|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 67/2024/DS-ST Ngày 28-8-2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Giang
- Bà Trịnh Thị Trúc Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Trong ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ và điểm cầu thành phần trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 32/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-DS, ngày 26/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2024/QĐST-DS ngày 12/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng C; địa chỉ: C, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Nguyễn Thị L, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn Kiều T1, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quyết T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Nhựt Y – Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C; địa chỉ: Khu V Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn Ngân hàng C bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trình bày:
Vào ngày 18/12/2011 bà Nguyễn Thị L cùng người thừa kế là ông Nguyễn Văn Kiều T1 có vay của Ngân hàng số tiền 8.000.000 đồng theo chương trình hộ nghèo, lãi suất 0,250%/tháng, lãi suất quá hạn 0,325%/tháng, thời hạn cho vay 120 tháng, thời hạn trả nợ ngày 15/12/2023. Vay không có tài sản bảo đảm. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L và ông T1 đã vi phạm hợp đồng, không thực hiện việc đóng lãi và trả vốn đúng thỏa thuận. Tính đến ngày 11/7/2024 bà L và ông T1 còn nợ ngân hàng số tiền vốn 8.000.000 đồng và lãi phát sinh là 3.017.425 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn Kiều T1 phải trả tổng số tiền là 11.052.274 đồng. Trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng, lãi chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm 28/8/2024 là 3.052.274 đồng, yêu cầu tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả hết số nợ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn Kiều T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng chưa ghi nhận được ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn Ngân hàng C khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn K Thuấn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả lại số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa, vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn Kiều T1, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên. Tòa án căn cứ quy định tại Điều 173, 179 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp để giải quyết.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L cùng với ông Nguyễn Văn Kiều T1 phải trả nợ gốc và lãi chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm với tổng số tiền 11.052.274 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay đã ký kết cho đến khi trả xong số nợ.
[4] Nộp kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ: Sổ vay vốn mã khách hàng 120898 tên người vay Nguyễn Thị L; Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay chương trình cho vay hộ nghèo về nhà ở, được phê duyệt ngày 18/12/2011 với số tiền 8.000.000 đồng; Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay-thu nợ-dư nợ; các bảng kê tính lãi tên khách hàng Nguyễn Thị L tính đến ngày 28/8/2024, Quyết định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án. Giấy ủy quyền tham gia tố tụng ngày 30/01/2024 của Giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã C.
[5] Căn cứ các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp chứng minh được: giữa Ngân hàng C phòng giao dịch thị xã C có giao kết hợp đồng tín dụng với hộ gia đình bà Nguyễn Thị L gồm bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Văn Kiều T1, do bà Nguyễn Thị L ký kết hợp đồng, ông Nguyễn Văn Kiều T1 là người thừa kế, vay vốn để làm nhà ở nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình với tổng số tiền vay là 8.000.000đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L không thực hiện đúng thỏa thuận, cụ thể là không trả nợ gốc và lãi đúng kỳ theo thỏa thuận, tính đến ngày xét xử sơ thẩm hộ bà Nguyễn Thị L còn nợ tổng số tiền là 11.052.274 đồng. Trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng, lãi chưa thanh toán là 3.052.274 đồng.
[6] Từ những chứng cứ nên trên, căn cứ các quy định: Tại Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Kiều T1 có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng C tổng số tiền là 11.052.274 đồng, tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết cho đến khi trả hết số nợ.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K Thuấn có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 11.052.274 đồng x 5% = 552.613 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 173, 179, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sữa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C.
- Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L cùng với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn Kiều T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng C tổng số tiền là 11.052.274 đồng (mười một triệu không trăm năm mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), lãi chưa thanh toán là 3.052.274đồng (ba triệu không trăm năm mươi hai nghìn hai trăm bảy mươi bốn đồng).
- Tiếp tục tính lãi suất phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay, được phê duyệt ngày 18/12/2011 được ký kết giữa bà Nguyễn Thị L và Ngân hàng C Phòng giao dịch thị xã L cho đến khi trả hết số nợ.
- Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Kiều T1 có trách nhiệm liên đới nộp số tiền 552.613 đồng (năm trăm năm mươi hai nghìn sáu trăm mười ba đồng).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Diệu |
Bản án số 67/2024/DS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 67/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yc của NĐ
