|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 67/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/11/2024
V/v: tranh chấp không công nhận
quan hệ vợ chồng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Khánh Xuân
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Thanh Phong
- Ông Ngô Minh Thi
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Thanh Xuân, thư ký Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 155/2024/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Cẩm H, sinh năm 1976
- Bị đơn: Ông Đặng Minh P, sinh năm 1971
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Nơi cư trú: khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trương Thị Cẩm H trình bày: bà và ông Đặng Minh P tự nguyện tiến tới hôn nhân và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống bà và ông P có 04 con chung tên Đặng Thị Yến N (nữ) sinh ngày 07/7/1997, Đặng Đức D (nam) sinh ngày 15/4/2001, Đặng Thị Diệu T (nữ) sinh ngày 31/10/2009 và Đặng Trương Đ (nam) sinh ngày 28/11/2020; về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, ông P không quan tâm gia đình, bà Cẩm H đã cố gắng nhẫn nhịn để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả nên ông bà đã sống ly thân hơn một năm nay. Xét thấy hôn nhân không mang lại hạnh phúc nên bà Cẩm H yêu cầu tòa án xem xét không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông P. Về con chung: bà yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con là Đặng Thị Diệu T (nữ) sinh ngày 31/10/2009 và Đặng Trương Đ (nam) sinh ngày 28/11/2020 đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Đối với Đặng Thị Yến N (nữ) sinh ngày 07/7/1997, Đặng Đức D (nam) sinh ngày 15/4/2001 đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Đặng Minh P thì cho rằng: ông thống nhất với lời trình bày của bà Cẩm H về quá trình tiến tới hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung. Ông đồng ý không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Cẩm H. Về con chung: ông và bà Cẩm H chung sống với nhau có 04 con chung, 02 con lớn đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết; ông yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung là Đặng Thị Diệu T (nữ) sinh ngày 31/10/2009 và Đặng Trương Đ (nam) sinh ngày 28/11/2020 đến trưởng thành, không yêu cầu bà Cẩm H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Cẩm H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ông Đặng Minh P vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày về quá trình chung sống cũng như nguyên nhân mâu thuẫn; ông đồng ý giao hai con chung là cháu Diệu T và cháu Trương Đ cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: vụ kiện đã được thụ lý, giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[2] Xét về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: theo đơn khởi kiện bà Trương Thị Cẩm H yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Đặng Minh P. Hội đồng xét xử thấy rằng tranh chấp giữa các bên đương sự là tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa công dân với công dân thuộc ngành Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ô Môn theo khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn: bà H và ông P tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1996 nhưng không có đăng ký kết hôn nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Theo Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”. Tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”.
Hội đồng xét xử thấy rằng, bà H và ông P đều xác định ông bà chung sống với nhau không đăng ký kết hôn, trong cuộc sống gia đình có nhiều bất đồng, thường xuyên cự cãi, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, ông bà cũng đã sống ly thân để cho các bên thời gian suy nghĩ, hàn gắn nhưng không có kết quả. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân giữa bà H và ông P không có sự thương yêu, gắn bó, quan tâm, chăm sóc và tôn trọng lẫn nhau, đồng thời bà H và ông P đều thống nhất yêu cầu không công nhận vợ chồng giữa ông bà nên có cơ sở chấp nhận.
[4] Xét yêu cầu của bị đơn ông Đặng Minh P thấy rằng tại phiên tòa ông P đồng ý giao hai con chung là cháu Đặng Thị Diệu T và Đặng Trương Đ cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu Đặng Thị Yến N và Đặng Đức D đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết; đây là sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự không trái với với quy định nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5] Về con chung: bà H và ông P thống nhất ông bà có 04 con chung là Đặng Thị Yến N, Đặng Đức D đã trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Ông P bà H thống nhất thỏa thuận giao cháu Đặng Thị Diệu T (nữ) sinh ngày 31/10/2009 và Đặng Trương Đ (nam) sinh ngày 28/11/2020 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, ông P không phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về tài sản chung và nợ chung: bà H ông P xác định là không có nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
[7] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 14, Điều 53; Điều 81; Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trương Thị Cẩm H với ông Đặng Minh P.
Về con chung: giao cháu Đặng Thị Diệu T (nữ) sinh ngày 31/10/2009 và Đặng Trương Đ (nam) sinh ngày 28/11/2020 cho bà Trương Thị Cẩm H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Đặng Minh P không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho ông Đặng Minh P theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Trương Thị Cẩm H với ông Đặng Minh P xác định là không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: bà Trương Thị Cẩm H phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002037 ngày 07/10/2024 thành án phí.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đặng Nguyễn Khánh Xuân |
Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN - TP.CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H-P
