Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HOÁ
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.
Bản án số: 67/2024/HS-ST.
Ngày: 16-4-2024.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Nông.
Ông Bùi Thế Huệ.
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Lê Thị Hợp - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 23/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 03 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/HSST-QĐ ngày 15/3/2024, đối với bị cáo:

  • * Họ và tên: Vũ Đức M; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không, sinh năm 1986; nơi sinh: Huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; CCCD số: [...]; cấp ngày 11 tháng 8 năm 2021. Nơi cấp: Cục C1 về TTXH.
  • Nơi ĐKNKTT: Số C T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • Nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Vũ Văn N, sinh năm 1957 và bà: Lê Thị K, sinh năm 1960; Vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1988; Có 02 con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án: Không; Tiền sự: Không có.
  • Nhân thân: Ngày 24/9/2008 bị Công an Thành phố thanh H4 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc.
  • Bị tạm giam từ ngày 11/4/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H4 (Có mặt).
  • * Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Hữu G công ty L1, Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

2

  • Địa chỉ: A T, phường T, thành phố T.
  • * Bị hại: Anh Lê Văn H, sinh năm 1986, (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Khu D, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
  1. Anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1990, (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.

    Giám đốc Công ty TNHH Đ1 Đoàn

    Địa chỉ: Xóm B, Thôn L, xã Đ, huyện tiền H1, tỉnh Thái Bình.

  2. Anh Lê Văn C sinh năm 1988, (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Anh Phạm Văn N1, sinh năm 1980, (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện C

  4. Anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1982, (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Số D phố N, tổ A phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu.

  • * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Quang L là: Luật sư Đỗ Như Q. Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).
  • Địa chỉ: A đường N, D, cầu G Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/3/2022, anh Lê Văn H ở khu D, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa mua xe ôtô tải tự đổ BKS: 36H - 003.47 của Công ty TNHH X (Công ty X), địa chỉ: xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa với giá 760.000.000 đồng, anh H đã trả đủ tiền cho anh Lê Văn C-Giám đốc Công ty X và đã nhận đủ giấy tờ gốc của xe, nhưng anh H chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu mà vẫn để xe ôtô đứng tên chủ sở hữu là Công ty X.

Ngày 04/3/2022, anh H ký hợp đồng thuê Vũ Đức M làm lái xe chở vật liệu xây dựng. Sau đó anh H bàn giao xe ôtô BKS: 36H - 003.47 và toàn bộ giấy tờ gốc liên quan của xe ôtô cho Vũ Đức M quản lý, sử dụng.

Đến khoảng giữa tháng 7 năm 2022, Vũ Đức M nảy sinh ý định bán xe ôtô BKS: 36H-003.47 nên liên lạc với anh Lê Văn C, M nói với anh C là M đã mua lại xe ôtô BKS: 36H-003.47 của anh Lê Văn H và hỏi thủ tục bán xe, sang tên đối với xe ôtô BKS: 36H-003.47 như thế nào.

Ngày 26/7/2022, Vũ Đức M liên lạc bằng điện thoại với anh Đặng Văn Đ, sinh năm 1990 Giám đốc Công ty TNHH Đ1 Đoàn (Công ty P), giới thiệu M hiện sở hữu xe ôtô BKS: 36H-003.47 và muốn bán lại xe cho anh Đ. Anh Đ thống nhất và đến ngày 27/7/2022, M điều khiển xe ôtô BKS: 36H-003.47 ra Công ty Đ1 Đoàn để bán cho anh Đ. M nói với anh Đ xe ôtô BKS: 36H - 003.47 M mua của Công

3

ty X để sử dụng nhưng giờ không có nhu cầu nên muốn bán. Hai bên thống nhất mua bán xe ôtô nêu trên với giá là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng).

Do xe ôtô BKS: 36H-003.47 đứng tên chủ sở hữu là Công ty X nên anh Đ yêu cầu phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng (GTGT) của Công ty X bán xe cho Công ty P thì mới làm thủ tục mua bán. Sau đó M và anh Đ thống nhất: Anh Đ đặt cọc mua xe, số tiền 200.000.000đ, số tiền còn lại M sẽ nhận sau khi Công ty X xuất hóa đơn GTGT cho Công ty Đ1 Đoàn. Sau đó, anh Đ đã chuyển vào tài khoản số [...] của Vũ Đức M số tiền 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng) để đặt cọc mua xe ôtô BKS: 36H - 003.47, sau khi nhận tiền, M viết giấy nhận tiền cho anh Đ với nội dung: Ngày 27/7/2022, Vũ Đức M nhận của anh Đặng Văn Đ số tiền 200.000.000 đồng, đặt cọc mua bán xe. Đến ngày 28/7/2022, sau khi xuất hóa đơn đầy đủ sẽ nhận nốt số tiền còn lại. Ngoài ra, hai bên thống nhất Vũ Đức M là người phải có trách nhiệm rút hồ sơ gốc và làm thủ tục sang tên, đổi chủ đối với xe ôtô nêu trên.

Ngày 28/7/2022, Vũ Đức M trao đổi với anh Lê Văn C - Giám đốc Công ty X, về việc M đã bán xe ôtô BKS: 36H - 003.47 và đề nghị anh C xuất hoá đơn GTGT để M bán xe ôtô nêu trên cho Công ty Đ1 Đoàn. Anh C tin tưởng nên trao đổi với M, do xe đứng tên công ty X nên nếu M muốn bán xe thì khách hàng mua xe ôtô của M phải chuyển số tiền 165.000.000 đồng vào tài khoản của Công ty X để khai báo thuế, sau đó anh C sẽ trừ đi 10% thuế GTGT (15.000.000 đồng) để nộp thuế nhà nước, còn lại sẽ trả lại cho người mua và sau đó mới xuất được hóa đơn giá trị gia tăng bán xe. Sau đó Vũ Đức M đã thông báo để anh Đ chuyển vào tài khoản của Công ty X số tiền 165.000.000 đồng. Sau khi Công ty Đ1 Đoàn chuyển vào tài khoản của Công ty X số tiền 165.000.000 đồng; anh Lê Văn C đã xuất hoá đơn GTGT, bán xe ô tô BKS: 36H - 003.47 cho Công ty Đ1 Đoàn.

Khoảng 19 giờ ngày 28/7/2022, Vũ Đức M liên hệ với anh C để lấy số tiền bán xe mà Công ty Đ1 Đoàn đã chuyển vào cho Công ty X. Anh Lê Văn C trừ đi 10% thuế GTGT (15.000.000 đồng), còn lại 150.000.000 đồng anh C đã đưa lại cho Vũ Đức M (quá trình điều tra Vũ Đức M không thừa nhận đã nhận số tiền 150.000.000 đ từ anh C, tuy nhiên kết quả điều tra có đủ cơ sở xác định anh Lê Văn C đã đưa lại 150.000.000đ cho Vũ Đức M.

Sau khi hoàn thành việc mua bán xe ôtô, anh Đặng Văn Đ tiếp tục chuyển vào tài khoản cho Vũ Đức M 20.000.000 đồng; tổng số tiền anh Đặng Văn Đ đã đưa cho Vũ Đức M để mua xe ô tô BKS: 36H - 003.47 là 385.000.000 đồng, (trong đó có số tiền 165.000.000 đồng chuyển vào tài khoản của Công ty X). Vũ Đức M được nhận 370.000.000đ, còn lại 15.000.000₫ Công ty X giữ lại nộp thuế GTGT.

Ngày 22/8/2022, anh Đặng Văn Đ làm hợp đồng bán xe ôtô trên cho anh Phạm Văn N1, sinh năm 1980, ở thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang với giá là 648.000.000₫ (Sáu trăm bốn tám triệu đồng). Đồng thời anh Đ xuất hoá đơn GTGT của Công ty Đ1 Đoàn bán xe ôtô BKS: 36H - 003.47 cho anh Phạm Văn N1. Đến ngày 30/8/2022, anh N1 bán xe ôtô trên cho anh Nguyễn Quang L, sinh năm 1982, ở số D phố N, tổ A phường T, thành phố L, tỉnh Lai Châu với giá

4

780.000.000đ (bảy trăm tám mươi triệu đồng), anh L đưa trước 700.000.000 đồng, số tiền 80.000.000 đồng còn lại sau khi anh N1 hoàn tất thủ tục rút hồ sơ để làm thủ tục sang tên chủ sở hữu thì anh L sẽ trả cho anh N1. Sau khi nhận được số tiền 700.000.000 đồng, anh N1 đã viết giấy bán xe ôtô nêu trên cho anh Nguyễn Quang L.

Sau khi biết Vũ Đức M tự ý mang xe ôtô BKS: 36H - 003.47 đi bán mà chưa được sự đồng ý, cho phép của mình nên anh Lê Văn H đã nhiều lần yêu cầu M mang xe về trả lại, tuy nhiên, Vũ Đức M không thực hiện được, ngày 25/8/2022, Vũ Đức M viết giấy tường trình với anh Lê Văn H về việc đã mang xe ôtô nêu trên bán cho anh Đặng Văn Đ với số tiền 370.000.000 đồng (Ba trăm bảy mươi triệu đồng) và đã sử dụng hết tiền bán xe vào mục đích chi tiêu cá nhân, không còn khả năng trả lại tài sản cho anh Lê Văn H. Sau đó anh Lê Văn H đến Cơ quan điều tra tố giác hành vi của Vũ Đức M.

Ngày 22/9/2022, anh Nguyễn Quang L đã tự nguyện giao nộp xe ôtô BKS: 36H - 003.47 cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H4 để phục vụ quá trình giải quyết vụ án.

Kết luận định giá tài sản số 54/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2022 của Hội đồng định giá kết luận xe ôtô BKS: 36H - 003.47 tại thời điểm định giá có giá trị là 670.000.000₫ (Sáu trăm bảy mươi triệu đồng).

Kết luận giám định số 3885/KL-KTHS ngày 08/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh H4 kết luận: Chữ ký, chữ viết tên “Vũ Đức M” trên các mẫu cần giám định là chữ ký, chữ viết của Vũ Đức M.

Xe ôtô BKS: 36H-003.47 đã được Cơ quan điều tra thu giữ, anh Lê Văn H đề nghị xin lại chiếc xe và không có yêu cầu gì khác về phần dân sự. Vũ Đức M đã bán xe ôtô BKS: 36H-003.47 cho anh Đặng Văn Đ (Công ty Đ1) được 370.000.000 đồng và anh Lê Văn C (Công ty X) giữ lại của Công ty Đ1 Đoàn 15.000.000đ tiền thuế giá trị gia tăng. Anh Đặng Văn Đ bán xe cho anh Phạm Văn N1 được 648.000.000đ; anh Phạm Văn N1 bán xe cho anh Nguyễn Quang L được 700.000.000đ.

Ngoài ra anh Đặng Văn Đ khai nhận phải bỏ ra 130.000.000 đồng để sửa chữa xe ôtô BKS: 36H - 003.47, anh Phạm Văn N1 sửa xe hết 34.000.000đ, anh Nguyễn Quang L bảo dưỡng xe hết 6.000.000 đồng và số tiền thiệt hại do không được sử dụng xe để kinh doanh (từ tháng 8/2022 đến tháng 12/2023) là 225.000.000 đồng đề nghị được bồi thường.

Hành vi của Lê Văn C (giám đốc công ty X) là người đã xuất hóa đơn giá trị gia tăng bán xe ôtô BKS: 36H - 003.47 cho Công ty P (trong khi chiếc xe ôtô BKS: 36H - 003.47 trước đó đã được Công ty X bán cho anh Lê Văn H). Tuy nhiên bản thân anh Lê Văn C không biết việc Vũ Đức M tự ý mang xe ôtô của anh Lê Văn H đi bán cho Công ty P; anh Lê Văn C và anh Đặng Văn Đ không có mối liên hệ, quan hệ với nhau trong mua, bán xe ôtô BKS: 36H-003.47; việc mua, bán xe ôtô và xuất hóa đơn GTGT giữa Công ty X và Công ty Đ1 Đoàn là do Vũ Đức M yêu cầu, đề nghị; do tin tưởng Vũ Đức M nên anh Lê Văn C đã thực hiện

5

việc xuất hóa đơn GTGT bán xe ôtô nêu trên cho Công ty Đ1 Đoàn theo yêu cầu của Vũ Đức M. Khi nhận được số tiền 165.000.000 đồng của Công ty P, Lê Văn C đã trừ đi 10% thuế GTGT là 15.000.000 đồng còn lại số tiền 150.000.000 đồng đưa cho Vũ Đức M. Do đó, anh Lê Văn C không đồng phạm với Vũ Đức M trong hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là xe ôtô BKS: 36H- 003.47 của anh Lê Văn H.

Đối với Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1, Nguyễn Quang L là những người đã giao dịch mua bán xe ôtô BKS: 36H - 003.47. Tuy nhiên khi mua bán anh Đ, anh N1, anh L đều không biết xe ôtô BKS: 36H - 003.47 là do phạm tội mà có. Do đó không đủ căn cứ xử lý Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1, Nguyễn Quang L về trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định: Xe ôtô BKS: 36H - 003.47 là tài sản đứng tên Công ty X do anh Lê Văn C là Giám đốc; ngày 02/3/2022, anh Lê Văn C bán xe ô tô BKS: 36H-003.47 cho anh Lê Văn H với giá 760.000.000 đồng; tuy nhiên trên hóa đơn giá trị gia tăng, Công ty X chỉ khai báo giá trị thuế của xe ôtô BKS: 36H-003.47 là 150.000.000 đồng. Như vậy, Công ty X có dấu hiệu của hành vi khai báo thuế giá trị gia tăng không đúng quy định (giá trị khai báo trên thuế thấp hơn so với giá trị thực tế của tài sản là chiếc xe ôtô BKS 36H-003.47).

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H4 đã có văn bản kiến nghị và chuyển các tài liệu có liên quan đến Cục Thuế tỉnh T để xác minh, xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) xe ôtô tải, Biển số đăng ký: 36H- 003.47, Nhãn hiệu: CNHTC; Số loại: HOWO; Số khung: LZZ5ELSD6AW525927; Số máy: WD61547100817020187; Màu sắc (màu sơn): Xanh; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 36 014899; tên chủ xe: Công ty TNHH X, BKS: 36H - 003.47; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0630955; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ôtô BKS: 36H - 003.47.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 08/CTr-VKS-P3 ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Vũ Đức M về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Vũ Đức M phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo từ 12 năm đến 13 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/4/2023.

6

Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, 589 BLDS, đề nghị buộc Vũ Đức M phải có trách nhiệm bồi thường lại cho anh Đặng Văn Đ 370.000.000 đồng (Ba trăm bẩy mươi triệu đồng), anh Lê Văn C phải trả lại cho anh Đặng Văn Đ 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng). Anh Đặng Văn Đ phải trả lại cho anh Phạm Văn N1 số tiền 648.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng). Anh Phạm Văn N1 phải trả lại cho anh Nguyễn Quang L số tiền 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng).

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho anh Lê Văn H 01(một) xe ôtô tải, kính trước xe bị rạn vỡ, Biển số đăng ký: 36H-003.47, Nhãn hiệu: CNHTC; Số loại: HOWO; Số khung: LZZ5ELSD6AW525927; Số máy: WD61547100817020187; Màu sắc (màu sơn): Xanh (xe cũ đã qua sử dụng); 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 36 014899; tên chủ xe: Công ty TNHH X, BKS: 36H - 003.47; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0630955; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ôtô BKS: 36H - 003.47.

* Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh, tình tiết tăng nặng, khung khoản, điều luật không có ý kiến thống nhất với quan điểm của viện kiểm sát. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và có bố vợ là Liệt S; gia đình có em trai được tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang, ông nội được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, đã tham gia ủng covid-19. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 BLHS, chuyển khung hình phạt xử phạt bị cáo M dưới mức án VKS đề nghị đề bị cáo cải tạo nhanh chóng về với xã hội và khắc phục hậu quả với bị hại.

Về phần dân sự thì bị cáo một mực khẳng định không được nhận số tiền 150.000.000đ từ anh C, chứng cứ anh C đưa ra và những người làm chứng đều cùng làng xóm, bạn bè và đồng nghiệp nên không khánh quan, đến nay anh C không có giấy tờ gì chứng minh đã đưa tiền cho M. Đề nghị HĐXX buộc anh C phải trả số tiền này cho anh Đ vì anh C trực tiếp nhận tiền của anh Đ qua tài khoản.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh H4, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,

7

người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đức M:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, sau khi được anh Lê Văn H ký hợp đồng thuê làm lái xe chở vật liệu xây dựng và bàn giao xe ô tô BKS: 36H - 003.47 cùng toàn bộ giấy tờ gốc liên quan của xe ôtô cho Vũ Đức M quản lý, sử dụng Vũ Đức M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Ngày 26/7/2022 Vũ Đức M đã đem xe ôtô trên đến bán cho anh Đặng Văn Đ (Công ty Đ1 Đoàn) tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình lấy số tiền 370.000.000 đồng. Khi bán xe M nói dối anh Đ là xe thuộc sở hữu của M nên anh Đ đã tin tưởng mua xe. Số tiền 370.000.000 đồng bán xe M đã sử dụng chi tiêu cá nhân, sau đó bỏ đi ra khỏi địa phương. Kết quả định giá chiếc xe ôtô BKS: 36H - 003.47 trị giá 670.000.000₫ (Sáu trăm bảy mươi triệu đồng).

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện vì tư lợi. Bị cáo xác định khi bán xe ôtô lấy tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo không có tài sản và cũng không có nguồn tài sản nào để có thể trả tiền chuộc xe ôtô trả cho anh H. Như vậy, rõ ràng bị cáo có ý thức chiếm đoạt và định đoạt chiếc xe anh H giao cho. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 175 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • + Về nhân thân: Ngày 24/9/2008 bị Công an Thành phố thanh H4 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc.
  • + Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • + Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; có bố vợ là Liệt S, gia đình có em trai được tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang, ông nội được tặng huân chương kháng chiến hạng ba, đã tham gia ủng covid-19 nên được hưởng theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần phải xử phạt tù để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do nên không cấm hành nghề; gia đình hoàn cảnh khó khăn, bản thân không có khả năng để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt tiền, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

8

[5]. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Qua điều tra và tại phiên tòa hôm nay Vũ Đức M khẳng định không có nhận được số tiền 150.000.000đ từ anh C, kết quả điều tra anh C đã khai khi đưa tiền cho M có các anh Lê Văn H2, Lê Hồng Q1, Nguyễn Văn H3 là những người làm chứng, những người này cũng không được M và anh C mời làm chứng lúc giao tiền, lại là người cùng làng, bạn và đồng nghiệp của anh C nên chưa đủ căn cứ. Theo bản tường trình của M ngày 25/8/2022 với anh Lê Văn H là M đã bán xe cho anh Đ được 370.000.000đ và đã tiêu hết số tiền này, không có thể hiện việc M đã nhận 150.000.000₫ của anh C. Đến ngày hôm nay anh C không cung cấp được thêm giấy tờ hay tài liệu gì khác theo quy định pháp luật để khẳng định Vũ Đức M đã nhận số tiền 150.000.000đ, còn M vẫn khẳng định là chưa nhận số tiền này nên chưa đủ xác định được M đã nhận số tiền này của anh C. Anh Lê Văn C có quyền khởi kiện Vũ Đức M bằng vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Buộc bị cáo Vũ Đức M phải bồi thường số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) cho anh Đặng Văn Đ.

Do giao dịch mua bán xe xe ôtô BKS: 36H - 003.47 giữa các bên là bị lừa dối nên xác định là giao dịch dân sự vô hiệu theo quy định Điều 127 của Bộ luật dân sự nên buộc anh Lê Văn C phải trả lại cho anh Đặng Văn Đ 165.000.000đồng là số tiền anh Đặng Văn Đ đã chuyển vào tài khoản của Công ty X. Anh Đặng Văn Đ trả lại cho anh Phạm Văn N1 648.000.000 đồng. Anh Phạm Văn N1 trả lại cho anh Nguyễn Quang L 700.000.000 đồng.

Anh Đặng Văn Đ khai nhận phải bỏ ra 130.000.000 đồng để sửa chữa xe ôtô BKS: 36H - 003.47, anh Phạm Văn N1 sửa xe hết 34.000.000đ, đề nghị được bồi thường. Quá trình điều tra xác định số tiền trên là anh Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1 tự nguyện bỏ ra sửa chữa, bảo dưỡng xe, ngoài ra chiếc xe được thu hồi để phục vụ cho quá trình điều tra. Do đó yêu cầu đề nghị bồi thường của anh Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1 về số tiền trên không đủ cơ sở chấp nhận.

Anh Nguyễn Quang L khai là bảo dưỡng xe hết 6.000.000 đồng và số tiền thiệt hại do không được sử dụng xe để kinh doanh (từ tháng 8/2022 đến tháng 12/2023) là 225.000.000 đồng, tại phiên tòa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Quang L rút đề nghị bồi thường vì đây là dân sự vô hiệu nên không có căn cứ để yêu cầu, HĐXX xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

Không đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh anh Lê Văn C đồng phạm với Vũ Đức M trong hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là xe ôtô BKS: 36H- 003.47 của anh Lê Văn H như hồ sơ là phù hợp.

Đối với Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1, Nguyễn Quang L là những người đã giao dịch mua bán xe ôtô BKS: 36H-003.47. Tuy nhiên khi mua bán anh Đ, anh N1, anh L đều không biết xe ôtô BKS: 36H-003.47 là do phạm tội mà có. Do đó không đủ căn cứ xử lý các anh Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1, Nguyễn Quang L về trách nhiệm hình sự như trong hồ sơ là phù hợp.

9

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được xác định: Xe ôtô BKS: 36H- 003.47 là tài sản đứng tên Công ty X do anh Lê Văn C là Giám đốc; ngày 02/3/2022, anh Lê Văn C bán xe ôtô BKS: 36H-003.47 cho anh Lê Văn H với giá 760.000.000 đồng; tuy nhiên trên hóa đơn giá trị gia tăng, Công ty X chỉ khai báo giá trị thuế của xe ôtô BKS: 36H-003.47 là 150.000.000 đồng. Như vậy, Công ty X có dấu hiệu của hành vi khai báo thuế giá trị gia tăng không đúng quy định (giá trị khai báo trên thuế thấp hơn so với giá trị thực tế của tài sản là chiếc xe ôtô BKS 36H-003.47).

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh H4 đã có văn bản kiến nghị và chuyển các tài liệu có liên quan đến Cục Thuế tỉnh T để xác minh, xem xét xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

[6]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

01(một) xe ôtô tải, kính trước xe bị rạn vỡ, Biển số đăng ký: 36H-003.47, Nhãn hiệu: CNHTC; Số loại: HOWO; Số khung: LZZ5ELSD6AW525927; Số máy: WD61547100817020187; Màu sắc (màu sơn): Xanh (xe cũ đã qua sử dụng); 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 36 014899; tên chủ xe: Công ty TNHH X, BKS: 36H - 003.47; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0630955; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ôtô BKS: 36H-003.47 là tài sản của anh Lê Văn H bị chiếm đoạt do đó cần trả lại chiếc xe trên cùng toàn bộ giấy tờ xe cho anh Lê Văn H là phù hợp.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Buộc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự cụ thể là: Anh Lê Văn C phải chịu 8.250.000đ; anh Đặng Văn Đ phải chịu 29.920.000đ; anh Phạm Văn N1 phải chịu 32.000.000₫ án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp và có căn cứ pháp luật.

Đề nghị về phần bồi thường dân sự của người bào chữa cho bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố:

Bị cáo Vũ Đức M phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

* Xử phạt bị cáo: Vũ Đức M 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giam là ngày 11 tháng 4 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Đức M.

10

* Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; các Điều 127, 584, 585, 589 BLDS 2015.

Buộc bị cáo Vũ Đức M phải bồi thường số tiền 220.000.000 đồng (Hai trăm hai mươi triệu đồng) cho anh Đặng Văn Đ. Buộc anh Lê Văn C phải trả lại cho anh Đặng Văn Đ số tiền 165.000.000đồng (Một trăm sáu mươi lăm triệu đồng). Buộc anh Đặng Văn Đ phải trả lại cho anh Phạm Văn N1 số tiền 648.000.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi tám triệu đồng). Buộc anh Phạm Văn N1 phải trả lại cho anh Nguyễn Quang L số tiền 700.000.000 đồng (Bẩy trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Đặng Văn Đ, Phạm Văn N1, Nguyễn Quang L có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong số tiền phải trả, bên phải thi hành án, còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo: Vũ Đức M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 11.000.000đ (Mười một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Buộc anh Lê Văn C phải chịu 8.250.000đ (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); anh Đặng Văn Đ phải chịu 29.920.000đ (Hai mươi chín triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng); anh Phạm Văn N1 phải chịu 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trả lại cho anh Lê Văn H 01(một) xe ôtô tải, kính trước xe bị rạn vỡ, Biển số đăng ký: 36H-003.47, Nhãn hiệu: CNHTC; Số loại: HOWO; Số khung: LZZ5ELSD6AW525927; Số máy: WD61547100817020187; Màu sắc (màu sơn): Xanh (xe cũ đã qua sử dụng); 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ôtô số: 36 014899; tên chủ xe: Công ty TNHH X, BKS: 36H - 003.47; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ôtô số 0630955; 01 (một) bản gốc Giấy chứng nhận đăng kiểm của xe ôtô BKS: 36H - 003.47.

Các vật chứng trên đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 112/2024/TV-CTHADS ngày14/3 /2024 giữa Phòng PC01 Công an tỉnh H4 và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

* Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 16 tháng 4 năm 2024).

11

Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:
  • - Bị cáo, Luật sư;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Đảng bộ p. Hàm Rồng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng chiếm đoạt xe ôtô
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger