|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 67/2023/HS-ST Ngày: 25/10/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng sơ thẩm xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông: Nguyễn Công Hà.
Ông: Lê Văn Toàn.
Thư ký phiên toà: ông Nguyễn Hải Hòa. Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 10 năm 2023, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2023/HSST ngày 3/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2023/QĐXXST-HS ngày 12/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 12/12/1968 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T1 (Đã chết); con bà: Võ Thị K (Đã chết); vợ: Hà Thị T2, sinh năm: 1970; có 02 con, con lớn 25 tuổi, con nhỏ 20 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Văn T3; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/12/1981 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Trần Văn T4, sinh năm: 1954 và bà: Võ Thị M, sinh năm: 1958; vợ: Chu Thị N - Sinh năm: 1985; có 02 con, con lớn 16 tuổi, con nhỏ 12 tuổi; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 09/02/2023, bị Công an huyện T xử phạt về hành vi vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Ngân Văn N1; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 08/10/1987 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm C, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam;dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Ngân Văn T5, sinh năm: 1956 và bà: Ngô Thị H, sinh năm: 1957; vợ: Lô Thị Thùy L, sinh năm: 1997 (Đã ly hôn); có 02 con, con lớn 07 tuổi, con nhỏ 06 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 03/11/2017, Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp tiền phạt.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T6; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 13/3/1970 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm M, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1932 và bà: Đậu Thị P, sinh năm: 1938; vợ: Đặng Thị H1, sinh năm: 1974; Có 03 con, con lớn nhất 28 tuổi, con nhỏ nhất 19 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Lê Đình P1; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 15/3/1977 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Lê Đình T7, (Đã chết) và bà: Cao Thị L1, sinh năm: 1953; vợ: Đinh Thị N2 - Sinh năm: 1983; có 03 con, con lớn nhất 20 tuổi, con nhỏ nhất 09 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Đặng Kim T8; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 22/8/1983 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Đặng Quang T9 (Đã chết) và bà: Chu Thị C (Đã chết); vợ: Trần Thị N3, sinh năm: 1985; có 03 con, con lớn nhất 18 tuổi, con nhỏ nhất 02 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến 11/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Thu H2; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 27/3/1994 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; con ông: Trần Văn Đ1, sinh năm: 1970 và bà: Nguyễn Thị T10, sinh năm: 1973; chồng: Bùi Xuân H3, sinh năm: 1990; có 02 con, con lớn 08 tuổi, con nhỏ 05 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Ông Phan Văn H4, sinh năm: 1965. Trú tại: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
- Người chứng kiến:
Ông Nguyễn Đức N4, sinh năm: 1966. Trú tại: Xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, Ngân Văn N1, Trần Văn T3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8 đến uống nước tại Quán C của Trần Thu H2 ở xóm T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Văn T nói: “Anh em vô ta chơi tí, hồi ta đi đám ma” (Ý là rủ những người còn lại vào nhà Trần Thu H2 để đánh bạc) thì được mọi người đồng ý. Sau đó, Trần Thu H2 nghe có người nói “Cho chơi hồi, tí đi đưa ma”, nghĩ có người đánh B-A nên H2 đã lấy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ, mặt sau có hoa văn màu đỏ, chưa qua sử dụng đặt tại bàn Bi-a của quán, thấy vậy Ngân Văn N1 đến lấy bộ bài rồi đi vào trong nhà Trần Thu H2, những người còn lại cũng đi vào trong nhà để đánh bạc. Tại khu vực gian phòng khách các đối tượng thấy có 01 (một) chiếc chiếu tre, màu vàng đã được trải sẵn ở nền nhà nên đã cùng nhau ngồi xuống rồi thống nhất đánh bạc bằng hình thức đánh chương (03 cây), đặt cược mỗi ván 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), tính điểm ai cao nhất thì thắng cược, nếu người nào tròn (10 điểm hoặc 20 điểm) thì được phát bài ở ván tiếp theo rồi lựa chọn các quân bài từ “A” đến “09” bắt đầu đánh bạc. Sau đó, Trần Thu H2 đã chuẩn bị nước uống cho các đối tượng đánh bạc rồi sang phòng bên cạnh khu vực đánh bạc nằm nghỉ. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang tham gia sát phạt lẫn nhau thì Lực lượng Công an huyện T ập vào, thấy vậy Trần Thu H2 nói to: “Công an tề” (Ý là thông báo cho các đối tượng đang đánh bạc có lực lượng Công an đến) thì các đối tượng đứng dậy, cất tiền định bỏ chạy nhưng đã bị lực lượng Công an khống chế và bắt giữ, riêng chỉ có Đặng Kim T8 lợi dụng sơ hở trốn khỏi hiện trường. Lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ tại chiếu bạc có 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu đỏ và trước vị trí ngồi của Nguyễn Văn T6 số tiền: 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), T6 trình bày, đây là số tiền dùng để đánh bạc còn lại; đồng thời phát hiện thu giữ tại góc tủ học sinh đặt tại góc nhà cạnh cửa chính ra vào phía bên phải (hướng nhìn từ trong ra ngoài của ngôi nhà) số tiền: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng), Ngân Văn N1 trình bày, đây là số tiền lấy từ chiếu bạc và tiền của N1 dùng để đánh bạc được N1 cất giấu khi nghe tin lực lượng công an đến; Tiếp tục kiểm tra phát hiện và thu giữ dưới đệm của chiếc giường đặt ở tường bên phải (hướng từ trong ra ngoài của ngôi nhà) số tiền: 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), Trần Văn T3 trình bày, đây là số tiền dùng để đánh bạc được T3 cất giấu khi nghe tin lực lượng Công an đến. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ trong ví da để trên người Nguyễn Văn T6 số tiền: 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng), T6 trình bày, đây là số tiền để mua thức ăn chăn nuôi, không sử dụng vào mục đích đánh bạc; thu giữ trong ví da trên người Nguyễn Văn T số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng), T trình bày, đây là tiền trả công thợ, không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Sau đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng có liên quan, đồng thời đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện T để điều tra làm rõ.
Đến ngày 02/8/2023, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên Đặng Kim T8 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T đầu thú nhằm hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Qua điều tra đã chứng minh được, Ngân Văn N1 sử dụng số tiền: 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Trần Văn T3 sử dụng số tiền: 2.600.000 đồng (Hai sáu trăm nghìn đồng) để đánh bạc nhưng bị thua hết nên đã lấy nợ từ Ngân Văn N1 số tiền: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) để tiếp tục đánh bạc; Nguyễn Văn T mang theo số tiền: 7.600.000 đồng (Bảy triệu sáu trăm nghìn đồng), lấy ra số tiền: 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) để đánh bạc, còn số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) Nguyễn Văn T sử dụng để trả tiền công thợ nên không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Nguyễn Văn T6 mang theo số tiền: 7.700.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm nghìn đồng), lấy ra số tiền: 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để đánh bạc, còn số tiền: 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng), không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Lê Đình P1 sử dụng 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng) để đánh bạc; Còn Đặng Kim T8 sử dụng số tiền: 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Ngân Văn N1, Trần Văn T3, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8 đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc của mình, Trần Thu H2 khai nhận toàn bộ hành vi giúp sức bằng việc cho mượn nhà của mình để các đối tượng nói trên đánh bạc, đồng thời thông báo cho các đối tượng biết lực lượng Công an đến để bỏ chạy. Lời khai của các đối tượng hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số: 68/CT-VKSTK ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2, về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng, tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: + Nguyễn Văn T từ 8 đến 11 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 16 đến 22 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Ngân Văn N1 từ 7 đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách từ 14 đến 20 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Trần Văn T3 mức án từ 4 đến 5 tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 10/8/2023.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T6 từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 02/8/2023 đến 11/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành từ 8 tháng 3 ngày đến 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Bị cáo Đặng Kim T8 từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 02/8/2023 đến 11/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay còn phải chấp hành từ 5 tháng 3 ngày đến 8 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: + Bị cáo Lê Đình P1 từ 9 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc các bị cáo còn phải chấp hành từ 8 tháng 3 ngày đến 11 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
- + Bị cáo Trần Thu H2 từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ (từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay còn phải chấp hành từ 5 tháng 3 ngày đến 8 tháng 3 ngày cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8, Trần Thu H2 trong thời gian chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho tất cả các bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước số tiền: 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếu tre màu vàng.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát. Các bị cáo có lời nói sau cùng: các bị cáo bị truy tố và xét xử về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2 đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, đúng như nội dung của bản cáo trạng đã nêu và quy kết, không có khai nại gì khác. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm pháp quả tang và lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/8/2023, tại Quán Cafe của Trần Thu H2 ở xóm T, xã N, huyện T, tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8 đang thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh chương “03 cây”, đặt cược mỗi ván 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), thu giữ tại chiếu bạc 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 36 quân mặt sau có hoa văn màu đỏ; 01 (một) chiếc chiếu tre màu vàng, đồng thời thu giữ tổng số tiền: 21.700.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bảy trăm nghìn đồng). Qua điều tra chứng minh số tiền mà các đối tượng đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là: 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Số tiền: 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T6 và số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2 đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8, Trần Thu H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn T6 được Chủ tịch UBND xã N tặng giấy khen và được Chủ tịch Hiệp hội trang trại và doanh nghiệp N5 tặng Kỷ niệm chương. Bị cáo Trần Văn T3 có mẹ là bà Võ Thị M1 là dân quân hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế. Bị cáo Đặng Kim T8 đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét tính chất, vai trò và nhân thân của các bị cáo trong vụ án thì thấy rằng:
Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống chung của nhiều gia đình và các hoạt động bình thường của xã hội, làm cho quần chúng nhân dân bức xúc, lo lắng trước tệ nạn này và là một trong những nguyên nhân gây nên một số loại tội phạm khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thức được việc đánh bạc bằng hình thức đánh bài thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật và bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ vì động cơ, mục đích hám lợi và có thái độ coi thường pháp luật, nên các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Để đấu tranh, ngăn chặn tệ nạn cờ bạc trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, cần có đường lối xử phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn T là người khởi xướng, đồng thời thực hiện hành vi đánh bạc; Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8 tham gia đánh bạc với vai trò là người thực hành. Còn Trần Thu H2 (là chủ nhà) mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã cung cấp công cụ và đồng ý cho các đối tượng trên đánh bạc tại địa điểm thuộc quyền quản lý của mình nên đã đồng phạm về tội đánh bạc với vai trò người giúp sức.
Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng, bị cáo giữ vai trò cầm đầu vì vậy mức án của bị cáo T phải cao hơn các bị cáo còn lại. Xét thấy, bị cáo T được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS. Tính chất, hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, chưa gây ra hậu quả lớn. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án phạt tù cho hưởng treo là có căn cứ cần được chấp nhận.
Bị cáo Ngân Văn N1 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ 2 trong số các bị cáo. Bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, Điều 51 BLHS, tuy nhiên bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc (đã được xóa tiền sự), nhưng xét thấy bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được mức án phạt tù cho hưởng treo là có căn cứ cần được chấp nhận.
Các bị cáo Trần Văn T3, tham gia tích cực từ đầu, số tiền bị cáo sử dụng để đánh bạc nhiều nhất trong các bị cáo. Bị cáo đang có tiền sự bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng vẫn tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng xem thường pháp luật, cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ quy định tạp khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất dưới khung hình phạt, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T6 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều thứ 4, bị cáo Đặng Kim T8 sử dụng số tiền nhiều thứ 6 trong số các bị cáo. Bản thân bị cáo T6 được Chủ tịch UBND xã N tặng giấy khen và được Chủ tịch Hiệp hội trang trại và doanh nghiệp N5 tặng Kỷ niệm chương. Bị cáo T8 đầu thú. Xét thấy các bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, vì vậy áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ nghiêm.
Bị cáo Lê Đình P1 sử dụng số tiền nhiều thứ 5. Bị cáo Trần Thu H2 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã cung cấp công cụ, đồng ý cho các đối tượng trên đánh bạc tại địa điểm thuộc quyền quản lý của mình, khi lực lượng Công an vào bị cáo H2 đã thông báo cho các bị cáo đang đánh bạc biết nên đã đồng phạm về tội đánh bạc với vai trò người giúp sức tích cực. Các bị cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 BLHS. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho các bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ như lời đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Căn cứ vào biên bản xác minh thu nhập các bị cáo Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8, Trần Thu H2 có mức thu nhập bình quân từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/1 tháng nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét thấy qua kết quả xác minh tài sản, các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1 và Đặng Kim T8, Trần Thu H2 không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội, thu nhập thấp nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng: Số tiền: 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc vì vậy áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, sung công quỹ Nhà nước.
Số tiền: 7.200.000 đồng (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T6 và số tiền: 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) thu giữ của Nguyễn Văn T nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.
01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếu tre màu vàng, kích thước (1,6 x 02)m, đã qua sử dụng. Đây là công cụ các đối tượng sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng nên trịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Nguyễn Văn T 8 (Tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 16 (Mười sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2023).
Xử phạt: Ngân Văn N1 7 (Bảy) tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2023).
Giao Nguyễn Văn T, Ngân Văn N1, về cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 58, Điều 38, Điều 54 Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Trần Văn T3 4 (Bốn) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/8/2023 đến ngày 10/8/2023.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn T6 9 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 8 (Tám) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Đặng Kim T8 7 (Bảy) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 02/8/2023 đến 11/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 6 (Sáu) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 36 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Lê Đình P1 9 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 8 (Tám) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Xử phạt: Trần Thu H2 6 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ nhưng được trừ 9 ngày tạm giữ, tạm giam (từ ngày 01/8/2023 đến 10/8/2023) bằng 27 ngày cải tạo không giam giữ nay buộc bị cáo còn phải chấp hành 5 (Năm) tháng 3 (Ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Miễn khấu trừ thu nhập của các bị cáo Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2 cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian các bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản án. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung cho tất cả các bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Sung công quỹ Nhà nước tổng số tiền: 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ gồm 36 quân từ “A” đến “09”, mặt sau có hoa văn màu đỏ, đã qua sử dụng và 01 (Một) chiếu tre màu vàng, kích thước (1,6 x 02)m, đã qua sử dụng.
Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 4 tháng 10 năm 2023 giữa Công an huyện T và Chi cục thi hành án huyện Tân Kỳ.
-
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T3, Ngân Văn N1, Nguyễn Văn T6, Lê Đình P1, Đặng Kim T8 và Trần Thu H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hương |
Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN về đánh bạc
- Số bản án: 67/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 67/2023/HSST ngày 25/10/2023
