Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐĂK LĂK

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30-8-2024

“V/v: Kiện ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Xuân Cường

Các hội thẩm nhân dân gồm có: Ông Y Manh A Drơng và ông Vũ Xuân Thụ

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Hòa – Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo: Ông Phan Đình Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2024/TLST-HN&GĐ, ngày 14 tháng 6 năm 2024 về việc “Kiện ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST–HNGĐ, ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Bùi Thị N, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk

Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Bị đơn: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1979. Địa chỉ: Thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk. Đề nghị xét xử vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Bùi Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông P chung sống với nhau từ năm 2021, đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi ông P bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, thỉnh thoảng ông P còn đánh đập tôi, hiện chúng tôi đã sống ly thân. Mâu thuẫn giữa tôi và ông P không hàn gắn được, tôi không còn tình cảm với ông P, nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông P.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chúng tôi có 02 người con chung là: Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 và Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021. Nếu ly hôn tôi đồng ý để ông P nuôi Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021 còn tôi nuôi Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 đến khi các con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai của ông Bùi Văn P trình bày:

Tôi và bà N chung sống với nhau từ năm 2021, có đăng ký kết hôn. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tôi và bà N bất đồng về quan điểm sống, không có tiếng nói chung, chúng tôi đã sống ly thân được một thời gian. Hiện tôi không còn tình cảm với bà N nên tôi đồng ý lý hôn với bà N.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, chúng tôi có 02 người con chung là: Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 và Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021. Nếu ly hôn tôi đồng ý nuôi Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021 còn bà N nuôi Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 đến khi các con chung trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:

Về thu tục tố tụng: Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, Tòa án đã thu thập đầy đủ và đúng trình tự theo quy định pháp luật về tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã chấp hành đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện việc bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà N được ly hôn với ông P.

- Về con chung: Cần giao cháu Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021 cho ông P nuôi dưỡng; giáo cháu Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 cho bà N nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành.

- Về cấp dưỡng: Hiện các đương sự không yêu cầu, nên không xem xét.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

Ngoài ra, nguyên đơn bà N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục: Bà Bùi Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Bùi Văn P có địa chỉ tại thôn H, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo theo quy định tại Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Nguyên đơn bà N và bị đơn ông P có yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vây, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải được và tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
  3. [2] Về nội dung:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông P chung sống với nhau vào năm 2021, đến năm 2022 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk trên cơ sở tự nguyện, nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với bà N và ông P.
    • Theo lời trình bày của bà N, ông P và xác minh tại chính quyền địa phương đã có căn cứ xác định: Trong quá trình chung sống giữa bà N và ông P thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai người không hợp nhau, không có tiếng nói chung, ông P có đánh đập bà N. Hiện bà N và ông P đã sống ly thân một thời gian. Do đó, xét thấy mâu thuẫn giữa bà N và ông P đã kéo dài, trầm trọng, giữa hai người không còn thương yêu, chăm sóc, quý trọng lẫn nhau. Vì vậy, việc bà N yêu cầu ly hôn với ông P là có căn cứ, cần chấp nhận.
  4. [3] Về con chung: Nếu ly hôn bà N và ông P đã thống nhất là bà N nuôi con chung là Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023; ông P nuôi con chung là Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021. Vì vậy, cần giao các con chung cho bà N, ông P chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và nuôi dưỡng khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.
  5. [4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hiện tại bà N và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  6. [5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
  7. [6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị N. Bà Bùi Thị N được ly hôn với ông Bùi Văn P.

  1. Về con chung: Giao cháu Bùi Vy O, sinh ngày 06/05/2023 cho bà N nuôi dưỡng; giao cháu Bùi Tuấn L, sinh ngày 09/7/2021 cho ông P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
  2. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Bùi Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Ea H'Leo theo Biên lai số AA/2023/0002105 ngày 31/5/2024.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện KSND huyện Ea H'leo;
  • - Thi hành án huyện Ea H'leo;
  • - Toà án nhân dân tỉnh ĐăkLăk;
  • - UBND xã Ea Nam (Số 111/2022)
  • - Lưu hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK về kiện ly hôn

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Năm. Bà Bùi Thị Năm được ly hôn với ông Bùi Văn Phúc.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger