Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG HÀ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HS-ST

Ngày 03-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Ngọc Hoàng
  2. Ông Trần Đăng Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Đào Duy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn N, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1977, tại huyện H, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S (đã chết) - là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba và bà Nguyễn Thị N1 (đã chết); Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; bị cáo có vợ là chị Hoàng Thị T, sinh năm 1982; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo không bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21-3-2024, hiện tại ngoại - có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Cháu Trần Ngọc D, sinh ngày 11-5-2017; Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình (đã chết).

- Những người đại diện hợp pháp của cháu Trần Ngọc D:

  1. Anh Bùi Văn N2, sinh năm 1971 (là bố cháu D); Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
  2. Chị Trần Thị L, sinh năm 1985 (là mẹ cháu D); Nơi cư trú: Thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình.

- Người đại diện theo ủy quyền cho anh N2 và chị L: Bà Bùi Thị L1, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- Những người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
  2. Anh Nguyễn Quốc C, sinh năm 1999; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút 26-02-2024, Trần Văn N có giấy phép lái xe hạng C một mình điều khiển xe công nông 3 bánh tự chế, xe không có đèn, đi trên đường trục xã Đ theo hướng từ đền T1 đi lên đê Hữu Luộc, mục đích lên đê, rẽ phải đi ra bãi để chở gạch. Khi đi đến đoạn dốc dẫn lên đê là khu vực ngã 5 giao nhau giữa đường trục xã Đ với đường Đ và đường gom dân sinh ven đê, N vừa điều khiển xe lên dốc vừa cho xe chuyển hướng sang phải thì gặp xe mô tô biển số đăng ký 17K7- 3813 do anh Bùi Văn N2 điều khiển chở cháu Trần Ngọc D (là con gái anh N2) di chuyển trên đường gom dân sinh ven đê (phía bên phải theo chiều đi của N) đi lên đê Hữu Luộc hướng đi xã T đang đi đến đỉnh dốc. Khi đi đến đỉnh dốc thì phần đầu bên phải xe công nông do N điều khiển đã đâm vào phàn bên trái xe mô tô biển số đăng ký 17K7- 3813. Hậu quả: cháu D bị ngã và bị chấn thương sọ não, chết trên đường đi cấp cứu; ông N2 bị xây xát da, sưng nề bầm tím vùng đùi trái, không tổn thương xương; 02 phương tiện bị hư hỏng.

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 275/KLGĐTT-KTHS ngày 12/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Khám ngoài: Trên tử thi có vết xây sát da, rách da, trợt da, tụ máu tại vùng đầu, tay và chân. Khám trong: Vỡ xương sọ vùng thái dương trái, chảy máu não. Kết luận: Nạn nhân Trần Ngọc D chết do chấn thương sọ não”.

Bản kết luận giám định số 2142 ngày 09/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “các mảnh chất màu xanh thu tại hiện trường vụ tai nạn giao thông, chất màu xanh bám dính tại đầu ngoài tay nắm lái bên trái và mặt trên đầu bên trái đai xách yên xe mô tô BKS 17K7-3813 gửi giám định đều cùng loại với sơn màu xanh thu tại khung kim loại chắn đầu xe phía trước xe công nông ba bánh tự chế gửi làm mẫu so sánh.

Bản cáo trạng số 73/CT-KSHH ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo Trần Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại số tiền 130.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khẳng định quan điểm truy tố như nội dung bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao bị cáo Trần Văn N cho Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 130.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người làm chứng và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo Trần Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ do Công an huyện H lập ngày 26-02-2024; Các biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an huyện H lập ngày 26-02-2024; Các biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu do Công an huyện H lập ngày 26-02-2024 tại Bệnh viện đa khoa huyện H; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông đường bộ do Công an huyện H lập ngày 28-02-2024; Biên bản xem xét dấu vết trên quần áo của nạn nhân Trần Ngọc D và anh Bùi Văn N2 do Công an huyện H lập ngày 28-02-2024; Các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu do Công an huyện H lập ngày 26-02-2024; Biên bản khám nghiệm pháp y về tử thi do Phòng K Công an tỉnh T lập ngày 26-02-2024; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 275/KLGĐTT-KTHS ngày 12-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Công văn số 137 ngày 01-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định số 2142 ngày 09-4-2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Quốc C; anh Nguyễn Văn H1; ông Nguyễn Văn H và anh Lê Minh N3; Lời khai của bà Bùi Thị L1, anh Bùi Văn N2 cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/02/2024; bị cáo Trần Văn N đã có hành vi điều khiển xe công nông ba bánh tự chế (là loại xe bị đình chỉ tham gia giao thông theo quy định tại mục 2 Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 của Chính phủ quy định về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông) đi trên đường trục xã Đ theo hướng từ đền T1 lên đê Hữu Luộc mục đích rẽ phải ra bãi chở gạch. Khi đi đến đỉnh đoạn đường dốc dẫn lên đê là khu vực ngã 5 giao cắt giữa đường Đ với đường trục đã Đoan Hùng và đường gom dân sinh thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình do thiếu chú ý quan sát, khi chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ, không nhường đường cho xe đi đến từ bên phải tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến nên xe do bị cáo N điều khiển đã đâm vào bên trái xe mô tô biển kiểm soát 17K7-3813 do anh Bùi Văn N2 điều khiển chở cháu Trần Ngọc D đi từ đường gom dân sinh ven đê phía bên phải theo chiều đi của N. Hậu quả cháu D bị ngã bị chấn thương sọ não, chết trên đường đi cấp cứu.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn N đã vi phạm quy định tại khoản 1, 2 Điều 15, khoản 1 Điều 24 Luật giao thông đường bộ

Điều 15. Chuyển hướng xe

  1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.
  2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Điều 24. Nhường đường tại nơi đường giao nhau.

Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc độ và nhường đường theo quy định sau đây:

  1. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải;

Vì vậy, đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điều 260: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

...;

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng, đối với hành vi phạm tội của bị cáo H2 thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ. Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng. Vì vậy cần phải lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào . Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn tỏ ra ăn năn, hối cải; sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Ba. Vì vậy bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo bản thân do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có tác dụng giáo dục và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm bồi thường: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận việc bị cáo đã bồi thường xong cho người đại diện theo hợp pháp của bị hại số tiền là 130.000.000 đồng và người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Xét thấy sự thỏa thuận này là tự nguyện, không trái pháp luật nên cần ghi nhận.

[7] Đối với hư hỏng của chiếc xe mô tô BKS 17K7-3813 sơn màu đỏ đen, dán nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông thuộc sở hữu của anh N2, anh N2 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với anh Bùi Văn N2 có hành vi điều khiển xe mô tô, biển số đăng ký: 17K7- 3813 không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy”; chở người ngồi trên xe không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy”; điều khiển xe trên đường mà trong hơi thở có nồng độ cồn 0,319 mg/L, vi phạm điểm n, o khoản 3, điểm c khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021); điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh 108cm3 không có Giấy phép lái xe vi phạm điểm a khoản 5 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021) và không làm thủ tục đăng ký sang tên xe theo quy định khi mua xe mô tô BKS 17K7- 3813 từ năm 2022 vi phạm điểm a khoản 4 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021). Ngày 02-5-2024, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Bùi Văn N2, hình thức phạt tiền, số tiền 7.500.000 đồng là đúng quy định.

Đối với với bị cáo Trần Văn N đã có hành vi: Điều khiển xe công nông ba bánh tự chế tham gia giao thông là loại xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông, vi phạm quy định tại điểm c khoản 7 Điều 16 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021). Ngày 02-5-2024, Công an huyện H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn N, hình thức phạt tiền, số tiền 11.000.000 đồng, hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu phương tiện sản xuất, lắp ráp trái phép là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 áo khoác rét màu xanh rêu, có mũ liền thân; 01 quần vải âu màu đen; 01 áo khoác rét màu hồng, có mũ liền thân bởi khóa, có khóa kéo màu hồng; 01 chiếc quần dài ống màu đen, cạp chun; 01 áo phông dài tay cổ tròn màu hồng; 01 áo len cổ tròn màu cam viền đen trắng; 01 chiếc cặp sách dạng ba lô màu tím hồng; 03 đầu que tăm bông chứa máu của nạn nhân Trần Ngọc D; 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn N, số [...]; 01 xe công nông ba bánh tự chế sơn màu xanh, có thùng hàng, trên xe không có hàng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 xe mô tô BKS 17K7-3813 sơn màu đỏ đen, dán nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, đã bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giá để chân xe mô tô, đã bị hư hỏng; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0033464, tên chủ xe Nguyễn Văn H1.

Đối với 01 áo khoác rét màu xanh rêu, có mũ liền thân; 01 quần vải âu màu đen; 01 áo khoác rét màu hồng, có mũ liền thân bởi khóa, có khóa kéo màu hồng; 01 chiếc quần dài ống màu đen, cạp chun; 01 áo phông dài tay cổ tròn màu hồng; 01 áo len cổ tròn màu cam viền đen trắng; 01 chiếc cặp sách dạng ba lô màu tím hồng; 03 đầu que tăm bông chứa máu của nạn nhân. Quá trình điều tra xác định đây là đồ vật của cháu D nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho anh N2 là bố đẻ cháu D là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với: 01 Giấy phép lái xe hạng C mang tên Trần Văn N, số310167852687 qua điều tra, xác minh xác định đây là tài sản của Trần Văn N nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả cho bị cáo N là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe công nông ba bánh tự chế sơn màu xanh, có thùng hàng, trên xe không có hàng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 xe mô tô BKS 17K7-3813 sơn màu đỏ đen, dán nhãn hiệu HONDA WAVE ALPHA, đã qua sử dụng, bị hư hỏng do tai nạn giao thông; 01 giá để chân xe mô tô, đã bị hư hỏng; 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 0033464, tên chủ xe Nguyễn Văn H1 Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra Quyết định xử lý vật chứng chuyển cho Đ, Công an huyện H để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[9] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà là phù hợp nên cần chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  4. Về trách nhiệm bồi thường: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 591 Bộ luật dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo với những người đại diện hợp pháp của bị hại về việc bị cáo đã bồi thường xong cho những người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng) và không yêu cầu bị cáo N phải bồi thường thêm khoản nào tiền khác.
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp cho bị hại;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Hưng Hà;
  • - Công an huyện Hưng Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Hà;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Bích Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 67/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn Ng phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger