|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST. Ngày: 20-9-2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn, chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuấn Em
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Minh
Bà Cao Thị Diệu Hiền
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 69/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân Gia đình về ly hôn, chia tài sản chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 03/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hồ Kim H, sinh năm 1956.
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường A, TP ., Đ.
Người đại diện ủy quyền nguyên đơn: Chị Lại Phan Xuân Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số B, Lê Thị R, Khóm B, Phường A, Tp ., tỉnh Đ.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Hồ Thị Xuân H1, Văn phòng L1, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trường X, sinh năm 1961.
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường A, TP ., Đ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Hồ Xuân T, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số B, khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
2
Tại phiên tòa, bà H1, chị Đ, Luật sư H1, ông X có mặt, chị Thanh vắng M.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn bà Hồ Kim H và người đại diện ủy quyền của bà H là chị Lại Phan Xuân Đ trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông X quen biết nhau năm 1989, đến năm 1991 thì bà H và ông X sống chung như vợ chồng, có tổ chức đám cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Lý do bà H và ông X không đăng ký kết hôn là do ông X không chịu đăng ký kết hôn. Sau khi sống chung thì vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2000 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình, quan điểm sống khác nhau. Nay bà H nhận thấy không còn tình cảm với ông X, bà H không thể tiếp tục chung sống với ông X. Bà H yêu cầu ly hôn ông X.
- - Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Xuân T, sinh năm 1995, hiện con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về chia tài sản chung: Bà H và ông X có tài sản chung là căn nhà trên đất tại số B, khóm T, phường A, TP ., tỉnh Đ, căn nhà này xây dựng năm 1992 sau khi bà H và ông X sống chung, lúc đầu là nhà tre lá, đến năm 1993 cất nhà tường gạch, mái tole, sau đó sửa nhà nhiều lần như hiện nay. Bà H đồng ý trả cho ông ½ giá trị tài sản căn nhà trên đất theo giá Hội đồng định giá cho ông Nguyễn Trường X bằng tiền làm tròn là 66.500.000 đồng (Diện tích căn nhà là 83m² x giá trị còn lại 40% x giá căn nhà là 4.008.000 đồng/m²).
Đối với thửa đất 173, tờ bản đồ số 43, diện tích qua đo đạc thực tế là 89,8m², đất tọa lạc tại khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đ là tài sản cá nhân của bà H, nguồn gốc thửa đất số 173 này là do bà H nhận chuyển nhượng của ông Phạm Hồng Đ1 năm 1990, với giá 300.000 đồng, thời điểm bà H nhận chuyển nhượng thửa đất số 173 từ ông Phạm Hồng Đ1 thì bà H và ông X chưa sống chung như vợ chồng, sau khi nhận chuyển nhượng đất thì năm 1991 bà H và ông X mới sống chung như vợ chồng. Tiền nhận chuyển nhượng thửa đất số 173 là tiền lương của bà H (làm giáo viên trường P (sau này đổi thành trường Trần Thị N), tiền giành giụm, tiền chơi hụi...), ông X không có đóng góp tiền gì, vì thời điểm này bà H chưa có sống chung với ông X. Do đây là tài sản riêng của bà H nên ngày 08/11/1994, bà H được UBND thị xã S (nay là thành phố S) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cá nhân bà H. Quá trình sử dụng đất, đến ngày 31/5/2004 thì bà H có làm thủ tục cấp đổi thành giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp thành hộ bà Hồ Kim H, thời điểm này trong hộ bà H cũng chưa có tên ông X là thành viên. Đến ngày 20/5/2022, cấp đổi thành 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do tách đơn vị hành chính từ xã T thành xã T (T) và Phường A (thửa 173) thời điểm này trong hộ bà H có tên ông Nguyễn Trường X, do thời điểm năm 2004 thì cấp cho hộ bà Hồ Kim H nên khi cấp đổi lại giấy chứng nhận cũng cấp vào năm 2022 cho bà H thì cũng ghi là cấp cho hộ bà Hồ Kim H nhưng do vào năm 2013 ông X có xin vào
3
hộ khẩu bà H nên giấy chứng nhận cấp ngày 20/5/2022 cho hộ bà Hồ Kim H (theo hộ khẩu năm 2022 thì có tên ông Nguyễn Trường X trong hộ). Ngoài ra, do theo mẫu kê khai giấy chứng nhận cấp đổi bà H ghi tên chồng là ông Nguyễn Trường X vào, bà H không có ý nhập tài sản riêng thành tài sản chung vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án, đối với yêu cầu của ông X yêu cầu chia thửa đất số 173, tờ bản đồ 43, diện tích 89,8m² thành 02 phần, ông X yêu cầu nhận ½ giá trị theo giá Hội đồng định giá là 112.250.000 đồng (giá đất 2.500.00 đồng/m2 x diện tích thửa đất 173 là 89,8m²) thì bà H không đồng ý, vì đây là tài sản cá nhân bà H mua trước khi sống chung với ông X.
Đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích 932,6m², đất tọa lạc tại xã T, TP S, đây là tài sản cá nhân của bà H, bà H không yêu cầu giải quyết, còn các tài sản khác ngoài thửa đất số 47, 173 và căn nhà trên trên đất tại số B, khóm T, phường A, thành phố S thì bà H và ông Xuân T1 thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
Đối với bà Huỳnh Kim L đã tự di dời đi nơi khác sinh sống, không còn cư trú tại số B, khóm T, phường A, TP ., Đ nữa, nên bà H không yêu cầu gì đối bà Huỳnh Kim L và không yêu cầu đưa bà L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có ý kiến chỉ chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn khi bị đơn đồng ý ký thủ tục cho bà H được đứng tên cá nhân thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích 932,6m², đất tọa lạc tại xã T, TP S (thửa đất này bà H, ông X không tranh chấp, yêu cầu giải quyết trong vụ án này), phía nguyên đơn đề nghị tạm ngừng phiên tòa để cho Nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận. Tại phiên tòa mở lại ngày 20/9/2024 nguyên đơn trình bày giữa nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận xong về tài sản tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7 nên phía nguyên đơn đồng ý chia tài sản theo yêu cầu phản tố của bị đơn.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, bà H không yêu cầu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Trường X trình bày:
- - Về hôn nhân: Ông X và bà H sống chung với nhau từ năm 1988, không có đăng ký kết hôn, từ khi sống chung, ông X không có mâu thuẫn gì với bà H, việc không đăng ký kết hôn không phải lỗi của ông X mà do bà H chịu. Nay bà H yêu cầu ly hôn thì ông X đồng ý, do bà H và ông X không đăng ký kết hôn.
- - Về chia tài sản chung: Đối với thửa đất 173, tờ bản đồ số 43, diện tích qua đo đạc thực tế là 89,8m², và căn nhà trên đất tại số B, khóm T, phường A, thành phố S đất và nhà tọa lạc tại khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đ đây là tài sản chung của ông X và bà H, nguồn gốc thửa đất số 173 này là do ông X và bà H nhận chuyển nhượng của ông Phạm Hồng Đ1 năm 1990, với giá 300.000 đồng, thời
4
điểm nhận chuyển nhượng thửa đất số 173 từ ông Phạm Hồng Đ1 thì bà H và ông X đã sống chung như vợ chồng từ năm 1988, sau khi nhận chuyển nhượng đất thì bà H và ông X mới xây nhà trên đất. Tiền mua đất là của ông X và bà H. Hiện tại thửa đất 173 này cấp cho hộ bà Hồ Kim H, trong hộ bà H có tên ông X nên đây là tài sản chung của ông X và bà H.
Nay ông X yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 173, tờ bản đồ 43 và căn nhà trên đất, hiện quyền sử dụng đất do hộ bà Hồ Kim H đứng tên, nhà và đất tọa lạc tại khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đ thành 02 phần, ông X một phần, bà H một phần. Ông X thống nhất với diện tích đất qua đo đạc tại thửa đất 173 là 89,8m² và diện tích căn nhà trên thửa đất số 173, tọa lạc tại số B, khóm T, phường A, TP Đ có diện tích đo đạc là 83m². Ông X đồng ý cho bà H được quản lý, sử dụng thửa đất số 173 và căn nhà trên đất tại số B, khóm T, phường A, Tp S, ông X yêu cầu bà H trả 1/2 giá trị đất theo giá Hội đồng định giá là 112.250.000 đồng (giá đất 2.500.00 đồng/m² x diện tích thửa đất 173 là 89,8m²) và trả ½ giá trị tài sản căn nhà trên đất theo giá Hội đồng định giá làm tròn là 66.500.000 đồng (Diện tích căn nhà là 83m² x giá trị còn lại 40% x giá căn nhà là 4.008.000 đồng/m²). Tổng cộng giá trị đất và căn nhà bà H phải trả cho ông X là 178.750.000 đồng. Ngoài tài sản là thửa đất 173, tờ bản đồ số 43 và căn nhà tại số B, khóm T, phường A, TP ., Đ thì các tài sản khác ông X và bà H tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết. Tại phiên tòa, bị đơn cũng đồng ý ngừng phiên tòa để bị đơn và nguyên đơn thỏa thuận, sang tên thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích 932,6m², đất tọa lạc tại xã T, TP S. Tại phiên tòa ngày 14/9/2024 thì bị đơn ông X cũng đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn xin tạm ngừng phiên tòa để nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận đối tài sản không tranh chấp trong vụ án này tại thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7.
- - Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Xuân T, sinh năm 1995, hiện con đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, ông X không yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hồ Xuân T vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án có ý kiến trình bày:
Chị Nguyễn Hồ Xuân T là con của bà Hồ Kim H và ông Nguyễn Trường X. Chị T, bà H và ông X cùng ngụ số B, khóm T, phường A, Tp S, tỉnh Đ.
Trong vụ án tranh chấp của bà Hồ Kim H và ông Nguyễn Trường X, chị T hoàn toàn không có yêu cầu, ý kiến gì.
Đối với thửa đất 173, tờ bản đồ 43, diện tích 89,8m² và căn nhà trên thửa đất 173, đất và nhà tại nhà số B, khóm T, phường A, TP ., Đ, chị Nguyễn Hồ Xuân T không có đóng góp tiền để mua thửa đất 173, cũng không có đóng góp tu bổ tài sản đất như địa chỉ trên.
5
Đối với yêu cầu tranh chấp của bà Hồ Kim H và ông Nguyễn Trường X, chị T không có ý kiến gì. Văn bản trình bày này thay cho sự vắng mặt của chị T tại Tòa.
Ngoài ra, chị T không yêu cầu gì khác.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật sư Hồ Thị Xuân H1 phát biểu quan điểm bảo vệ:
Vị luật sư đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, không công nhận bà H1 và ông X là vợ chồng.
Về con chung: Con chung Nguyễn Hồ Xuân T đã thành niên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: Thửa đất số 173, cấp cho cá nhân bà H1 vào năm 1994, bà H1 và ông X sống chung nhưng không đăng ký kết hôn, ông X không có gì chứng minh đây là tài sản chung với bà H1, cũng không chứng minh có công sức đóng góp, tôn tạo tài sản. Đến năm 2004, bà H1 cấp đổi đất do quy định đất cấp thành hộ, thời điểm này hộ bà H1 có tên Nguyễn Hồ Xuân T2, chưa có tên ông X. Đến năm 2022 khi cấp đổi đất thì thời điểm này hộ khẩu bà H1 có tên ông X, đây là thủ tục hành chính, nhưng ông X không có đóng góp công sức. Bị đơn tranh chấp tài sản chung, không tranh chấp tài sản hộ, bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh tài sản chung vợ chồng. Nguyên đơn chỉ đồng ý chia ½ gia trị căn nhà theo giá hội đồng định giá cho ông X, không đồng ý chia ½ giá trị đất theo yêu cầu phản tố của bị đơn.
Ngoài ra, tại phiên tòa hôm nay (ngày 14/9/2024), giữa nguyên đơn và bị đơn đồng ý thỏa thuận đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích 932,6m², đất tọa lạc tại xã T, TP S, trong trường hợp bị đơn đồng ý làm thủ tục sang tên cho cá nhân của bà H1 đứng tên thì nguyên đơn đồng ý trả ½ giá trị đất và căn nhà theo yêu cầu của bị đơn là 178.750.000 đồng, nguyên đơn bà H1 được quyền quản lý, sử dụng thửa đất 173 và căn nhà tại số B, khóm T, phường A, thành phố S. Do đó vị Luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ngừng phiên tòa để các bên thỏa thuận, làm thủ tục sang tên thửa đất.
Về nợ chung, không có, không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến khi xét xử và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 9, 111, 33, 43, 59 Luật hôn nhân và gia đình.
Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hồ Kim H và anh Nguyễn Trường X.
6
Về nuôi con chung: Có 01 con chung đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chia tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của ông X. Ghi nhận sư tự nguyện của nguyên đơn bà H về việc chia ½ giá trị căn nhà và chia ½ giá trị đất cho ông X theo giá thị trường do Hội đồng định giá đã định.
Về nợ chung: Không có.
Đương sự nộp án phí hôn nhân sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm (đối với tài sản dược chia) theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Hồ Kim H khởi kiện yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân gia đình về ly hôn, chia tài sản chung”. Bị đơn ông Nguyễn Trường X cư trú tại thành phố S nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Hồ Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T theo thủ tục chung.
[3]. Về nội dung: Xét yêu cầu của bà Hồ Kim H về việc yêu cầu ly hôn, chia tài sản chung với ông Nguyễn Trường X, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1]. Về hôn nhân: Bà H xác định sống chung vợ chồng với ông X năm 1991, còn ông X cho rằng chung sống như vợ chồng với bà X từ năm 1988, trên cơ sở tự nguyện, nhưng cả hai xác định không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý...”.
Đồng thời, tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“1. N1, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”.
Lẽ ra, trong quá trình chung sống với nhau như vợ chồng đến nay, bà H, ông X phải có nghĩa vụ đăng ký kết hôn để được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp, nhưng bà H và ông X đã không tuân thủ việc kết hôn theo quy định của pháp luật, nên quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông X không có giá trị về mặt pháp
7
lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hơn nữa, trong quá trình chung sống với nhau, giữa bà H và ông X đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, do quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Từ đó, vợ chồng thường xuyên cự cãi, dẫn đến tình cảm ngày càng bị tổn thương rạn nứt không thể hòa giải, hàn gắn. Nay anh, chị đều xác định tình cảm không còn, cả hai đều có nguyện vọng được ly hôn. Tuy nhiên, do anh, chị không có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật nên không thể công nhận sự thuận tình ly hôn.
Tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.
Do đó, căn cứ vào Khoản 1 Điều 14 và Khoản 2 Điều 53, Hội đồng xét xử không công nhận bà H và ông X là vợ chồng.
[3.2]. Về con chung: Bà H và ông X có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Xuân T, sinh năm 1995, hiện con đã thành niên, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết.
[3.3]. Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, bị đơn ông X có yêu cầu phản tố đồng ý giao thửa đất 173, tờ bản đồ 43, diện tích 89,8m² và căn nhà tại số B, khóm T, Phường A cho bà H quản lý, sử dụng, đất và nhà tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S, nhưng bà H phải trả cho ông X ½ giá trị thửa đất số 173, tờ bản đồ số 43 theo giá Hội đồng định giá đã định là 112.250.000 đồng và ½ giá trị căn nhà tại số B, khóm T, Phường A (Căn nhà trên thửa đất 173) theo giá Hội đồng định giá đã định là 66.500.000 đồng, tổng cộng bà H phải trả giá trị đất và nhà cho ông X là 178.750.000 đồng. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà H đồng ý theo yêu cầu ông X, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[3.4]. Về nợ chung: Bà H và ông X xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp tài sản hộ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị T xác định không có phần, không có công sức đóng góp gì đối với thửa đất số 173 và tại phiên tòa bị đơn ông X đồng ý cho bà H được quản lý, sử dụng thửa đất 173 và căn nhà trên đất và bà H đồng ý trả ½ giá trị thửa đất số 173 và căn nhà trên đất cho ông X với số tiền 178.750.000 đồng, do đó Hội đồng xét xử công nhận thửa đất số 173 và căn nhà trên đất cho bà H được quyền quản lý, sử dụng.
[5]. Đối với thửa đất số 47, tờ bản đồ số 7, diện tích 932,6m², đất tọa lạc tại xã T, TP S và các tài sản khác các đương sự không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
8
[4]. Đối với ý kiến đề nghị của vị luật sư là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận
[5]. Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về án phí: Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được chấp nhận, nên bà H chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận về tài sản chung nên bà H và ông X phải chịu án phí đối với phần tài sản mình được nhận theo quy định pháp luật. Do bà H, ông X là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên bà H, ông X được miễn án phí theo quy định pháp luật.
[7]. Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Chi chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.947.000 đồng. Do ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn nên mỗi bện phải chịu ½ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 71, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Hồ Kim H. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Hồ Kim H và ông Nguyễn Trường X.
- Về nuôi con chung: Bà H và ông X có 01 con chung tên Nguyễn Hồ Xuân T, sinh năm 1995, hiện con đã thành niên nên không xem xét, giải quyết.
- Về chia tài sản chung:
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn và bị đơn.
Bà Hồ Kim H được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 173, tờ bản đồ 43, diện tích 89,8m² và căn nhà trên đất tại số B, khóm T, Phường A, thành phố S, đất và nhà tọa lạc tại khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đ.
Bà Hồ Kim H có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Trường X ½ giá trị thửa đất số 173, tờ bản đồ số 43 là 112.250.000 đồng và ½ giá trị căn nhà tại số B, khóm T, Phường A, thành phố S là 66.500.000 đồng. Tổng cộng là 178.750.000 đồng (Một trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu trả tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại các Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được điều chỉnh, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
(Kèm theo là biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá cùng ngày 06/6/2024 và sơ đồ đo đạc hiện trạng phần đất tranh chấp xác nhận ngày 28/8/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố S)
- Về nợ chung: bà Hồ Kim H và ông Nguyễn Trường X xác định không có nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
- - Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn và chia tài sản chung cho bà Hồ Kim H, do bà H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
- Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về chia tài sản chung cho ông Nguyễn Trường X, do ông X là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
- Về chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.473.500 đồng, bị đơn phải chịu chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 2.473.500 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.947.000 đồng nên bị đơn ông X phải trả lại cho nguyên đơn bà H số tiền là 2.473.500 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tuấn Em |
9
10
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình về ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
