tách, nhập thửa các đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như chị N nhờ, H đã vào mạng tìm hiểu thì biết ông H2 giữ chức Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, ông T3 giữ chức Cục trưởng Cục thuế tỉnh B. Huỳnh nhắn tin cho chị N nói dối chị N là H đã gọi điện thoại cho ông H2 để tác động giúp nhập, tách thửa và làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã liên hệ với ông T3 để tác động giúp việc nộp tiền thuế. Ngày 27 tháng 9 năm 2023 Huỳnh đến các thửa đất của vợ chồng chị N và anh T, dùng thước dây đo đạc các thửa đất, dùng máy điện thoại di động của Huỳnh chụp ảnh các thửa đất, H nói dối chị N là số liệu H vừa đo đạc đã được truyền về Bộ T8. Huỳnh yêu cầu chị N phải giao trước cho H 28 triệu để Huỳnh lấy kinh phí đi làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tin lời Huỳnh nói là thật, chị N đã giao cho H 28 triệu đồng, cụ thể như sau:

    Ngày 19/7/2023, chị N giao cho H 13 triệu đồng tiền mặt, địa điểm giao tại khu công nghiệp K, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Ngày 24/7/2023, chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của chị N chuyển khoản 10 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của Nguyễn Văn H.

    Ngày 17/8/2023 chị N giao cho H 05 triệu đồng tiền mặt địa điểm giao tại gần trường M1 thuộc địa bàn xã X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. (Các lần giao tiền mặt chị N đều không yêu cầu Huỳnh viết giấy biên nhận).

    Sau khi nhận được tiền của chị N, H không làm bất cứ việc gì, không liên hệ với ai để làm thủ tục tách, nhập thửa các đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị N mà chiếm đoạt toàn bộ số tiền chị N đã giao, sử dụng vào mục đích cá nhân.

    Trong số các giấy tờ, tài liệu chị N đã giao cho H thì đến nay H mới trả chị N bản gốc Căn cước công dân của chị N. Các giấy tờ còn lại H khai để vào ba lô của H và mang về nơi H đến làm thợ xây tại phòng trọ, địa chỉ: phường N, Đ, thành phố Hải Phòng. Cơ quan điều tra đã khám xét, thu giữ chiếc ba lô của H và xác định trong ba lô của H các loại giấy tờ đều là bản phô tô, không có bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh L1, chị N1 và giấy mua bán đất. H khai đã làm thất lạc các loại giấy tờ gốc, không rõ thất lạc ở đâu, từ khi nào.

    Sau khi chị N nhờ H làm thủ tục gộp và tách các thửa đất của gia đình chị N và anh T, chị N có nói chuyện với mọi người về việc này. Một số người thân, bạn bè của chị N cũng gặp khó khăn trong việc làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã bảo chị N nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ. Chị N đặt vấn đề nhờ H. Mặc dù không có chức năng, thẩm quyền trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi được N nhờ, H đã nói dối chị N là H làm được, với điều kiện phải chi tiền cho H. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã giao tiền cho H để nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quền sử dụng đất cho một số người và bị H chiếm đoạt, cụ thể của những người sau:

  2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị Vương Thị N 23 triệu đồng thông qua việc nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất cho gia đình chị Nguyễn Thị L2; sinh năm 1970; nơi thường trú: khu H, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Chị Nguyễn Thị L2 và chồng là anh Nguyễn Phú S1, sinh năm 1971 (là anh trai ruột của anh Nguyễn Văn L1, chồng chị N), có 01 thửa đất diện tích 76 m² tại khu H, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc thửa đất do gia đình anh S1 mua từ năm 1990 nhưng đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị L2 bảo chị N nhờ H làm giúp. Chị N đặt vấn đề nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền dụng đất cho gia đình chị L2. H đồng ý và nói dối chị N là H làm được, với điều kiện phải chi tiền cho H là 36.500.000 đồng. Huỳnh đưa ra những thông tin gian dối về các khoản chi sau: 30 triệu chi phí làm sổ đỏ; 4,5 triệu tiền thuế; 2 triệu tiền dịch vụ làm sổ đỏ nhanh. Huỳnh yêu cầu chị N phải giao trước cho H 23 triệu đồng. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã dùng tiền của mình giao trước cho H 23 triệu đồng và bị H chiếm đoạt, cụ thể các lần chị N giao tiền cho H như sau:

    Ngày 19/7/2023 chị N giao cho H 20 triệu đồng tiền mặt, địa điểm giao tiền tại khu công nghiệp K, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Ngày 24/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển khoản cho H 01 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    Ngày 17/8/2023 chị N giao cho H 02 triệu đồng tiền mặt, địa điểm giao tại khu vực gần trường M1 thuộc địa bàn xã X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Để chị N tin là H đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chị L2. H bảo chị N chụp ảnh Căn cước công dân của chị L2, anh S1 gửi qua Zalo cho H. Ngày 27/9/2023, H đến thửa đất của chị L2, dùng thước dây đo dạc, dùng điện thoại di động chụp ảnh thửa đất. Sau khi nhận tiền của chị N, H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân, không làm bất cứ việc gì, không liên hệ với bất cứ ai để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị L2.

  3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 12 triệu đồng thông qua việc nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình chị Nguyễn Thị T1; sinh năm 1970; nơi thường trú: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

    Chị Nguyễn Thị T1, chồng là anh Nguyễn Phú A1, sinh năm 1968 (là anh trai của chồng chị N) có 01 thửa đất diện tích 195 m² tại khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc thửa đất là do vợ chồng chị T1 mua từ năm 2001 của anh Nguyễn Văn T4 sinh năm 1974, hộ khẩu thường trú: khu phố K, phường N, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Thửa đất này đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đến nay chị T1 vẫn chưa làm thủ tục sang tên chị T1 được. Chị T1 bảo chị N nhờ H làm giúp. Chị N đặt vấn đề nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T1. Huỳnh nói dối chị N là H làm được, với điều kiện phải chi tiền cho H là 12 đồng, H đưa ra những thông tin gian dối về các khoản chi sau: 10 triệu làm sổ đỏ; 2 triệu tiền dịch vụ làm sổ đỏ nhanh. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã dùng tiền của mình, giao cho H 12 triệu đồng và bị H chiếm đoạt như sau:

    Ngày 22/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển khoản cho H 09 triệu đồng (1 lần chuyển 05 triệu và 1 lần 04 triệu) đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    Ngày 17/8/2023 chị N giao cho H 03 triệu đồng tiền mặt, địa điểm giao tại gần với trường Đại học M1 thuộc địa bàn phường X, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh, khi giao tiền không viết biên nhận.

    Để chị N tin là H đang làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T1. H bảo chị N giao cho Huỳnh bản phô tô: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy mua bán đất, căn cước công dân của anh Nguyễn Phú A1. Ngày 27/9/2023, H đến thửa đất của chị T1, dùng thước dây đo thửa đất và dùng điện thoại di động của Huỳnh chụp ảnh thửa đất. Sau khi nhận tiền của chị N, H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân, không làm bất cứ việc gì, không liên hệ với bất cứ cơ quan nào để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị T1.

  4. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 42 triệu đồng thông qua việc nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Vương Văn T5, sinh năm 1974, nơi thường trú: P, N, T, Bắc Ninh.

    Anh Vương Văn T5 là anh ruột chị N có 01 thửa đất tại P, N, T, Bắc Ninh. Nguồn gốc đất là do bố mẹ đẻ anh T5 cho anh T5 nhưng nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh T5 nhờ chị N bảo H làm giúp. Chị N đặt vấn đề nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất này cho anh T5. Huỳnh nói dối chị N là làm được, với điều kiện phải chi cho H 44 triệu đồng, H đưa ra những thông tin gian dối về các khoản chi để làm sổ đỏ cho anh T5 như: 22 triệu tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đất; 17 triệu tiền tách thửa; 03 triệu tiền lệ phí phát sinh; 2 triệu tiền dịch vụ làm sổ đỏ nhanh. Huỳnh yêu cầu chị N giao trước cho H 42 triệu đồng. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã dùng tiền của mình, giao cho H 42 triệu đồng, cụ thể như sau:

    Ngày 03/8/2023 và ngày 01/9/2023, chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển khoản 25 triệu đồng17 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    H bảo chị N chụp ảnh Căn cước công dân của anh T5, sổ đỏ thửa đất anh T5 đang xây nhà ở gửi qua Z cho H. Để chị N tin là H đang làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T5, ngày 27/9/2023 H đến thửa đất của anh T5 dùng thước dây đo đạc, dùng điện thoại di động của Huỳnh chụp ảnh thửa đất.

    Sau khi nhận tiền của chị N, H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân, không làm bất cứ việc gì, không liên hệ với bất cứ ai để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T5.

  5. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 1,6 triệu đồng thông qua việc nhận đo đạc xác định ranh giới thửa đất của gia đình chị N và gia đình các hộ: Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1974, nơi thường trú: N, N, T, Bắc Ninh; Đặng Thị B sinh năm 1975; Nguyễn Thị B1 sinh năm 1963 cùng ở: khu phố K, N, T, Bắc Ninh.

    Khoảng năm 2000, chị N cùng các chị: Đặng Thị B, Nguyễn Thị B1, Nguyễn Thị Hồng S cùng mua đất ao ở thôn K (nay là khu phố K), N, T, Bắc Ninh. Sau đó các chị làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng người. Tại thời điểm các chị mua đất thì hiện trạng vẫn là ao nước nên kết quả đo đạc không được chính xác do vậy cả 4 người đều có nhu cầu đo lại để xác định ranh giới đất. Chị N đặt vấn đề nhờ H đo đạc, xác định ranh giới đất cho 4 gia đình. Mặc dù không có chức năng, không có kỹ thuật trong việc đo đất, xác định ranh giới các thửa đất nhưng khi chị N nhờ, H đã nói dối chị N là Huỳnh đo được với điều kiện mỗi gia đình phải chi cho H 400.000 đồng. Chị N nói với chị S, chị B, chị B1, mọi người đồng ý và mỗi người đã đưa cho chị N 400.000 đồng. Ngày 16/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển khoản 1,6 triệu đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    Mặc dù đã nhận tiền của chị N nhưng H chưa đo đạc các thửa đất, khi chị N hỏi thì H nói dối chị N là khi nào làm xong các thủ tục nhập 03 thửa đất của vợ chồng chị N với thửa đất của anh T4 thì H mới về đo, xác định ranh giới 04 thửa đất trên.

    Sau khi H bị Cơ quan điều tra khởi tố, tạm giam về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chị N đã nói với các chị: B, B1, S là bị H lừa đảo và chị N đã bỏ tiền của mình ra và trả lại chị B, B1, S mỗi người 400.000 đồng.

  6. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 29,3 triệu đồng thông qua việc nhận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình anh Hoàng Đình D, sinh năm 1974 vợ là chị Nguyễn Thị Vân A sinh năm 1982, nơi thường trú: Đại Tự, Thanh K, T, Bắc Ninh và hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất của gia đình anh D.

    Anh Hoàng Đình D và vợ là chị Nguyễn Thị Vân A có 01 thửa đất diện tích 377 m² tại Đ, T, T, Bắc Ninh. Nguồn gốc thửa đất do vợ chồng anh D mua khoảng năm 2002, thuộc đất giãn dân, đến nay vẫn chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình từ khi mua đất đến nay vợ chồng anh D mua thêm một phần đất liền kề nữa nhưng chưa đo đạc nên chưa xác định được chính xác diện tích và phần đất này cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thông qua mối quan hệ quen biết với anh Hoàng Đình N2, sinh năm 1969 (là anh trai của anh D), chị N biết anh D gặp khó khăn trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên. Chị N đã liên hệ với anh D, nói với anh D là chị N có người quen làm ở Bộ T8 có thể giúp làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D. Anh D đồng ý nhờ chị N và chị N đặt vấn đề nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D. Khi chị N đặt vấn đề nhờ, H đã nói dối chị N là H làm được sổ đỏ cho anh D với điều kiện phải chi cho H 77 triệu đồng, H đưa ra những thông tin gian dối về các khoản chi để làm sổ đỏ cho anh D là: 30 triệu làm sổ đỏ; 30 triệu đồng tiền làm đất thừa; 05 triệu đồng tiền chuyển đổi đất; 12 triệu đồng tiền thuế đất. Huỳnh yêu cầu N phải giao trước cho H 29.3 triệu đồng để H lấy tiền chi phí làm sổ đỏ. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã dùng tiền của mình, giao cho H 29.3 triệu đồng, cụ thể như sau:

    Ngày 26/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của chị N chuyển khoản 12 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    Để chị N tin là H đang tiến hành làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D, ngày 26/7/2023 H bảo chị N đưa H đến thửa đất nhà anh D để đo đạc thửa đất, khi đo đất thì anh D không có nhà, chỉ có chị Vân A ở nhà. Do là thợ xây nên H cũng biết đo diện tích qua đó H xác định thửa đất nhà anh D là 445 m², H có nói với chị Vân A và chị N diện tích của thửa đất là 445 m². Sau khi đo đất thì H bảo chị N là sẽ cố gắng làm sổ đỏ cho anh D trong thời gian nhanh nhất và H bảo chị N giao cho H 2.300.000 đồng để H lấy chi phí làm sổ đỏ cho anh D. Ngày 27/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của chị N chuyển khoản 2.300.000 đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

    Đến tháng 9/2023 thấy H vẫn chưa làm được sổ đỏ cho anh D nên chị N thúc giục H phải làm sổ đỏ cho anh D. Để tránh việc chị N nghi ngờ H lừa đảo, H đã làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nhà anh D. Cụ thể hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Huỳnh như sau:

    Khoảng đầu tháng 9 năm 2023, H sử dụng tài khoản Facebook của H có tên “Thương HY”, truy cập vào mạng Facebook để tìm kiếm tài khoản Facebook làm giấy tờ giả. Huỳnh thấy tài khoản Facebook có tên “Tư vấn làm bằng cấp” đăng tin quảng cáo làm giả các loại giấy tờ. Huỳnh nhắn tin với tài khoản này để hỏi về giá làm Sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) giả, tài khoản Facebook này trả lời Huỳnh giá làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả là 12 triệu đồng. Huỳnh gửi số điện thoại đăng ký tài khoản Zalo của H để tài khoản Facebook này liên hệ với Huỳnh qua Z. Ngay sau đó H thấy tài khoản Zalo có tên “Văn phòng công chứng” nhắn tin Zalo liên lạc với H. Tài khoản Z làm giả giấy tờ này yêu cầu H chụp ảnh, gửi qua Zalo giấy tờ mua bán đất, hồ sơ kỹ thuật thửa đất, căn cước công dân của chủ đất đồng thời hẹn với H trong thời hạn từ 03 đến 19 ngày sẽ làm xong sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) cho H. Việc thoả thuận làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thì H không gặp trực tiếp đối tượng làm giả mà chỉ liên lạc qua Zalo. Vì vậy H không biết đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ai, ở đâu.

    H liên lạc với chị N, bảo chị N chụp ảnh, gửi qua Zalo các giấy tờ liên quan đến thửa đất của anh D (Giấy tờ mua bán đất, hồ sơ kỹ thuật thửa đất), Căn cước công dân của anh D cho H. Chị N liên hệ với anh D và anh D đã giao các loại giấy tờ trên cho chị N và chị N đã chụp ảnh, gửi qua Z cho H. Sau đó H gửi qua Zalo hình ảnh các tài liệu, giấy tờ liên quan đến thửa đất của anh D và Căn cước công dân của anh D đến tài khoản Zalo tên “Văn phòng công chứng” của đối tượng làm giả giấy tờ, tài liệu để đối tượng này là giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh D cho H.

    Do trong giấy tờ thửa đất nhà anh D thể hiện diện tích thửa đất là 377 m² trong khi Huỳnh đo thì diện tích là 445 m² và H đã thông báo diện tích Huỳnh đo được cho vợ anh D và chị N nên anh D yêu cầu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 445 m². Khi thuê làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì tôi quên không bảo đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích đã đo là 445 m², vì vậy đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã làm giả theo diện tích 377 m². Khoảng 08h ngày 16/9/2023 đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên lạc với Huỳnh qua Zalo, thông báo cho H biết đã làm xong và hẹn Huỳnh đến cổng chính Bệnh viện N3, địa chỉ: T, T, Hà Nội để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Khoảng 09h cùng ngày, H đến cổng Bệnh viện, liên lạc qua Z và gặp 01 người nam giới khoảng 40 tuổi (người này đeo khẩu trang nên H không nhận diện được khuôn mặt), H không biết người này là ai, ở đâu, không biết tên tuổi địa chỉ, phương tiện đi đến bằng gì. Người nam giới này đưa cho H 01 túi ClearBag bên trong có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên anh Hoàng Đình D, Huỳnh nhận và giao cho người này 12 triệu đồng để trả tiền Huỳnh đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả.

    Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, H gọi điện thoại cho chị N, thông báo là đã làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh D và hẹn chị N khoảng 14 giờ (ngày 16/9/2023) đến cổng Trung tâm Y tế T10, Bắc Ninh để nhận. Do đang cần tiền để tiêu nên H bảo chị N khi nhận được sổ đỏ (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì chị N đưa 05 triệu đồng cho người giao sổ đỏ. Khi này H thuê người đàn ông khoảng 50 tuổi là lái xe ôm ở khu vực cổng Bệnh viện N3 (người này đeo khẩu trang nên H không nhận diện được khuôn mặt, H không biết tên, địa chỉ người này, không nhớ biển số xe) với giá 300.000 đồng, đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà H làm giả về Trung tâm Y tế T10, Bắc Ninh giao cho chị N. Huỳnh cung cấp số điện thoại của chị N để người xe ôm liên hệ, giao túi giấy tờ bên trong có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho chị N. Khi nhận, chị N đã giao cho người lái xe ôm số tiền 05 triệu đồng. Người xe ôm hẹn H đến cổng Bệnh viện N3 và giao trả H số tiền 05 triệu đồng.

    Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Huỳnh giao, chị N đem về giao cho anh Hoàng Đình D, anh D kiểm tra thì thấy trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích đất là 377 m² nên anh D trả lại cho chị N, yêu cầu phải làm theo diện tích 445 m². Chị N gọi điện thoại cho H, thông báo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi sai diện tích đất và yêu cầu Huỳnh sửa lại diện tích là 445 m². H bảo chị N giữ lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai diện tích để H làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác diện tích đúng thì đổi sau.

    Huỳnh nhắn tin Z cho đối tượng làm giả tài liệu, thông báo là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị sai diện tích, yêu cầu người này làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác ghi diện tích là 445 m². Đến ngày 20/9/2023 tài khoản Zalo của đối tượng làm giả tài liệu thông báo cho H biết đã làm lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi diện tích 445 m² và chụp ảnh gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mới qua Zalo cho H. Huỳnh gửi qua Zalo hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho N đồng thời thông báo H đã làm xong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới và sẽ mang về giao cho chị N sau. Buổi chiều 24/9/2023 đối tượng làm giả tài liệu nhắn tin qua Zalo hẹn Huỳnh đến cổng Bệnh viện N3 để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Khoảng 15 giờ cùng ngày H đến cổng Bệnh viện, liên lạc qua Z và gặp 01 người nam giới khoảng 40 tuổi (người này đeo khẩu trang nên H không nhận diện được, H không biết người này là ai, ở đâu, không biết phương tiện người này đến bằng gì). Người nam giới này đưa cho H 01 túi ClearBag bên trong có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên anh Hoàng Đình D. Mặc dù phải làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả 02 lần nhưng do Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả lần trước ghi không đúng diện tích nên Huỳnh chỉ phải trả tiền làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01 lần là 12 triệu đồng mà H đã trả ở lần nhận trước đó còn lần nhận sau H không phải trả tiền cho đối tượng làm giả tài liệu.

    Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, khoảng 17 giờ ngày 24/9/2023, H mang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến thuê phòng 302, nhà nghỉ B2 ở khu đô thị B, X, T, T, Bắc Ninh. H gọi điện thoại cho chị N, nói dối chị N là H đi công tác ở Bắc Ninh và đang ở nhà nghỉ. Huỳnh hẹn chị N đến địa chỉ H đang ở để H giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới cho N. Khoảng 17 giờ cùng ngày chị N đi xe máy đến địa chỉ trên, trả lại cho Huỳnh G chứng nhận quyền sử dụng đất cũ (ghi diện tích 377 m²) và Huỳnh giao cho Nguyệt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới (ghi diện tích đất 445 m²) H bảo chị N là mang về giao cho anh D và bảo chị N chuyển thêm cho H 10 triệu đồng. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả ghi diện tích 377 m², H khai sau khi N về H mang ra đường rồi đốt vì vậy không còn.

    Khoảng 13 giờ ngày 25/9/2023, chưa thấy chị N chuyển tiền nên H gọi điện thoại bảo chị N chuyển 10 triệu đồng và chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của mình chuyển 10 triệu đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của Huỳnh

    Sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh D, ngày 25/9/2023 chị N mang giao cho vợ chồng anh D. Theo thoả thuận từ trước giữa anh D và chị N là sau khi nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì anh D đem đến Văn phòng Đ để kiểm tra, nếu đúng là thật thì anh D mới phải trả tiền cho chị N. Ngày 26/9/2023, vợ chồng anh D mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T để kiểm tra thì phát hiện đó là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T đã thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đã tiến hành lập biên bản làm việc với vợ chồng anh D và chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T, thu giữ, niêm phong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số CY 913245 mang tên anh Hoàng Đình D, địa chỉ: Đ, T, T, Bắc Ninh mà anh D mang đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã T để kiểm tra.

    Ngày 29/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định trưng cầu giám định số 311, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh B giám định Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số CY 913245 mang tên anh Hoàng Đình D.

    Tại Bản kết luận giám định số 2021/KL-KTHS, ngày 29/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận:

    “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số CY 913245 đối với thửa đất số 276, tờ bản đồ số 7, diện tích 445 m² mang tên anh Hoàng Đình D, địa chỉ: thôn Đ, T, T, Bắc Ninh là giả”

Tổng cộng chị N đã giao cho H số tiền là 135.900.000 đồng để nhờ H làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đo đạc xác định ranh giới đất. Toàn bộ số tiền trên H đã chiếm đoạt và chi tiêu cá nhân hết, không làm bất cứ việc gì, không liên hệ với ai để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị N và các hộ gia đình mà chị N nhờ H, không đo đạc, xác định ranh giới đất cho chị N và các hộ gia đình đã nhờ H.

* Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 500 triệu đồng thông qua việc mua bán lô đất số 70 tờ bản đồ số 24 diện tích 75 m² địa chỉ đất tại khu chợ đầu mối D, T, T, Bắc Ninh.

Trong quá trình quen chị N, qua nói chuyện với chị N thì H biết con gái chị N là Nguyễn Thị Ngọc H3, sinh năm 1994, lấy chồng ở V, Hưng Yên. H3 và làm dịch vụ Spa chăm sóc sắc đẹp còn con trai chị N lao động tự do và biết H3 có nhu cầu mua đất để mở quán chăm sóc sắc đẹp. Vì vậy H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N thông qua việc mua bán đất. Để có thông tin thửa đất lừa bán cho N, khoảng giữa tháng 7/2023, H vào mạng, tìm kiếm thông tin các thửa đất đang được rao bán công khai trên địa bàn thị xã T, Bắc Ninh. Qua tìm kiếm, Huỳnh biết có người đang rao bán thửa đất ở chợ đầu mối D, T, T, Bắc Ninh với giá 1,5 tỷ đồng. Để có thêm thông tin thửa đất, đề phòng khi chị N hỏi thì H còn biết trả lời tránh bị chị N phát hiện là H không có đất bán. H đã giả là người mua đất đi hỏi người dân xung quanh khu vực chợ D2 thì biết chủ thửa đất này dựng ki ốt và cho người khác thuê để kinh doanh sữa, bỉm, quần áo trẻ em. Sau khi có được thông tin thửa đất này, H bảo chị N sáng ngày 26/7/2023 đưa H về nhà anh D để đo đất, sau khi đo đất xong H nói dối chị N là xe ô tô cơ quan đang đợi ở trường đại học M1 thuộc X, T, Bắc Ninh. H bảo chị N chở H ra trường M1 để H đi xe ô tô của cơ quan về Hà Nội. Khi chị N chở H đến chợ đầu mối Dâu thuộc Phương Q, T, T, Huỳnh bảo chị N rẽ vào chợ và Huỳnh chỉ vào một lô đất đã xây K1 đang bán bỉm, sữa, quần áo trẻ em nằm ở vị trí đầu tiên bên phải lối đi vào cổng chợ. Mặc dù lô đất này thuộc sở hữu của người khác, H không biết chủ đất là ai nhưng H nói dối chị N đó là đất của H. Để chứng minh là có đất, H đã chụp ảnh thửa đất, vị trí thửa đất gửi qua Zalo cho chị N. Sau đó vài ngày, H nhắn tin nói với N là H ưu tiên bán thửa đất này cho H3 (con gái chị N). H bảo chị N nếu đồng ý mua đất cho H3 thì H ưu tiên, chỉ phải trả trước cho H 650 triệu đồng, gồm 500 triệu tiền đặt cọc mua đất, 150 triệu tiền sang tên sổ đỏ, giấy phép xây dựng, số tiền còn lại H cho nợ đến năm 2024 mới phải trả. Chị N tin tưởng thửa đất trên là của Huỳnh nên đã đồng ý mua với giá 1,5 tỷ đồng, Chị N nói với H3 thì H3 chuyển cho chị N 500 triệu đồng và chị N đã giao cho H 500 triệu đồng, cụ thể các lần chị N giao tiền cho H như sau:

Chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của mình chuyển khoản 07 lần, tổng số là 300 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H vào các ngày: 29; 30; 31 tháng 7 năm 2023, ngày 01, 24, 29 tháng 8 năm 2023 và ngày 04/9/2023.

Ngày 18/9/2023 chị N giao cho H 200 triệu đồng tại quán cà phê có tên là “T6” thuộc Đại Tự, T, T, Bắc Ninh, khi giao tiền không viết biên nhận tiền.

Sau khi nhận của chị N 500 triệu đồng, H nói dối chị N là H sẽ làm sổ đỏ mang tên H3. Khi nào làm xong sổ đỏ và xong giấy phép xây dựng H mang sổ đỏ và giấy phép xây dựng cho chị N thì chị N phải trả tiếp 150 triệu đồng cho H, số tiền còn lại trong năm 2024 giao nốt cho H làm 2 lần. Ngày 25/9/2023 khi Huỳnh hẹn chị N đến nhà nghỉ B2 nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh D thì H nói dối chị N là khoảng 1 tuần nữa sẽ giao sổ đỏ của H3 cùng với sổ đỏ của chị N, anh T4, chị T1, chị L2, anh T5 một thể.

* Hành vi chiếm đoạt của chị N 39 triệu đồng qua việc vay tiền:

  • Ngày 27/7/2023, H gọi điện thoại, nói dối chị N là H được cơ quan cử dẫn đoàn khách người Pháp đi nghỉ mát ở H, Quảng Ninh, Huỳnh thiếu 10 triệu đồng tiền thanh toán ăn uống, ngủ nghỉ cho đoàn, Huỳnh hỏi vay chị N 10 triệu. Do tin lời Huỳnh nói là nói thật, ngày 27/7/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 của mình chuyển khoản 10 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.
  • Ngày 20/8/2023 H gọi điện thoại, nói dối chị N là H đang đi công tác ở Quảng Bình, bị đau bụng, có u trong dạ dày cần nhập viện để cắt nội soi, Huỳnh hỏi vay chị N 10 triệu đồng. Tin lời Huỳnh nói là thật, ngày 20/8/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển 10 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H
  • Ngày 22/8/2023, H gọi điện thoại, nói dối chị N là Huỳnh vẫn phải nằm viện, cần tiền để chi phí nằm viện. Huỳnh hỏi vay chị N 06 triệu. Tin lời Huỳnh nói là thật, ngày 20/8/2023 chị N sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển 06 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.
  • Ngày 23/8/2023, H gọi điện thoại, nói dối chị N là H phải mời bạn H là bác sỹ Bệnh viện 108 vào Quảng Bình để mổ nội soi cho H, hỏi vay chị N 04 triệu để chi tiêu đón bạn. Tin lời Huỳnh nói thật, chị N đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển 04 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.
  • Ngày 14/9/2023, H gọi điện thoại, nói dối chị N là tài khoản ngân hàng của H bị khoá vẫn không mở được nên không có tiền để chi tiêu, Huỳnh hỏi vay chị N 03 triệu. Tin lời Huỳnh nói là thật, chị N đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển 03 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.
  • Ngày 21/9/2023, H gọi điện thoại nói dối chị N là sau khi phẫu thuật dạ dày cơ thể Huỳnh vẫn yếu, cần tiền để truyền dịch và thuốc men, hỏi vay tiền chị N. Tin lời Huỳnh nói là thật, chị N đã sử dụng tài khoản ngân hàng V số 0351001136363 chuyển 06 triệu đồng đến tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của H.

Khi hỏi vay tiền chị N, tuỳ từng lần mà Huỳnh bịa ra các lý do không có thật mục đích để chị N tin là thật mà cho H vay tiền từ đó H chiếm đoạt. Khi chị N đòi tiền thì H nói dối chị N là sẽ về cơ quan thanh toán tiền công tác phí, bảo hiểm để trả chị N hoặc H đã được xuất viện, về cơ quan đi làm nhưng cơ quan đang bị thanh tra nên các tài khoản ngân hàng của H tạm thời bị khoá, H chỉ có 01 tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 là được mở nhưng lại hết tiền. H nói N cứ cho vay tiền, đợi H làm sổ đỏ xong cho tất cả các nhà thì H sẽ trả hết các khoản vay tiền của tôi chị N.

* Hành vi lừa đảo chiếm đoạt của chị N 3.330.000 đồng qua việc nhờ chị N mua đồ dùng:

  • Khoảng đầu tháng 9/2023 H nói dối N là H phải mua gà mang về bếp ăn cơ quan để tổ chức cho đồng nghiệp ăn uống. H đã nhờ chị N 2 lần mua gà hộ Huỳnh. Lần thứ nhất Huỳnh nhờ chị N mua 02 con gà, nặng 06 kg, giá 120.000 đồng/1 kg tổng 06 kg là 720.000 đồng, lần thứ hai Huỳnh nhờ chị N mua hộ 01 con gà nặng 03 kg giá là 120.0000 đồng/1 kg, tổng là 360.000 đồng. Tổng tiền 02 lần chị N mua gà là 1.080.000 đồng (các lần mua gà H đều bảo chị N mổ sẵn).
  • Ngày 13/8/2023 âm lịch (là 27/9/2023 dương lịch) sau khi đo đất của gia đình chị N xong, H nói dối N là H phải mang gà về bếp ăn cơ quan để tổ chức cho đồng nghiệp ăn uống. H bảo chị N mua hộ 02 con gà nặng 07 kg với giá 150.000 đồng/1 kg tổng là 750.000 đồng. Ngoài ra Huỳnh còn nói dối chị N là H phải mua bánh Trung thu biếu các sếp. Huỳnh nhờ chị N mua 06 hộp bánh trung thu với tổng tiền là 1.200.000 đồng.

Tổng tiền gà, tiền bánh chị N đã bỏ ra mua là: 720.000 đồng + 360.000 đồng + 1.050.000 đồng + 1.200.2000 đồng = 3.330.000 đồng

Số đồ trên, H một mình sử dụng hết. Các lần nhờ chị N mua đồ H đưa ra các lý do để nói dối chị N, bảo chị N cứ ứng tiền ra, đợi H làm xong sổ đỏ cho tất cả các hộ gia đình thì H sẽ trả, mục đích là để H chiếm đoạt tài sản (tiền) của chị N, không trả tiền cho chị N.

Tổng số tiền Nguyễn Văn H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Vương Thị N là: 135.900.000 đồng + 500.000.000 đồng + 39.000.000 đồng 3.330.000 đồng = 678.230.000 đồng.

Số tiền 678.230.000 đồng chiếm đoạt của chị N, H khai đã sử dụng vào việc làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên anh Hoàng Đình D 12 triệu đồng, mua 01 đồng hồ treo tường 47 triệu đồng, mua 01 điện thoại SamSung 7.980.000 đồng, cho con trai H là Nguyễn Thành D1 tiền đóng học ba lần, tổng số là 3.200.000, một phần dùng để nạp tiền điện thoại của H, trả tiền điện sinh hoạt của gia đình H, số tiền còn lại Huỳnh chi tiêu cá nhân.

Hiện trong tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của Nguyễn Văn H còn số tiền là 7.498.879 đồng. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh phong toả số tiền này trong tài khoản Ngân hàng của H.

Tại Cơ quan điều tra (CQĐT) bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số 42/CT-VKS-P2 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng, không oan. Bị cáo khai do cần tiền tiêu xài nên đã nói dối chị N là Chuyên viên của Bộ T8 và Môi trường bị cáo có nhiều quan hệ có thể làm sổ đỏ cho chị N cũng như các hộ dân. Tuy nhiên, bị cáo không có chức năng và không thực hiện bất kỳ hoạt động nào với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chị N và các hộ dân. Bị cáo còn nói với chị N là có 01 mảnh đất cần bán tại khu chợ đầu mối D, T, T, Bắc Ninh nhằm chiếm đoạt chị N 500 triệu đồng. Ngoài ra bị cáo còn nhiều lần lừa chị N để vay tiền như tiền chữa bệnh, mua quà, đi lại, ăn uống...Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của chị N là 678.230.000 đồng. Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị N 400.000.000 đồng. Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và mong HĐXX xem xét khoan hồng cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.

Chị Vương Thị N trình bày nội dung vụ việc như Cáo trạng truy tố và lời khai của bị cáo. Bị cáo đã lừa chị nhiều lần với số tiền 678.230.000 đồng. Chị N xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị 400.000.000 đồng. Chị yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại cho chị 278.230.000 đồng. Về trách nhiệm hình sự, chị đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Chị H3 (con chị N) trình bày, chị chỉ nghe mẹ chị nói về việc mua đất của bị cáo H. Chị chưa gặp và không trao đổi gì với H. Số tiền chị đưa cho mẹ chị 500.000.000 đồng là để mua đất của H. Gia đình bị cáo đã bồi thường cho mẹ chị 400.000.000 đồng, số tiền này mẹ chị đã đưa lại cho chị. Còn 100.000.000 đồng chị yêu cầu bị cáo bồi thường cho mẹ chị để trả lại cho chị.

Anh Nguyễn Văn H4 (em trai bị cáo) trình bày, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường cho bị hại. Anh H4 đã bồi thường cho chị N 400.000.000 đồng. Số tiền này là của anh, anh không yêu cầu Tòa án phải tuyên bị cáo hoàn trả lại cho anh. Anh cũng cam kết với chị N số tiền còn lại gia đình sẽ bồi thường đủ cho chị.

Anh D trình bày đúng như Cáo trạng và lời khai của bị cáo và chị N. Anh chưa đưa tiền gì cho chị N nên không bị thiệt hại. Các tài liệu liên quan đến cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất anh đưa cho chị N đều là bản phô tô, anh không yêu cầu xin lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh (VKS) thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố. Sau khi đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị HĐXX tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh p các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54, Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội từ 10 năm đến 11 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có việc làm ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vương Thị N số tiền còn lại là 278.230.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

  • 01 đồng hồ treo tường màu nâu, trên mặt đồng hồ có chữ VERITABLE WESTMINSTER và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung S21 FE bị cáo mua từ tiền chiếm đoạt của bị hại do đó, cần tạm giữ để bồi thường cho bị hại.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu S3 J6 Plus màu đen tạm giữ của bị cáo nhưng không dùng vào việc phạm tội, không phải có được từ nguồn tiền phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô và 01 ví da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do bị cáo không yêu cầu nhận lại.
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CY 9132445 mang tên anh Hoàng Đình D do Nguyễn Văn H làm giả và các tài liệu khác phô tô khác mà bị cáo cầm của chị N và các hộ dân là những vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Luật sư Vũ Xuân C bào chữa cho bị cáo đồng ý với quan điểm của VKS về tội danh và điều khoản áp dụng. Riêng đối với tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, Luật sư đề nghị HĐXX xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Luật sư đề nghị HĐXX áp dụng hình phạt thấp nhất đối với bị cáo.

Tranh luận lại với quan điểm của Luật sư về áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ, VKS cho rằng, mặc dù bị cáo bị truy cứu về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 BỘ LUẬT HÌNH SỰ thuộc loại tội ít nghiêm trọng, nhưng trong vụ án này, bị cáo bị xét xử 02 tội, trong đó có tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Do đó, bị cáo không đủ điều kiện áp dụng tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo điểm i khoản 1 Điều 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ.

Bị cáo thực hiện 08 lần hành vi phạm tội; nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Với tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì mức hình phạt mà VKS đề nghị là phù hợp, không nặng.

Tranh luận lại với quan điểm của VKS, Luật sư cho rằng, mặc dù bị cáo bị xét xử 02 tội trong cùng một vụ án, nhưng tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa có hiệu lực pháp luật nên chưa được coi là tội phạm. Do đó, việc áp dụng tình tiết theo điểm i khoản 1 Điều 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ là phù hợp với Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANTDC ngày 07/4/2017 và Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

VKS giữ nguyên quan điểm luận tội và không tranh luận gì thêm.

Bị cáo đồng ý với quan điểm của Luật sư. Bị hại và người có quyền lợi liên quan đồng ý với đề nghị của VKS, không tranh luận gì thêm.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo rất ân hận với hành vi phạm tội của mình, bị cáo mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về tố tụng, quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Từ khoảng tháng 7 năm 2023, Nguyễn Văn H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Vương Thị N. Huỳnh làm thợ xây nhưng đã đưa ra các thông tin gian dối với chị N về việc là chuyên viên tại Bộ T8. Huỳnh có nhiều tiền, nhiều bất động sản, thường xuyên đi công tác ở các địa phương, có nhiều mối quan hệ để có thể làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các gia đình có đất gặp khó khăn, vướng mắc chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Huỳnh còn đưa ra các thông tin gian dối có đất tại khu vực chợ D2, T, T, Bắc Ninh để lừa bán cho chị N. Ngoài ra, H còn lừa chị N vay tiền và nhờ chị N mua đồ dùng nhằm chiếm đoạt tài sản của chị N. Bằng thủ đoạn gian dối nêu trên, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2023, Nguyễn Văn H đã nhiều lần lừa đảo chị N, chiếm đoạt của chị N tổng số tiền là 678.230.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, H sử dụng vào mục đích cá nhân. Do đó, HĐXX có căn cứ để xét xử Nguyễn Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

[3] Để thực hiện, che giấu hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tạo niềm tin cho bị hại, H đã có hành vi thông qua mạng xã hội Facebook liên hệ với một số đối tượng không quen biết làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hoàng Đình D. Tuy nhiên, do thông tin diện tích đất sai nên đối tượng làm giả đã làm lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác theo thông tin diện tích đất như bị cáo cung cấp. Bị cáo đã đốt Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm lần đầu và chỉ dùng giấy chứng nhận làm giả lần 2 để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, có căn cứ để xét xử Nguyễn Văn H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy: Nguyễn Văn H đã có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Vương Thị N với số tiền 678.230.000 đồng và làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc bằng pháp luật hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: về nhân thân, bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân xấu. Năm 2004 bị cáo bị Công an quận C, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội thể hiện bị cáo là người coi thường pháp luật, thiếu tu dưỡng.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi tội phạm bị phát giác, bị cáo đã ra cơ quan công an đầu thú; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ngoài ra bị cáo còn có ông nội được tặng Bằng khen đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Đối với hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” trước phiên tòa, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 400.000.000 đồng. Do đó, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị N, số tiền các lần bị cáo chiếm đoạt đều trên 02 triệu đồng vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[9] Về quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” HĐXX thấy đề nghị này là không có căn cứ. Quan điểm của VKS không áp dụng tình tiết tại điểm i khoản 1 Điều 51 bởi lẽ trong vụ án này bị cáo bị xét xử 02 tội nên không thỏa mãn điều kiện “phạm tội lần đầu” là phù hợp và đúng với quy định của pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao.

[10] Xét thấy, về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BỘ LUẬT HÌNH SỰ; số tiền chiếm đoạt bị cáo đã được bồi thường phần lớn, vì vậy, có căn cứ để cho bị cáo được hưởng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng trong khung hình phạt liền kề theo quy định tại khoản 1 Điều 54 BỘ LUẬT HÌNH SỰ để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[11] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập, việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của bị hại 678.230.000 đồng, trước khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã bồi thường 400.000.000 đồng. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 278.230.000 đồng. Do đó, buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Vương Thị N 278.230.000 đồng.

[13] Về xử lý vật chứng: 01 đồng hồ treo tường màu nâu, trên mặt đồng hồ có chữ VERITABLE WESTMINSTER và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S21 FE do bị cáo mua từ tiền phạm tội nên cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc bồi thường cho bị hại.

[14] Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 Plus màu đen không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

[15] Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen, 01 ví da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo do bị cáo không yêu cầu nhận lại.

[16] Tiếp tục phong tỏa tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của Nguyễn Văn H với số tiền là 7.498.879 đồng để đảm bảo thi hành án.

[17] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CY 9132445 mang tên anh Hoàng Đình D (do H làm giả); 01 bản phô tô Chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số BH 790494 mang tên Nguyễn Văn L1; 01 bản phô tô Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L1; 01 bản phô tô Căn cước công dân mang tên Vương Thị N; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dung đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BH 791595 mang tên anh Hoàng Quốc T thu giữ được trong quá trình điều tra xác định là những tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[18] Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 294669 mang tên Vương Thị N sinh năm 1975 địa chỉ thôn K, N, T, Bắc Ninh (bản gốc) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số HB 790494 mang tên Nguyễn Văn L1 sinh năm 1973, Vương Thị N sinh năm 1975, địa chỉ: thôn G, N, T, Bắc Ninh (bản gốc) chị N đã đưa cho H, CQĐT đã ra Thông báo số 983/TB-PC02 ngày 04/3/2024 tìm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng đến nay chưa có kết quả tìm kiếm. Do đó, ông L1, bà N có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để xin cấp lại theo quy định của pháp luật.

[19] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[20] Về các vấn đề liên quan trong vụ án: Đối với đối tượng làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, H khai liên hệ với đối tượng này qua mạng Zalo, không trực tiếp gặp mặt, H không biết người này là ai, không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. CQĐT đã có Công văn đề nghị Công ty cổ phần V1 cung cấp thông tin đăng ký, thiết bị sử dụng, lịch sử IP của tài khoản Zalo có tên “Văn phòng công chứng” của đối tượng làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Tuy nhiên đến nay chưa nhận được kết quả trả lời. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[21] Đối với các đối tượng giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho H ở khu vực cổng Bệnh viện N3 và đối tượng được H thuê đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả giao cho chị N, H khai không nhận diện được những người này, không biết tên tuổi, địa chỉ nên CQĐT tiến hành xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[22] Đối với các chị: Đặng Thị B, Nguyễn Thị B1, Nguyễn Thị Hồng S, mỗi người đã giao cho chị N 400.000 đồng để chị N nhờ H đo đạc, xác định ranh giới đất. Sau khi biết H lừa đảo, chị N đã dùng tiền của mình trả lại mỗi người 400.000 đồng. Các chị B, B1, S không có yêu cầu, đề nghị gì nên các Cơ quan tiến hành tố tụng không xem xét, giải quyết là phù hợp.

[23] Đối với các tài khoản Ngân hàng liên quan đến việc Huỳnh chuyển tiền đến, H khai không biết chủ tài khoản này là ai, nội dung chuyển tiền là gì, CQĐT đã có Công văn yêu cầu các Ngân hàng cung cấp thông tin khách hàng, tiến hành xác minh và uỷ thác điều tra. Một số Ngân hàng chưa có văn bản trả lời, xác minh một số chủ tài khoản xác minh không có mặt tại địa phương và chưa có kết quả Uỷ thác điều tra nên CQĐT tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[24] Đối với chị Vũ Thị T7 (là em dâu H) khai tháng 7 và tháng 8 năm 2023 H có chuyển khoản cho chị 02 lần tổng là 06 triệu đồng để nhờ chị lấy hàng của nhân viên giao hàng và để đổi tiền mặt. Chị T7 không biết nguồn gốc tiền mà Huỳnh chuyển cho chị, không biết hành vi phạm tội của H; một số chủ tài khoản nhận tiền từ tài khoản của H khai là để trả tiền xe taxi, họ không biết H là ai nên CQĐT không xem xét, xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54, Điều 46; Điều 48; Điều 55; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 104, Điều 106, Điều 329, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Huỳnh p các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

    Xử phạt: Nguyễn Văn H 09 (C1) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 01 (Một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

    Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 10 (M) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/9/2023.

    Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải bồi thường cho chị Vương Thị N số tiền 278.230.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

    Tạm giữ 01 đồng hồ treo tường màu nâu, trên mặt đồng hồ có chữ VERITABLE WESTMINSTER, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S21 FE do bị cáo phạm tội mà có để đảm bảo việc bồi thường cho bị hại.

    Tiếp tục phong tỏa tài khoản ngân hàng T9 số 19038051989013 của Nguyễn Văn H với số tiền là 7.498.879 đồng theo Quyết định số 02/LPT - CSĐT ngày 02/11/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã T để đảm bảo thi hành án.

    Trả lại cho bị cáo H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 Plus màu đen đã qua sử dụng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án

    Tịch thu tiêu hủy 01 ba lô màu đen, 01 ví da màu đen đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo H do bị cáo không xin lại.

    Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số CY 9132445 mang tên anh Hoàng Đình D (được H làm giả); 01 bản phô tô Chứng minh thư nhân dân mang tên Nguyễn Văn H; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dung đất số BH 790494 mang tên Nguyễn Văn L1; 01 bản phô tô Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn L1; 01 bản phô tô Căn cước công dân mang tên Vương Thị N; 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BH 791595 mang tên anh Hoàng Quốc T thu giữ được trong quá trình điều tra xác định là những tài liệu có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

    (Các vật chứng, tài sản trên được thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 81/2024 ngày 22/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh; biên bản khám xét tại phòng trọ của bị cáo H ngày 30/9/2023).

  4. 4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 13.911.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Phòng PC10 Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo; bị hại; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN VAN H PHAM TOI LUA DAO CHIEM DOAT TAI SAN VA LAM GIA GIAY TO CUA CO QUAN TO CHUC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger