|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Bản án số: 67/2023/HSPT Ngày: 19/12/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Tâm.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và ông Nguyễn Mạnh Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương – Thẩm tra viên chính Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Quang Huy – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/TLPT-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Phạm Văn H; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST, ngày 29 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
-
* Bị cáo có kháng cáo: Phạm Văn H, sinh năm 1974; nơi cư trú: Xóm E, xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H1 và bà Phạm Thị C; vợ: Phan Thị D; con: 02 con, (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005). Tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt tại phiên toà.
-
* Bị hại:
- Chị Trần Thị S, sinh năm 1982; nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Ông Phạm Văn C1, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn H2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ dân phố X, thị trấn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; nơi cư trú: Tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Điện lực Thanh Liêm: Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Xuân T1, Giám đốc (có đơn xin xét xử vắng mặt).
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH T5: Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T2, Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Giám đốc; địa chỉ: Phố A, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn H được Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp Giấy phép lái xe hạng E, FC có giá trị đến ngày 09/5/2024, ký hợp đồng lao động làm lái xe với Công ty trách nhiệm hữu hạn T5.
Khoảng 20 giờ, ngày 06/10/2022, Phạm Văn H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 35C - 099.02 kéo sơ mi rơ moóc xi téc BKS: 35R - 0191 đi từ địa bàn huyện H, thành phố Hà Nội về tỉnh Ninh Bình để lấy hàng. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày khi H đang điều khiển xe ô tô đầu kéo đi theo Quốc lộ A, hướng P - Ninh Bình đến Km 244 + 600 thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện T, do buồn ngủ nên H điều khiển xe ô tô đầu kéo đi không đúng làn đường theo quy định, đi hướng vào mép đường bên phải chiều đi, dẫn đến phần đầu bên phải xe ô tô đầu kéo do H điều khiển xô vào đuôi xe ô tô bán tải BKS: 90C - 113.91 do anh Nguyễn Văn T3 điều khiển đang đỗ sát mép đường bên phải chiều đường P - Ninh Bình phía trước cửa quán ăn đêm của chị Trần Thị S và đẩy xe ô tô BKS: 90C - 113.91 lao về phía trước xô vào tường nhà ông Phạm Văn C1 làm tường nhà ông C1 bị vỡ, xe ô tô BKS: 90A - 103.21 của ông C1 đang để trong lán và 1 số tài sản khác bị hư hỏng. Xe ô tô do H điều khiển tiếp tục lao về phía trước, đâm vào đuôi xe ô tô BKS: 73B - 009.85 do anh Nguyễn Văn H2 điều khiển đang đỗ phía trước cùng chiều gần khu vực quán ăn làm xe ô tô BKS: 73B - 009.85 bị đẩy về phía trước xô gẫy 01 cột điện ở sát mép đường của Điện lực T, sau đó xe ô tô do H điều khiển mới dừng lại.
Hậu quả: Xe ô tô BKS: 35C - 099.02, xe ô tô BKS: 90C - 113.91, xe ô tô BKS: 90A - 103.21 và xe ô tô BKS: 73B - 009.85, 01 cột điện có kèm theo 07 công tơ điện; cửa, tường và nhiều tài sản của gia đình ông Phạm Văn C1 và gia đình chị Trần Thị S bị hư hỏng.
Sau khi nhận được tin báo, Phòng C2 - Công an tỉnh H đã phối hợp với Công an xã T tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám phương tiện theo quy định; sau đó chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, điều tra đã tạm giữ các phương tiện, tài liệu gồm:
- 01 xe ô tô đầu kéo BKS: 35C - 099.02 kéo sơ mi rơ moóc xi téc BKS: 35R - 0191 kèm theo 02 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô đầu kéo và sơ mi rơ moóc xi téc trên; 01 giấy phép lái xe hạng E, FC mang tên Phạm Văn H.
- 01 xe ô tô BKS: 90C - 113.91 kèm theo 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường; 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Văn T3.
- 01 xe ô tô BKS: 90A - 103.21.
- 01 xe ô tô BKS: 73B - 009.85 kèm theo 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe ô tô này; 01 giấy phép lái xe hạng D mang tên Nguyễn Văn H2.
- Ngoài ra Cơ quan điều tra còn trích xuất sao lưu hình ảnh có liên quan đến vụ tai nạn trong 01 USB niêm phong ký hiệu M.
Đã tiến hành đo nồng độ cồn ngày 06/10/2022 đối với Phạm Văn H, kết quả là 0.000 mg/L; kết quả xét nghiệm miễn dịch ngày 10/10/2022 test M là âm tính.
Ngày 02/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T: Xác định giá trị thiệt hại hư hỏng của xe ô tô BKS: 90C - 113.91; xe ô tô BKS: 90A - 103.21; xe ô tô BKS: 73B - 009.85; xe ô tô đầu kéo BKS: 35C - 099.02 tại thời điểm ngày 06/10/2022.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS, ngày 17/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
+ Tổng chi phí sửa chữa, thay thế đối với xe ô tô BKS: 90C - 113.91 là 282.755.000 đồng (đã bao gồm 10% thuế VAT);
+ Tổng chi phí sửa chữa, thay thế đối với xe ô tô BKS: 73B - 009.85 là 119.702.000 đồng (đã bao gồm 10% thuế VAT);
+ Tổng chi phí sửa chữa, thay thế đối với xe ô tô BKS: 90A - 103.21 là 46.695.000 đồng (đã bao gồm 10% thuế VAT);
+ Tổng chi phí sửa chữa, thay thế đối với xe ô tô BKS: 35C - 099.02 là 87.010.000 đồng (đã bao gồm 10% thuế VAT).
Ngày 26/12/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra văn bản yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị thiệt hại hư hỏng của các tài sản có liên quan do vụ tai nạn giao thông gây ra tại thời điểm ngày 06/10/2022.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 63/KL-HĐĐGTS, ngày 30/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
* Hư hỏng liên quan đến Điện lực T6:
- Thay thế 01 cột điện bị hư hỏng tại thời điểm 06/10/2022 có giá là 10.000.000 đồng.
- 03 công tơ ba pha bị hư hỏng phải thay thế giá trị thời điểm ngày 06/10/2022 là 3.900.000 đồng.
- 04 công tơ 1 pha bị hư hỏng phải thay thế giá trị thời điểm ngày 06/10/2022 là 1.600.000 đồng.
* Hư hỏng tài sản liên quan đến nhà ông Phạm Văn C1:
- T4 vỡ dầm bê tông, tường gạch bị kích thước (3,9x1,3)m, chân cột của lán bị nứt vỡ, gãy chi phí khắc phục sửa chữa số tiền tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 4.000.000 đồng.
- 02 cửa cuốn bị cong vênh mỗi cửa rộng 16m2 có thể khắc phục được số tiền tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 10.000.000 đồng.
- 04 tủ khung nhôm kính kích thước (1,2x1,85x0,30)m bị vỡ kính phải thay toàn bộ kính tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 1.200.000 đồng.
- 02 cột lán cửa hàng bị nứt dài 1m chi phí sửa chữa tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 400.000 đồng.
* Hư hỏng liên quan đến nhà chị Trần Thị S:
- 01 biển quảng cáo kích thước (2x1,5)m bị cong vênh bóp méo phải thay mới giá tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 1.900.000 đồng.
- 02 biển quảng cáo kích thước (0,8x0,8)m bị cong vênh, bẹp méo phải thay mới giá tại thời điểm ngày 06/10/2022 là 1.100.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự:
Phạm Văn H đã cùng Công ty trách nhiệm hữu hạn T5, tự nguyện bồi thường số tiền 40.000.000 đồng đối với thiệt hại hư hỏng xe ô tô BKS: 90A - 103.21 và các tài sản khác của gia đình ông Phạm Văn C1; thỏa thuận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng đối với thiệt hại hư hỏng xe ô tô BKS: 73B - 009.85 của anh Nguyễn Văn H2; thỏa thuận bồi thường số tiền 30.000.000 đồng đối với thiệt hại hư hỏng xe ô tô BKS: 90C - 113.91 của anh Nguyễn Văn T; đã tự khắc phục thiệt hại hư hỏng cột điện và các tài sản có liên quan cho Điện lực T6. Riêng chị Trần Thị S tự sửa chữa hư hỏng biển quảng cáo của quán ăn và không yêu cầu bồi thường.
Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HSST, ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đã tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 41, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù. Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phạm Văn H hành nghề lái xe trong thời hạn 18 tháng. Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 05/9/2023 bị cáo Phạm Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HSST, ngày 29/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn H không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về nội dung đơn kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn H kháng cáo trong thời hạn luật định, đơn kháng cáo thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được cấp phúc thẩm xem xét giải quyết.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân; phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của các bị hại, Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện giao thông và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 45 phút, ngày 06/10/2022, Phạm Văn H (có giấy phép lái xe hạng E, FC do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp, có giá trị đến ngày 09/5/2024) điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 35C - 099.02 kéo sơ mi rơ moóc xi téc BKS: 35R - 0191 đi trên quốc lộ A theo hướng P - Ninh Bình đến Km 244 + 600 thuộc địa phận thôn P, xã T, huyện T, do buồn ngủ nên H điều khiển xe ô tô đầu kéo đi không đúng làn đường quy định, đi hướng vào mép đường bên phải chiều đi dẫn đến phần đầu bên phải xe ô tô đầu kéo xô vào đuôi xe ô tô bán tải BKS: 90C - 113.91 do anh Nguyễn Văn T3 điều khiển đang đỗ sát mép đường bên phải chiều đường P - Ninh Bình trước cửa quán ăn đêm của chị Trần Thị S, làm xe ô tô BKS: 90C - 113.91 lao về phía trước xô vào tường nhà ông Phạm Văn C1 làm tường nhà, xe ô tô BKS: 90A - 103.21 của ông C1 đang để trong lán và một số tài sản khác bị hư hỏng. Xe ô tô do H điều khiển tiếp tục lao về phía trước xô vào đuôi xe ô tô BKS: 73B - 009.85 do anh Nguyễn Văn H2 điều khiển đang đỗ phía trước cùng chiều gần khu vực quán ăn làm xe ô tô BKS: 73B - 009.85 bị đẩy về phía trước xô gẫy 01 cột điện ở sát mép đường của Điện lực T6. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại, hư hỏng là 483.252.000 đồng. Với hành vi trên, bị cáo Phạm Văn H đã bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội bị cáo chủ động khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường theo thỏa thuận với các bị hại nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố đẻ là thương binh nặng, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, Huân chương Chiến sỹ giải phóng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, quá trình tại ngoại chấp hành tốt nghĩa vụ công dân; có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Chỉ cần giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng đủ điều kiện răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội mà vẫn đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; phù hợp quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐT, ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn H được cấp phúc thẩm chấp nhận.
[4] Án phí: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phạm Văn H; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2023/HS-ST, ngày 29/8/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
- Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (19/12/2023).
Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phạm Văn H hành nghề lái xe trong thời hạn 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Văn H không phải nộp.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Thị Thanh Tâm |
Bản án số 67/2023/HSPT ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 67/2023/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong thời hạn luật định, ngày 05/9/2023 bị cáo Phạm Văn H kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo.
