|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 67/2024/DS-PT Ngày 28 tháng 5 năm 2024 V/v “Tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Ngọc Sơn; Ông Đỗ Thế Bình.
Thư ký phiên toà: Ông Chu Quang Duy, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thanh Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2024/TLPT-DS ngày 18/3/2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 12/2024/DSST ngày 22/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2024/QĐPT-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê N, sinh năm 1958: Địa chỉ: Số B B, Ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- - Bị đơn: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1967 (vắng mặt); Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 (có mặt)
Người giám hộ của Phạm Quốc T, sinh năm 1967: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 (có mặt); Cùng địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền cho bà N1: Chị Phạm Thị C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; Địa chỉ: Số B Ấp T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh (Vợ ông N) (có mặt).
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số A T, T, Đ, Lâm Đồng (vắng mặt).
- Bà Lê Thị Thanh T1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn P, T, L, Lâm Đồng (vắng mặt).
- Ông Lê Xuân Đ, sinh năm 1976. Địa chỉ: Xóm A, T, T, Đức T2, Lâm Đồng (vắng mặt).
- Bà Lê Thị H1, sinh năm 1965. Địa chỉ: Khu C, phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1953. Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà B, bà T1, ông Đ, bà H1: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968 (có mặt).
Do có kháng cáo của ông Nguyễn Lê Nghi .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau: Nguyên đơn ông Nguyễn Lê N trình bày: Gia đình ông là chủ sử dụng thửa đất số 46, tờ bản đồ số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (sau đây gọi tắt là thửa số 46), hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ). Thửa đất này do bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn C2 (sinh năm 1913, chết năm 1982) và cụ Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1916, chết năm 2000) khai hoang từ những năm 1950. Hai cụ giao cho ông đứng tên chủ sử dụng từ trước đến nay.
Năm 1962, anh trai cùng mẹ khác cha của ông là ông Nguyễn Xuân T3 lấy vợ là bà H3 đã được bố mẹ ông cho ra ở riêng và cắt một phần đất trước nhà khoảng 500m² cho anh chị ra ở riêng tự lập. Còn lại bố mẹ ông, ông và chị gái ông là bà C1 ở trên mảnh đất này đến năm 1972 thì bà C1 đi lấy chồng. Năm 1978 ông kết hôn, bố mẹ ông đã giao cho vợ chồng ông sử dụng mảnh đất này. Tuy nhiên, khi đó theo phong tục địa phương thì bố mẹ ông chỉ nói miệng chứ không có giấy tờ tặng cho đất này. Từ đó, vợ chồng ông trực tiếp quản lý mảnh đất này đến nay. Trước đây, thửa đất này là chân núi, rất dốc, vợ chồng ông đã nhiều lần san đất nên mới được bằng phẳng như hiện nay. Vợ chồng ông cũng là người đóng thuế sử dụng đất từ trước đến nay.
Năm 1991 bà H cùng các con vào miền N làm kinh tế, ông thỉnh thoảng khi đi khi về. Khi đi tài sản của ông gồm một căn nhà ngói 4 gian cùng 3 gian công trình phụ, đất thổ cư, hoa lợi. Ông có nhờ ông T3 gần nhà trông nom hộ. Đến tháng 5 năm 2000 vợ chồng ông T3 lại vào tỉnh Lâm Đồng sinh sống cùng các con, trước khi đi ông T3 đã trả lại toàn bộ nhà cửa, đất đai cho ông. Nên ông lại nhờ em trai con cậu ruột là ông Nguyễn Thế T4 nhà cận kề để chăm sóc cụ H2 và trông nom nhà cửa đất đai giúp vợ chồng ông, việc này có ông Hoàng Anh Đ1 - trưởng thôn Phùng Dị năm 2000 xác nhận. Hàng năm ông T4 đều nộp thuế đầy đủ.
Tháng 9 năm 2000, cụ H2 chết. Năm 2003, ông về quê sang cát cho cụ H2 và tiến hành cải tạo đất san phẳng mặt bằng để tiện cho việc trồng cây hàng năm. Khi bố mẹ ông là cụ C2, cụ H2 còn sống thì sống với vợ chồng ông, vợ chồng ông là người trực tiếp chăm sóc hai cụ lúc tuổi già và lúc ốm đau, sau này có bà C1 chăm sóc mẹ ông. Còn vợ chồng ông T3 không chăm sóc bố mẹ ông. Năm 2006, chị Nguyễn Thị N1 là con dâu của ông T3 đã tự ý xây dựng 1 căn nhà ngói 4 gian và công trình phụ mà không có sự đồng ý của vợ chồng ông bà, lúc đó ông T4 có biết nhưng không liên lạc được với ông.
Năm 2010, vợ chồng ông về quê đã thấy nhà và công trình phụ do vợ chồng anh T, chị N1 xây dựng. Nhưng ông bà nghĩ dù sao anh T, chị N1 cũng là con cháu nên vẫn để cho gia đình anh T, chị N1 ở tạm thời, không có ý kiến gì. Năm 2019, vợ chồng anh T, chị N1 lại tiếp tục xây cất 1 căn nhà hai tầng, khi xây dựng vợ chồng ông cũng không được biết. Tháng 6 năm 2022, vợ chồng ông về làm thủ tục cấp GCNQSDĐ lần đầu, ông đã gặp và nói với vợ chồng anh T, chị N1 là cho vợ chồng anh T, chị N1 khoảng 400m². Tuy nhiên, quá trình làm thủ tục xin cấp GCNQSDĐ thì chị N1 không hợp tác nên gia đình ông không làm được GCNQSDĐ.
Nay ông xác định không cho vợ chồng anh T, chị N1 đất nữa nên ông yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng anh Phạm Quốc T5, chị Nguyễn Thị N1 phải di dời toàn bộ tài sản trên đất và trả lại vợ chồng ông thửa đất số 46, tờ bản đồ số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q. Hiện ông là người cao tuổi, không có kinh tế nên đề nghị Tòa án miễn toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm. Ông tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ cho bà C1. Ngoài ra, ông không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn là ông Phạm Quốc T (do bà N1 là người giám hộ) và bà Nguyễn Thị N1, do chị Phạm Thị C đại diện trình bày: Cụ Nguyễn Thị H2 có 02 đời chồng: Người chồng thứ nhất là cụ V, người làng Láng (nay thuộc tỉnh Bắc Giang) hai cụ có 01 người con là ông Lê Xuân T6 (tên gọi khác là Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1939, chết năm 2018). Khi ông T3 được khoảng 5 - 6 tuổi thì cụ V chết. Sau khi cụ V chết, cụ H2 cùng ông T3 về quê P, Ngọc X, T. Năm 1952, cụ H2 tái giá với cụ Nguyễn Văn C2 (chết 1982), cùng nhau khai hoang và sinh sống ổn định trên mảnh đất nay là thửa đất số 46 nêu trên. Cụ C2 và cụ H2 có 2 người con chung là bà Nguyễn Thị C1 và ông Nguyễn Lê Nghi . Hai cụ chăm sóc, nuôi nấng ông T3, bà C1 và ông N cho đến lúc trưởng thành, lập gia đình riêng.
Năm 1964, cụ H2 và cụ C2 đã dựng vợ cho ông T3. Ông T3 lấy bà H3 người cùng làng thôn P, xã N, thị xã Q, Bắc Ninh. Sau khi kết hôn vợ chồng ông T3, bà H3 ở cùng cụ H2, cụ C2 trên thửa đất số 46, sinh được 02 người con Lê Thị H1 và ông Phạm Quốc T. Sau này sinh thêm 3 người con nữa là ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị B, bà Lê Thị Thanh T7.
Năm 1975, ông T7 xuất ngũ về địa phương và ở rể nhà vợ tại thửa đất của cụ L. Sau đó cụ L đã cho vợ chồng bà H3, ông T7 mảnh đất trên (thửa đất này đã được ông T7 đã bán cho ông T8).
Vào giai đoạn 1991, hai anh em ông T7 và ông N có nợ nần. Hai ông đã thống nhất bán mảnh đất ông T7 được bố mẹ vợ cho để trả nợ chung của hai anh em và gia đình ông T7 quay về sinh sống trên thửa đất số 46, sống với cụ H2, chăm sóc, phụng dưỡng từ năm 1991. Ông N vào miền N sinh sống từ năm 1991, không có công tân tạo trông nom mảnh đất. Trên mảnh đất đó, ông T7 và vợ chồng ông T đã xây dựng nhà 2 gian vách đất sinh sống, sản xuất nông nghiệp tại thôn P, xã N.
Khoảng đầu năm 2000, kinh tế khó khăn, gia đình ông T7 đã vào miền N làm ăn. Ở nhà còn một mình cụ H2. Còn bà N1 về quê ngoại tại thôn L, xã N. Năm 2003, ông N từ miền N về quê đã thuê máy xúc phá tài sản và bán đất nền lấy tiền. Sau đó lại trở vào miền N sinh sống. Năm 2004, ông T7 trở về địa phương gọi vợ chồng ông T về sinh sống trên thửa đất số 46 để quản lý và sử dụng. Năm 2006 vợ chồng ông T xây dựng ngôi nhà cấp 4. Đến năm 2016, vợ chồng ông T xây dựng thêm ngôi nhà hai tầng.
Ông T7, bà H3 và vợ chồng ông T đã góp sức, góp công trong quá trình gìn giữ, bảo vệ, tân tạo thửa đất số 46 từ thời kỳ khai hoang ở cùng cụ H2, trong một thời gian dài từ năm 1991 đến năm 2000 và từ 2004 cho đến nay.
Nay ông T (do bà N1 là người giám hộ) có yêu cầu phản tố, đề nghị Tòa án:
- Xác định thửa đất số 46 nêu trên là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị H2 và cụ Nguyễn Văn C2.
- Chia di sản thừa kế của cụ H2, cụ C2 là số 46 theo pháp luật.
Đề nghị Tòa án miễn án phí cho ông T và tự nguyện chịu án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ cho những người liên quan là bà Lê Thị H1, ông Lê Xuân Đ2, bà Lê Thị B, bà Lê Thị Thanh T1
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Nguyễn Thị C1 trình bày: Nhất trí với lời trình bày nêu trên của ông N. Nếu được chia thừa kế thì bà cũng không nhận quyền lợi gì vì bố mẹ bà đã giao quyền sử dụng và trông coi mảnh đất trên cho ông N từ khi lấy vợ đến nay. Toàn bộ quyền lợi của bà, nếu có, đều giao cho ông N quản lý, sử dụng. Bà đề nghị Tòa án miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà nếu có.
Bà Lê Thị H1, ông Lê Xuân Đ, bà Lê Thị B, bà Lê Thị Thanh T1 do bà Nguyễn Thị N1 đại diện trình bày: Nhất trí với lời trình bày của bà N1, đề nghị Tòa án giao toàn bộ quyền lợi của mình trong vụ án này cho vợ chồng ông T quản lý, sử dụng. Bà H1, ông Đ, bà B, bà T1, đề nghị Tòa án giảm án phí cho các ông bà.
Bà Nguyễn Thị Q trình bày: Bà xác định ranh giới của thửa đất số 86, tờ bản đồ số 16 tại thôn P của bà và thửa 46 nêu trên là theo bản đồ địa chính năm 2003 và GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của nhà bà. Bà đề nghị Tòa án lấy ranh giới theo bản đồ địa chính và GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của nhà bà để làm căn cứ giải quyết vụ án. Các tài sản bà xây dựng nằm trên đất thửa đất số 46 nêu trên, bà và các bên đương sự sẽ thỏa thuận sau khi bản án giải quyết vụ án trên có hiệu lực pháp luật. Bà không có yêu cầu gì đối với các tài sản của bà trong vụ án này.
Bà Nguyễn Thị H trình bày: Nhất trí với lời trình bày trên của ông N, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.
Quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và các bên đương sự thỏa thuận về giá trị quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất. Tại phiên tòa sơ thẩm: Các bên đương sự đều thừa nhận thời điểm mở thừa kế, diện thừa kế, hàng thừa kế của cụ C2, cụ H2 như lời trình bày của phía bị đơn; ông N, bà C1 thừa nhận cụ C2 có nuôi dưỡng, chăm sóc, đối xử với ông T7 giống như ông N và bà C1, không phân biệt gì; các bên đương sự đều nhất trí với lời trình bày của bà Nguyễn Thị Q. Phía nguyên đơn xác định thửa đất này đã được cụ H2, cụ C2 cho vợ chồng ông N nên không phải là di sản thừa kế của cụ H2, cụ C2, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn. Phía bị đơn đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế và xác định ông N, bà C1 được hưởng công sức chăm sóc cụ H2, cụ C2 nên đề nghị trích chia thêm cho ông N, bà C1 100m² khi chia thừa kế.
Từ những nội dung trên Tòa cấp sơ thẩm đã căn cứ vào các điều 5, 6, 26, 35, 39, 147, 157, 158, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế; Điều 3, 609, 611, 612, 613, 623, 649, 650, 651, 660, 688 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH13 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Lê N về việc buộc vợ chồng ông Phạm Quốc T5, bà Nguyễn Thị N1 phải di dời toàn bộ tài sản trên đất và trả lại vợ chồng ông thửa đất số 46, tờ bản đồ số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Phạm Quốc T.
- Xác nhận thửa đất số 46, tờ bản đồ số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh diện tích 1487m² là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C2, cụ Nguyễn Thị H2.
- Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn Văn C2 và cụ Nguyễn Thị H2 là: Ông Lê Xuân T6 (tên gọi khác Nguyễn Xuân T3), đã chết năm 2018, nay các con là bà Lê Thị H1, ông Phạm Quốc T, bà Lê Thị B, bà Lê Thị Thanh T1, ông Lê Xuân Đ thừa hưởng, bà Nguyễn Thị C1, ông Nguyễn Lê Nghi .
- Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C2, cụ Nguyễn Thị H2 như sau:
Giao cho ông Nguyễn Lê N được quản lý, sử dụng phần đất của diện tích 998m², được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 18, 17, 16, 15, 14 thuộc thửa đất số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ chi tiết kèm theo). Trên đất có tường cay; sân (đường) bê tông; nhà vệ sinh lợp fibro xi măng.
Giao cho ông Phạm Quốc T (do bà Nguyễn Thị N1 là người giám hộ) được quản lý, sử dụng phần đất của diện tích 473m², được giới hạn bởi các điểm 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18 thuộc thửa đất số 16 tại thôn P, xã N, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (có sơ đồ chi tiết kèm theo). Trên đất có nhà cấp 3, nhà mái bằng 2 tầng, công trình phụ lợp fibro xi măng; nhà kho lợp fibro xi măng, giếng nước, sân lát gạch.
Trích phần diện tích 16m2, được giới hạn bởi các điểm 18, 9, 8, 7 làm lối đi chung cho hai phần đất của ông Nguyễn Lê N và ông Phạm Quốc T.
Ông Phạm Quốc T (do bà Nguyễn Thị N1 là người giám hộ) phải trích trả ông Nguyễn Lê N số tiền 259.155.000 (Hai trăm lăm mươi chín triệu, một trăm lăm mươi năm nghìn) đồng.
Ông Nguyễn Lê N, ông Phạm Quốc T có quyền đề nghị cơ quan nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lệ phí Tòa án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22 tháng 1 năm 2024, nguyên đơn ông Nguyễn Lê N kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trong phần tranh luận, phía nguyên đơn cho rằng thủa đất só 46 không phải là di sản thừa kế, thửa đất này là của nguyên đơn và nguyên đơn đề nghị phía bị đơn phải trả lại thủa đất, phía bị đơn đề nghị chia thừa kế, phía nguyên đơn hoàn toàn không nhất trí, những căn cứ như đã trình bày kháng cáo tại phần đầu, không có ý kiến gì khác; phía bị đơn không tranh luận gì, đề nghị giữ nguyên bản án do TAND thị xã Quế Võ xét xử, trong phần bản án bị đơn nhận được có sự nhầm lẫm về các cạnh đề nghị Tòa án sửa lại cho đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Lê N nộp trong hạn luật định đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về quan hệ tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng: Nguyên đơn là ông Nguyễn Lê N xác định thửa đất số 46 đã được bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn C2, cụ Nguyễn Thị H2 cho vợ chồng ông từ năm 1972, hồ sơ kỹ thuật thửa đất và sổ địa chính của địa phương đã thể hiện ông là chủ sử dụng thửa đất này. Nay vợ chồng ông T, bà N1 tự ý xây dựng các công trình trên đất mà không được sự đồng ý của ông nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông T, bà N1 phải di dời các công trình trên đất, trả lại ông quyền sử dụng thửa đất số 46 nêu trên. Bản án sơ thẩm xác định ông N là nguyên đơn và ông T bà N1 là bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Sau khi thụ lý đơn khởi kiện của ông N, bị đơn là ông T (do vợ là bà N1 đại diện) có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án xác định thửa đất số 46 là di sản thừa kế của ông bà nội ông T là cụ C2, cụ H2, bố ông T là ông Nguyễn Xuân T3 đã chết nên ông T yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế của cụ H2, cụ C2 theo quy định pháp luật. Việc ông T là bị đơn (do bà N1 làm đại diện) đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn là phù hợp với quy định tại Điều 72, 200 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cấp sơ thẩm đã tiến hành thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định và xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế” là đúng với quy định của pháp luật.
- Về thời hiệu giải quyết vụ án: Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu về yêu cầu chia thừa kế do đó Bản án sơ thẩm xem xét giải quyết yêu cầu chia thừa kế của đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về nguồn gốc thửa đất số 46 và quá trình sử dụng đất: Các đương sự đều thống nhất xác định thửa đất số 46 nêu trên là do hai cụ Nguyễn Văn C2 (chết năm 1982) và Nguyễn Thị H2 (chết năm 2000) khai hoang từ những năm 1950. Ông N cho rằng thửa đất đã bố mẹ ông tặng cho bằng miệng theo phong tục địa phương nên thửa đất là tài sản của vợ chồng ông. Hiện tại theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất và bản đồ địa chính thì thửa đất đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Lê N, nhưng thửa đất chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các đương sự đều thừa nhận ông N, ông T3 (bố của ông T) đều đã có thời gian quản lý sử dụng thửa đất. Hiện nay, vợ chồng ông T vẫn sinh sống trên thửa đất và đã xây dựng các công trình kiên cố trên đất.
- Thời điểm cụ C2 chết năm 1982, cụ Nguyễn Thị H2 chết năm 2000, khi chết các cụ không để lại di chúc theo quy định. Do đó bản án sơ thẩm xác định thửa đất số 46 là di sản của cụ H2, cụ C2 để lại trước khi chết là phù hợp. Hàng thừa kế thứ nhất của cụ H2 cụ C2 là ông T3, bà C1 và ông N đều không có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế đối với thửa đất này. Ông T3 chết năm 2018, do đó hàng thừa kế thứ nhất của ông T3 được hưởng quyền lợi và nghĩa vụ đối với di sản thừa kế mà ông T3 được hưởng. Ông T là con của ông T3 (do bà N1 đại diện) yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ N1, cụ H2 là có căn cứ, cần được xem xét. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông N buộc vợ chồng ông T, bà N1 phải di dời tài sản trên đất và trả lại ông thửa đất số 46 là không có căn cứ, nên không được chấp nhận. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ.
- Về trích chia công sức: Sau khi cụ C2 và cụ H2 chết ông N là người trực tiếp nộp thuế sử dụng đất nhiều năm. Trước đó ông N, bà C1 cũng là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2, cụ C2 khi hai cụ ốm yếu. Do vậy, bản án sơ thẩm xác định và trích chia công sức cho ông N, bà C1 tổng cộng hai người là 200m² là phù hợp với quy định. Như vậy, di sản thừa kế của cụ H2 cụ C2, là quyền sử dụng 1487m² sẽ được trích công sức quản lý di sản và chăm sóc người để lại di sản là 200m², còn lại 1287m² được chia đều cho ông N, bà C1 và ông T3 (nay là các con của ông T3), mỗi người được hưởng diện tích là: 1287m² : 3 = 429m².
- Bà C1 đề nghị Tòa án giao toàn bộ quyền lợi của bà trong vụ án này cho ông N quản lý, sử dụng. Như vậy, cộng cả phần của bà C1 giao cho ông N thì ông N được hưởng 429 x 2 + 200 = 1048m². Còn lại ông T3, nay là các con của ông T3 được hưởng 429m². Tuy nhiên, các con của ông T3 đều thống nhất giao toàn bộ kỷ phần của ông T3 cho ông T hưởng. Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ thì thấy hiện tại trên đất vợ chồng ông T đã xây dựng các công trình kiên cố trên một phần di sản thừa kế. Mặt khác, ông T hiện là người có khó khăn về nhận thức, làm chủ hành vi. Thu nhập của hai vợ chồng ông T bà N1 hàng tháng rất thấp. Để đảm bảo giá trị sử dụng của các công trình này, cũng như tiếp tục ổn định chỗ ở của vợ chồng ông T, Bản án sơ thẩm tiếp tục giao cho ông T được sử dụng toàn bộ phần đất có các công trình kiên cố mà ông bà đã xây dựng là phù hợp.
- Để đảm bảo hình thể các thửa đất vuông vắn, Bản án sơ thẩm xác định phần lối đi riêng cho phần đất của ông T nằm sát mép thửa đất về phía Đông. Tổng diện tích phần đất này là 473m² (có sơ đồ kèm theo bản án), như vậy, ông T phải trích trả ông N số tiền là (473 – 429) x 5.000.000 = 220.000.000 đồng. Ngoài ra, để đi vào phần đất giao cho ông N và phần đất giao cho ông T, cần bố trí một lối đi chung với kích thước mỗi cạnh là 4m2, diện tích là 16m², ông T có nghĩa vụ trích trả ông N một nửa giá trị phần đất này là 8 x 5.000.000 đồng = 40.000.0000 đồng. Ông N kháng cáo cho rằng Bản án sơ thẩm giao cho ông T toàn bộ phần diện tích mặt tiền. Tuy nhiên, toàn bộ công trình nhà 02 tầng do ông T bà N1 xây dựng nằm sát với đường giao thông ở phía Bắc của thửa đất nên để đảm bảo giá trị sử dụng của công trình trên đất (như đã phân tích ở trên) bản án sơ thẩm xác định lối đi chung và riêng đi vào hai thửa đất nằm ở phía Đông là phù hợp với hiện trạng sử dụng. Do đó, kháng cáo của ông N là không có căn cứ.
- Đối với phần đường đi (sân) bê tông mà ông T, bà N1 xây dựng có giá trị 845.000 đồng, nay nằm trên phần đất giao cho ông N nên ông N phải thanh toán số tiền này cho ông T, bà N1. Nhà vệ sinh lợp fibroximang do vợ chồng ông T xây dựng nằm trên phần đất giao cho ông N sử dụng, đã hết khấu hao, không còn giá trị. Tổng cộng, ông T phải trích trả ông N số tiền là 220.000.000đ + 40.000.000₫ – 845.000₫ = 259.155.000₫.
- Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Các bên đương sự phải chịu chi phí này tương ứng với kỷ phần thừa kế mà mình được nhận. Tòa án đã chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đối với thửa đất và các tài sản trên đất hết 15.000.000 đồng. Ông N tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này cho bà C1, như vậy ông N phải chịu 10.572.000 đồng. Ông T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này cho các con ông T3, như vậy ông T phải chịu 4.428.000 đồng. Ông N đã tạm ứng đủ số tiền 15.000.000 nêu trên nên cần buộc ông T phải thanh toán trả ông N số tiền 4.428.000 đồng.
- Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa, ông N kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ mới, do đó, cần bác toàn bộ kháng cáo của ông N, giữ nguyên bản án sơ thẩm xử và quyết định sửa chữa bổ sung bản án dân sự sơ thẩm.
- Về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:
Án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông N là người cao tuổi và có đơn xin miền án phí nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí nên bản án dân sự sơ thẩm miễn toàn bộ án phí cho ông N là có căn cứ.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Các đương sự phải chịu chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà ông Nguyễn Lê N, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm số 12/2024/DSST ngày 22/01/2024 và quyết định sửa chữa bổ sung bản án dân sự sơ thẩm số 01/QĐ-SCBSBA ngày 30/01/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Lê Nghi .
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
|
Nguyễn Thanh Bình |
|
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hoàng Ngọc Sơn – Nguyễn Văn Nam |
Nguyễn Thanh Bình |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- - TAND thị xã Quế Võ;
- - Chi cục THADS thị xã Quế Võ;
- - Các đương sự (theo địa chỉ);
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Bản án số 67/2024/DS-PT ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế
- Số bản án: 67/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản, chia thừa kế giua Nguyên đơn: Ông Nguyễn Lê Nghi, sinh năm 1958; Bị đơn: Ông Phạm Quốc Thạch, sinh năm 1967
