Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 76/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 29-5-2024

V/v Xin ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Việt Khái.

Ông Lâm Ngọc Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Nguyên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 370/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2023 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Ký Thị D, sinh năm 1984 (Xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1975 (Xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C. Địa chỉ cư trú: Số A, L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng P. Chức vụ: Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện P (Theo văn bản ủy quyền số 7300/QĐ – NHCS ngày 19/9/2019).

Người được ông P ủy quyền lại: Ông Đỗ Phi L. Chức vụ: Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện P (Theo văn bản ủy quyền số 56/QĐ – NHCS ngày 15/3/2024) (Xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 11 năm 2023 cùng các văn bản khác kèm theo nguyên đơn bà Ký Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Vào năm 2001, bà và ông Trần Văn N sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau rất hạnh phúc. Tuy nhiên thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Văn N.

Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung tên Trần Phi H, sinh ngày 21 tháng 02 năm 2002; người con tên Trần Phi T1, sinh ngày 10 tháng 11 năm 2005 và Trần Trung H1, sinh này 28 tháng 5 năm 2016. Hiện 02 người con tên Trần Phi H và Trần Phi T1 đã đủ tuổi trưởng thành và có thể nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Con chung tên Trần Trung H1 do ông Trần Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà yêu cầu tiếp tục giao con chung tên Trần Trung H1 cho ông Trần Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại biên bản ghi lời khai ngày 21 tháng 12 năm 2023 bị đơn ông Trần Văn N trình bày: Về quan hệ hôn nhân, con chung ông thống nhất như bà D trình bày; hiện các người con chung đều sống với ông. Về tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung có khoản nợ vay Ngân hàng C chi nhánh huyện P khoảng 37.000.000 đồng, ông yêu cầu chia nợ và xin xét xử vắng mặt.

- Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng C chi nhánh huyện P có văn bản trình bày ý kiến ngày 29/3/2024 như sau: Qua rà soát ông Trần Văn N (người vay) và bà Ký Bé D1 (Người ủy quyền) có vay vốn tại Phòng C chi nhánh huyện P tính đến ngày 29/3/2024 là 37.192.000 đồng (gốc 37.000.000 đồng, lãi suất 192.000 đồng), chương trình vay vốn hộ mới thoát nghèo, vay ngày 07/12/2019 và hạn trả đến ngày 06/01/2025. Phòng C chi nhánh huyện P không yêu cầu Tòa án xét xử món nợ của ông N và bà D1, đồng thời xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về ly hôn, nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung, không chấp nhận yêu cầu chia nợ chung của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Ký Thị D với ông Trần Văn N được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Trần Văn N là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bà Ký Thị D, ông Trần Văn N, Phòng C chi nhánh huyện P đề nghị xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Ký Thị D, ông Trần Văn N, Phòng C chi nhánh huyện P.

[3] Về hôn nhân: Bà Ký Thị D với ông Trần Văn N sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn. Bà Ký Thị D xác định quá trình sống chung với nhau, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Ký Thị D được ly hôn với ông Trần Văn N. Bà Ký Thị D và ông Trần Văn N sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2001 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa bà Ký Thị D và ông Trần Văn N vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại các Điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà Ký Thị D và ông Trần Văn N không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Ký Thị D và ông Trần Văn N không được công nhận là vợ chồng.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung, 02 người đã trưởng thành và tự lao động nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với người con chung tên Trần Trung H1, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2016 hiện do ông Trần Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Khi ly hôn, bà D yêu cầu tiếp tục giao con cho ông Trần Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Đối với yêu cầu nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con của bà D, ông N không có ý kiến phản đối. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà D, giao người con chung tên Trần Trung H1, sinh ngày 28 tháng 5 năm 2016 cho ông Trần Văn N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, bà Ký Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Bà Ký Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Về nợ chung: Ông Trần Văn N cho rằng vợ chồng sống chung có vay Ngân hàng C 37.000.000 đồng. Tại văn bản số 89/CV-NHCS ngày 29/3/2024 của Phòng C chi nhánh huyện P không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không chấp nhận yêu cầu của ông Trần Văn N về yêu cầu chia nợ chung của vợ chồng. Ngân hàng không khởi kiện yêu cầu ông N, bà D trả nợ vay nên Tòa án không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp, Ngân hàng có quyền khởi kiện vụ án theo quy định pháp luật.

[6] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về nội dung vụ án là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Ký Thị D phải chịu là 300.000 đồng. Bà Ký Thị D đã nộp tạm ứng án phí được đối trừ, chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 14, 15, 53, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Ký Thị D với ông Trần Văn N là vợ chồng.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Trung H1, sinh này 28 tháng 5 năm 2016 cho ông Trần Văn N nuôi dưỡng. Bà Ký Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Bà Ký Thị D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình là 300.000 đồng, bà Ký Thị D phải chịu. Bà Ký Thị D đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003038 ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn B
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 76/2024/HNGĐ-ST ngày 29/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn

  • Số bản án: 76/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger