|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/HC-ST
Ngày: 14-5-2024
V/v: “Khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhường
Ông Nguyễn Thanh Nhật
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Ông Võ Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 57/2023/TLST-HC, ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1950. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số A, Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An.
Người bị kiện: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T1 - Phó Giám đốc Sở T.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Anh T2 - Phó trưởng phòng Hành chính tổng hợp - Văn phòng Đăng ký đất đai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Quang C, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp R, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
(Ông T, bà T2 có mặt, ông T1, ông C có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện có nội dung như sau:
Bà Phạm Thị B khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781808, đối với thửa đất số 5035 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781809, đối với thửa đất số 5378, cùng tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 20/02/2019.
Lý do: Thửa đất số 1164, diện tích 1770m² (hiện tại là một phần thửa đất số 5378, một phần thửa đất số 5035) cùng tờ bản đồ số 3, loại đất thổ, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An có nguồn gốc do bà B khai hoang. Bà Phạm Thị B đã trực tiếp quản lý, sử dụng, có ranh giới rõ ràng, sử dụng ổn định lâu dài và không có tranh chấp từ đó cho đến nay. Phần diện tích trên cũng được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận cho bà Phạm Thị B vào ngày 15/10/1996, số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00682 QSDĐ/0406-LA, đến nay vẫn chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đầu tháng 10/2023 khi kiểm tra lại, bà B phát hiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Quang C cả phần diện tích đã cấp giấy chứng nhận cho bà B vào năm 1996. Trên thực tế bà Phạm Thị B mới là chủ sở hữu, hiện đang quản lý, sử dụng diện tích khoảng 789,2m² (thuộc một phần thửa số 5378, một phần thửa 5035). Như vậy Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Quang C sai về vị trí, diện tích và hiện trạng sử dụng, nên bà B yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên của ông C.
Tại Văn bản số 2111/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 01/4/2024 của người bị kiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L có nội dung:
Thửa đất số 5378, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m², loại đất ở tại nông thôn và thửa đất số 5035, tờ bản đồ số 3, diện tích 623m², loại đất trồng cây hàng năm khác, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Ủy ban nhân dân huyện C ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 314083, AM 314082 (số V, H01815) cấp cùng ngày 25/3/2008 cho bà Hồ Thị Kim C1.
Ngày 18/5/2019, bà Hồ Thị Kim C1 tặng cho toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Quang C theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực số 03, quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD. Hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C thụ lý, xét thấy hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Chi nhánh Văn phòng Đ tại huyện C chuyển hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sổ CQ 781808, CQ 781809 (số vào sổ CS 06228, CS 06227) cùng ngày 20/02/2020 cho ông Nguyễn Quang C là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định.
Đối với yêu cầu của người khởi kiện, Sở T đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Long An xem xét, giải quyết theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Quang C có lời khai: Ông C có quản lý sử dụng một phần thửa đất số 5035 và một phần thửa đất số 5378. Do ông chưa sử dụng thửa đất nên trên đất có cây trâm bầu mọc. Ông đồng ý hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên để hai bên cấp lại đúng thực tế sử dụng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng Hành chính.
Về nội dung: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa có cơ sở xác định ngày 20/02/2020 Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 781808, CQ 781809 (số vào sổ CS 06228, CS 06227) cho ông Nguyễn Quang C đối với thửa đất số 5378, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m², loại đất ở tại nông thôn và thửa đất số 5035, tờ bản đồ số 3, diện tích 623m², loại đất trồng cây hàng năm khác, xã M, huyện C, tỉnh Long An. Tuy nhiên, bà Phạm Thị B hiện đang quản lý, sử dụng diện tích khoảng 789,2m² thuộc một phần thửa số 5378, một phần thửa 5035. Như vậy việc Sở T cấp quyền sử dụng đất cho ông Cầu 1 không đúng vị trí, đối tượng sử dụng đất. Nên yêu cầu khởi kiện của bà B là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781808 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781809, đối với thửa đất số 5035 và thửa đất số 5378, cùng tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 20/2/2019.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng và ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị B yêu cầu Tòa án cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781808, đối với thửa đất số 5035 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781809, đối với thửa đất số 5378, cùng tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 20/02/2019. Đây là khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Đầu tháng 10/2023, khi kiểm tra lại, bà B phát hiện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Quang C cả phần diện tích đã cấp giấy chứng nhận cho bà vào năm 1996 nên bà B nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Long An là còn trong thời hiệu, do đó Tòa án thụ lý giải quyết là đúng quy định tại Điều 116 của Luật Tố tụng Hành chính.
[3] Về việc tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đối thoại: Tòa án đã có thông báo cho các đương sự nhưng người bị kiện vắng mặt, người khởi kiện có đơn yêu cầu không đối thoại, nên Tòa án lập biên bản về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành đối thoại được theo quy định của Điều 135, 137 Luật Tố tụng Hành chính.
[4] Người đại diện của người bị kiện ông Nguyễn Văn T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính, Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử vắng mặt ông T1, ông Cầu 1 phù hợp.
[5] Về hình thức và thẩm quyền ban hành quyết định:
Thửa đất số 5378, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m², loại đất ở tại nông thôn và thửa đất số 5035, tờ bản đồ số 3, diện tích 623m², loại đất trồng cây hàng năm khác, tại xã M, huyện C, tỉnh Long An được Ủy ban nhân dân huyện C ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 314083, AM 314082 (số vào sổ H 01816, H01815) cấp cùng ngày 25/3/2008 cho bà Hồ Thị Kim C1. Ngày 18/5/2019 bà Hồ Thị Kim C1 tặng cho toàn bộ thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Quang C theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã M chứng thực số 03, quyển số 01/2019-SCT/HĐ,GD. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C chuyển hồ sơ cho Văn phòng Đăng ký đất đai trình Sở T ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất sổ CQ 781808, CQ 781809 (số vào sổ CS 06228, CS 06227) cùng ngày 20/02/2020 cho ông Nguyễn Quang C là đúng quy định về hình thức, thẩm quyền, trình tự thủ tục ban hành quyết định theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
[6] Về nội dung của quyết định hành chính: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa thể hiện bà Phạm Thị B đang sử dụng một phần thửa 1169, một phần thửa 5035 tại khu B có diện tích 974m² và một phần thửa 5378 tại khu C có diện tích 300m². Trên các thửa đất có cây trâm bầu, xung quanh có cột mốc bằng bê tông đúc sẵn. Nội dung này được thể hiện qua lời khai của bà B, ông C, biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An và M trích đo bản đồ địa chính ngày 14/11/2023.
Như vậy, có cơ sở xác định Sở T cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Quang C đối với thửa đất số 5378, tờ bản đồ số 3, diện tích 300 m², loại đất ở tại nông thôn và thửa đất số 5035, tờ bản đồ số 3, diện tích 623 m², loại đất trồng cây hàng năm khác, xã M, huyện C, tỉnh Long An là không đúng vị trí, thửa đất, đối tượng sử dụng, là trái với quy định tại Điều 5, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B là có căn cứ nên được chấp nhận như đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tại phiên tòa.
[7] Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Bà B đã nộp và tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này nên ghi nhận là phù hợp theo Khoản 1 Điều 357, 358 Luật Tố tụng Hành chính.
Về án phí: Bà Phạm Thị B không phải chịu án phí. Sở T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của Điều 348 Luật Tố tụng Hành chính và Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193; Điều 348, Điều 357, Điều 35, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Áp dụng Điều 5, Điều 99, Điều 100 Luật Đất đai năm 2013;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781808 đối với thửa đất số 5035, tờ bản đồ số 3, diện tích 623m² tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 20/02/2019.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 781809, đối với thửa đất số 5378, tờ bản đồ số 3, diện tích 300m² tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho ông Nguyễn Quang C ngày 20/2/2019.
Bà B và ông C được quyền đăng ký kê khai để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị B chịu 3.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, bà B đã nộp xong.
3. Về án phí:
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Minh Trí |
Bản án số 67/2024/HC-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 67/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Bé "Khiếu kiện quyết định hành chính" Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An
