|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 67/2024/DS-ST
Ngày 30 – 5 – 2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Minh Sang
Ông Nguyễn Minh Cưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P (OCB);
Địa chỉ trụ sở: Số D và D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Văn T, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Chí L – Phòng thu hồi nợ, khối rủi ro – Văn bản ủy quyền số 175/2023/UQ-OCB ngày 19/10/2023.
Địa chỉ cư trú: Số A, N, Phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công N, sinh năm 1994;
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 09/7/2021 ông Nguyễn Công N đã thỏa thuận ký kết giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng, tài khoản thanh toán, thẻ ghi nợ và dịch vụ (gọi chung là hợp đồng) với Ngân hàng thương mại cổ phần P (OCB) (gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền là 30.000.000 đồng với mục đích mua hàng trực tuyến, thanh toán các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tại cửa hàng, đại lý, nhà hàng, khách sạn mà có chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, thời hạn vay 60 tháng, lãi suất 30%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn. Sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng đã cấp hạn mức và giải ngân số tiền vay nêu trên. Quá trình thực hiện hợp đồng, khoản vay của ông N đã quá hạn thanh toán từ ngày ông N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ được quy định trong hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nhưng đến nay ông N vẫn không thanh toán nợ vay cho Ngân hàng. Tổng nợ vay của ông N phát sinh từ hợp đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 103.205.035 đồng, trong đó nợ gốc 26.049.468 đồng, lãi 33.752.093 đồng, lãi phạt, phí 43.403.474 đồng.
Đại diện Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Công N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 103.205.035 đồng (trong đó nợ gốc 26.049.468 đồng, lãi 33.752.093 đồng, lãi phạt, phí 43.403.474 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay cho Ngân hàng.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án trực tiếp tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Nguyễn Công N, hai lần thông báo hòa giải và hai lần triệu tập xét xử nhưng ông N không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, không tham gia hòa giải và xét xử.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Ông Nguyễn Công N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông N.
[2] Ngân hàng thương mại cổ phần P khởi kiện ông Nguyễn Công N để yêu cầu trả lại số tiền vay theo hình thức hợp đồng tín dụng. Vì vậy, quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 09/7/2021 ông Nguyễn Công N có thỏa thuận ký kết giấy đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng thẻ tín dụng cá nhân với Ngân hàng thương mại cổ phần P để được cấp thẻ tín dụng vay số tiền 30.000.000 đồng, thời hạn vay 60 tháng là thực tế có xảy ra. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông N không thực hiện nghĩa vụ đúng như cam kết dẫn đến nợ quá hạn. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm ông N còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 103.205.035 đồng (nợ gốc 26.049.468 đồng, lãi 33.752.093 đồng, lãi phạt, phí 43.403.474 đồng). Hội đồng xét xử xét thấy việc ông N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã làm thiệt hại đến quyền lợi của Ngân hàng, vi phạm hợp đồng vay đã ký kết, nên ông N phải chịu trách nhiệm đối với hợp đồng đã ký là phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần P tổng số tiền 103.205.035 đồng (trong đó nợ gốc 26.049.468 đồng, lãi 33.752.093 đồng, lãi phạt, phí 43.403.474 đồng) như Ngân hàng đã yêu cầu là phù hợp.
[4] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp với nội dung của Án lệ số 08/2016/AL nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.160.251 đồng (103.205.035 đồng x 5%).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần P. Buộc ông Nguyễn Công N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần P số tiền 103.205.035 đồng (một trăm lẻ ba triệu hai trăm lẻ năm nghìn không trăm ba mươi lăm đồng) (nợ gốc 26.049.468 đồng, lãi 33.752.093 đồng, lãi phạt, phí 43.403.474 đồng) và khoản lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vay theo mức lãi suất quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng thương mại cổ phần P với ông Nguyễn Công N cho đến khi ông N thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng.
- Về án phí:
- Ngân hàng thương mại cổ phần P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng 1.732.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0015932 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình.
- Ông Nguyễn Công N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5.160.251 đồng (năm triệu một trăm sáu mươi nghìn hai trăm năm mươi mốt đồng); ông N chưa nộp án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |
4
Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 67/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông khởi kiện ông Nguyễn Công Nghiệp để yêu cầu trả lại số tiền vay theo hình thức hợp đồng tín dụng
