Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

T PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67 /2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12.9.2024
V/v “ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, T PHỐ ĐÀ NẴNG

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Tùng
2. Ông Huỳnh Thanh Trà

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân quận Hải Châu, T phố Đ

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, T phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, T phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2024 về việc “ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 08 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc N – Sinh năm 1994. Địa chỉ: K T, phường H.Đ, quận C, T phố Đ (có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Bị đơn: Ông Phan Ngọc T – Sinh năm 1991. Địa chỉ: 2 Ô.I.K, phường H, quận H, T phố Đ. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam B, Tỉnh Thừa Thiên Huế ( xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Ngọc N trình bày: Bà và ông Phan Ngọc T kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, T phố Đ trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung tại địa chỉ nhà số B Ô Í, phường H, quận H, T phố Đ. Sau khi kết hôn, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Nguyên nhân chính là do anh Phan Ngọc T có sử dụng ma túy, bà N đã nhiều lần khuyên bảo Nng ông T không nghe nên đã xảy ra những mâu thuẫn và lời qua tiếng lại. Vì không có tiền để sử dụng ma túy nên ông Phan Ngọc T đã đi trộm cắp tài sản để phục vụ cho việc sử dụng ma túy. Tháng 05/2022 ông Phan Ngọc T đã bị lực lượng Công an bắt giữ và hiện nay đang chấp hành án tại trại giam B, tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình 08 năm chung sống, bà N và ông T không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống vợ chồng. Nay bà Huỳnh Thị Ngọc N xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phan Ngọc T

- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc N xác định vợ chồng có 03 con chung là Phan Ngọc T, sinh ngày 27/04/2016, Phan Ngọc T1, sinh ngày 19/04/2019 và Phan Huỳnh N2, sinh ngày 27/11/2021. Khi ly hôn, bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả ba cháu. Khi nào ông Phan Ngọc T chấp hành án trở về thì sẽ thay đổi quyền nuôi con, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Hải Châu đã tiến hành lấy lời khai của ông Phan Ngọc T và ông T thể hiện quan điểm không đồng ý ly hôn với bà N vì ông sắp chấp hành án xong và muốn nói chuyện trực tiếp với bà N. Đối với con chung ông T cũng có nguyện vọng được nuôi 03 con chung vì ông cho rằng kinh tế gia đình ông có đủ khả năng để nuôi được các con chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Ngọc N có đơn xin xét xử vắng mặt là hợp lệ. Bị đơn là ông Phan Ngọc T hiện đang chấp hành án tại Trại giam B cũng có đơn xin xét xử vắng mặt là hợp lệ. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Ngọc N về việc ly hôn với ông Phan Ngọc T; Giao 03 con chung là cháu Phan Ngọc T, sinh ngày 27/04/2016, Phan Ngọc T1, sinh ngày 19/04/2019 và Phan Huỳnh N2, sinh ngày 27/11/2021 cho bà Huỳnh Thị Ngọc N nuôi dưỡng; tài sản chung và nợ chung không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là ông Phan Ngọc T có nơi cư trú tại quận H, T phố Đ nên vụ án do Tòa án nhân quận H thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Phan Ngọc T hiện đang chấp hành án tại Trại giam B, tỉnh Thừa Thiên Huế, có đơn xin xét xử vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Phan Ngọc T2

[2] Về nội dung :

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Ngọc T tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, T phố Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 100/2015, ngày 05/11/2015). Hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Ngọc T đảm bảo các điều kiện cũng N thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Ngọc N kiên quyết xin ly hôn với ông Phan Ngọc T2 Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong quá trình chung sống, bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Ngọc T đã phát sinh mâu thuẫn từ nhiều năm, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do ông T thường xuyên sử dụng ma túy và hiện nay đang chấp hành án tại trại giam B, tỉnh Thừa Thiên Huế về tội trộm cắp tài sản. Trước đó, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải Nng không có kết quả mà ngày càng gay gắt. Nay, bà Ngọc N xác định không còn tình cảm với ông Ngọc T, hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Ngọc T2

Xét thấy hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Ngọc T đã thực sự mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Huỳnh Thị Ngọc N được ly hôn với ông Phan Ngọc T2

2.2. Về con chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc N xác định bà và ông Phan Ngọc T có 03 con chung là Phan Ngọc T, sinh ngày 27/04/2016, Phan Ngọc T1, sinh ngày 19/04/2019 và Phan Huỳnh N2, sinh ngày 27/11/2021. Xét thấy, thực tế kể từ thời điểm ông Phan Ngọc T chấp hành án cho đến nay, các con chung được bà Huỳnh Thị Ngọc N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên để đảm bảo quyền lợi của các con chung nên tiếp tục giao 03 con chung cho bà Huỳnh Thị Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Huỳnh Thị Ngọc N không yêu cầu ông Phan Ngọc T cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đề cập giải quyết.

2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc N và ông Phan Ngọc T xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Huỳnh Thị Ngọc N phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Ngọc N đối với ông Phan Ngọc T2 Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Huỳnh Thị Ngọc N được ly hôn với ông Phan Ngọc T2
  2. Về quan hệ con chung: Xử giao 03 con chung là Phan Ngọc T, sinh ngày 27/04/2016, Phan Ngọc T1, sinh ngày 19/04/2019 và Phan Huỳnh Ngọc N2, sinh ngày 27/11/2021 cho bà Huỳnh Thị Ngọc N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Phan Ngọc T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con

    Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Ngọc N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Huỳnh Thị Ngọc N phải chịu, N3 được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Ngọc N đã nộp theo biên lai thu số 0000324 ngày 22 tháng 05 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Ngọc N, ông Phan Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Ngọc Kinh Luân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 67/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger