|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HS-ST Ngày: 13/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Nguyễn Ngọc Uyên.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Tám – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 20/8/1979; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; con ông Nguyễn H, sinh năm 1937 và bà Mạc Thị Đ, sinh năm 1937 (chết); có vợ tên Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1981 và 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến ngày 26/7/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; bị cáo tại ngoại; có mặt.
- Người bị hại: Phan Văn B, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: 2 T, phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; có mặt.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Nguyễn Xuân Đ1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
- Mai Thị H1, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/5/2024. Nguyễn Văn L, Phan Văn B, Nguyễn Văn T ăn nhậu tại nhà anh T ở thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Tại bàn nhậu B nhắc lại việc trước đó thách thức L cá cược đua xuồng máy với nhau ai thua thì chung 01 thùng bia Q, nhưng L không đồng ý và trong quá trình ăn nhậu, B nhiều lần có lời nói khiêu khích việc cá độ đua xuồng máy và cho rằng L nhát không dám, dẫn đến L và B cãi vã lớn tiếng, xô đẩy qua lại, được anh T can ngăn. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, B đi về trước, khi ra đến cổng trước nhà anh T thì B quay lại nói với L “ông chết nhát không dám đua xuồng với tui”; L đứng dậy đi ra chỗ B và nói “Sao mày cứ khiêu khích tao vài” và nói B đi về; B nói “Tui thích như vậy ông làm gì được tui”; L xô B đi về làm Bảo ngã lui về phía sau, B đứng dậy xông lại đánh L thì có anh T đứng giữa can ngăn; L quay vào hiên nhà anh T lấy 01 vỏ chai bia bằng thủy tinh cầm phần cổ chai đập vào trụ cổng làm vỡ phần đuôi chai, cầm phần cổ chai vỡ còn lại chạy ra chỗ B và anh T đang đứng; B chửi Lân “Đụ mẹ, ông chết nhát không dám đua với tui” và dùng tay phải đấm vào vùng mặt L, nhưng có anh T ngăn cản nên không trúng; L cầm phần cổ chai vỡ đánh từ trên xuống trúng vào vùng mặt, vùng cổ của B gây ra vết thương hở dài 15 cm; Lân vứt cổ chai, bỏ đi, B được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh B.
Kết luận giám định số 261 ngày 12/7/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân Phan Văn B là 06%; Vật tác động: Vật có cạnh sắc.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSPY-P1 ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Giết người” quy định tại Khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Bị cáo Nguyễn Văn L vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
- Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều khai về tình tiết vụ án diễn ra như nội dung Cáo trạng đã nêu.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”.
+ Về Hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điều 15; Khoản 3, Điều 57; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án nhưng được trừ thời gian bị cáo đã tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến ngày 26/7/2024.
+ Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại Phan Văn B số tiền 140.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại Phan Văn B không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên không giải quyết.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2; Điểm a, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) áo thun sọc ngang màu trắng đỏ, ngắn tay, kích thước 53 x 40 cm; - 01 (một) đoạn vỡ cổ chai bia nhãn hiệu Quy Nhơn có kích thước nơi dài nhất 7,2cm, đường kính miệng cổ chai 2,5cm; đường kính phần đuôi cổ chai đã bị đập vỡ 3,5cm; một số mảnh vỡ chai bia Quy Nhơn có nhiều kích thước; - 01 (một) chất màu nâu thẫm.
Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu HIKVISION, dung lượng thẻ 32Gb (chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc Nguyễn Văn L và Phan Văn B đánh nhau tại nhà của Nguyễn Văn T).
Bị cáo không tranh luận gì; nói lời sau cùng, bị cáo xin lỗi bị hại, gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, có người làm chứng vắng mặt, nhưng họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại; căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn L tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; các bản kết luận giám định; kết quả thực nghiệm điều tra; vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 19/5/2024, tại thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, do mâu thuẫn trong lúc ăn nhậu và xảy ra xô xát đánh nhau, Nguyễn Văn L đã dùng vỏ chai vỡ đánh trúng vùng cổ, vùng mặt của Phan Văn B gây thương tích; B được cứu chữa kịp thời nên không nguy hiểm tính mạng, nhưng bị thương tích tỷ lệ 06%. Vì vậy, bản Cáo trạng số: 76/CT-VKSPY-P1 ngày 02/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Mặc dù, bị hại Phan Văn B nhiều lần có lời nói khiêu khích việc cá độ đua xuồng máy và cho rằng L nhát không dám, dẫn đến L và B cãi vã lớn tiếng, L xô B đi về làm Bảo ngã lui về phía sau, B đứng dậy xông lại đánh L và dùng tay phải đấm vào vùng mặt L là sai trái, có lỗi, gây ức chế cho bị cáo L. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Văn L lại dùng phần cổ chai bia đã vỡ là hung khí nguy hiểm đánh từ trên xuống trúng vào vùng mặt, vùng cổ của B, là những vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại, gây ra vết thương hở dài 15 cm, chảy nhiều máu là nguy hiểm, đã xâm phạm đến sức khỏe của bị hại, đe doạ đến tính mạng của người khác trái pháp luật, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt thỏa đáng. Thế nhưng, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho bị hại 140.000.000 đồng; bị cáo có mẹ ruột là người có công với cách mạng được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; và tại phiên tòa bị hại tiếp tục xin Tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để hai gia đình hàn gắn tình cảm xóm làng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.
[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Phan Văn B số tiền 140.000.000 đồng về khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Tại phiên tòa, bị hại Phan Văn B không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác. Nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] - 01 (một) áo thun sọc ngang màu trắng đỏ, ngắn tay, kích thước 53 x 40 cm; - 01 (một) đoạn vỡ cổ chai bia nhãn hiệu Quy Nhơn có kích thước nơi dài nhất 7,2cm, đường kính miệng cổ chai 2,5cm; đường kính phần đuôi cổ chai đã bị đập vỡ 3,5cm; một số mảnh vỡ chai bia Quy Nhơn có nhiều kích thước; - 01 (một) chất màu nâu thẫm là công cụ phạm tội; và vật không còn giá trị sử dụng, chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu nhận lại nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[5.2] - 01 (một) thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu HIKVISION, dung lượng thẻ 32Gb (chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc Nguyễn Văn L và Phan Văn B đánh nhau tại nhà của Nguyễn Văn T) nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án theo quy định pháp luật.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”.
-
Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2 Điều 123; Điều 15; Khoản 3 Điều 57; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L – 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 20/5/2024 đến ngày 26/7/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2; Điểm a, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
2.1. Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) áo thun sọc ngang màu trắng đỏ, ngắn tay, kích thước 53 x 40 cm; - 01 (một) đoạn vỡ cổ chai bia nhãn hiệu Quy Nhơn có kích thước nơi dài nhất 7,2cm, đường kính miệng cổ chai 2,5cm; đường kính phần đuôi cổ chai đã bị đập vỡ 3,5cm; một số mảnh vỡ chai bia Quy Nhơn có nhiều kích thước; - 01 (một) chất màu nâu thẫm.
2.2. Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) thẻ nhớ màu đen, nhãn hiệu HIKVISION, dung lượng thẻ 32Gb (chứa đoạn video ghi lại diễn biến sự việc Nguyễn Văn L và Phan Văn B đánh nhau tại nhà của Nguyễn Văn T).
Vật chứng có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.
-
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đinh Công Danh Nguyễn Ngọc Uyên |
Võ Nguyên Tùng |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 67/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 67 - 13 11 2024 - BẢN ÁN HSST Nguyễn Văn L - K2 Đ 123
