Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 67/2023/HS-ST

Ngày 28 - 11-2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sâm

Ông Lê Đăng Thiện

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tham gia phiên tòa:

Bà Hà Thị Hồng Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2023/TLST- HS ngày 27 tháng 10 năm 20 23 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo: Đào Sỹ H, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1987 tại xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn Đ xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố: Đào Sỹ H1, sinh năm 1960; Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1966; Vợ: Đoàn Thị Q, sinh năm 1987 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2009; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”. Ngày 06/7/2023 chấp hành xong án phạt tù.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/7/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Việt H2, sinh năm 1982. Có mặt

Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1976. Có mặt

2. Anh Phan Trọng N, sinh năm 1974. Có mặt

Cùng địa chỉ: Thôn A xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Chị Trịnh Thị T, sinh năm 1982. Vắng mặt
    Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Nguyễn Đình H4, sinh năm 1982. Vắng mặt
    Địa chỉ: Thôn T xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội
  3. Chị Trần Thị H5, sinh năm 1978. Có mặt
    Địa chỉ: Khu phố A thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  4. Cháu Trịnh Phú H6, sinh năm 2007. Có mặt
    Địa chỉ: Khu phố A thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người giám hộ cho cháu Trịnh Phú H6:

Chị Trần Thị H5, sinh năm 1978. Có mặt

Địa chỉ: Khu phố A thị trấn S, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09h ngày 12/01/2018 Đào Sỹ H thuê chiếc xe ô tô con nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen của anh Nguyễn Việt H2, sinh năm 1982, thường trú tại xóm G, thôn V xã C, huyện T, Thành Phố Hà Nội đề đi vào huyện T, tỉnh Thanh Hóa chơi trong thời gian 05 ngày. Do ở cùng xã và đã nhiều lần H thuê xe của anh H2 nên anh H2 đã để Giấy đăng ký đăng kiểm của xe, hộ khẩu gia đình và giấy chứng minh nhân dân po to của mình ở trong xe và thỏa thuận miệng với H mà không làm Hợp đồng thuê xe. Sau khi vào đến huyện T, Đào Sỹ H liên lạc với bạn gái tên L1 quê ở Thái Nguyên đang làm nhân viên phòng hát karaoke tại T đến nhà nghỉ “Điểm hẹn” ở xóm A xã X, huyện T do chị Trịnh Thị T làm chủ thuê phòng ở cùng nhau. Đến ngày 16/01/2018 H nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe ô tô của anh H2 để lấy tiền tiêu sài cá nhân. H xuống gặp chị T xin cầm cố chiếc xe ô tô của anh H2 lấy 150.000.000đ. Do chị T không có tiền nên H nói với chị T là cần tiền để giải quyết công việc nên nhờ chị T quen biết ai nên cầm cố hộ xe để lấy tiền. Thấy H có đầy đủ giấy tờ xe nên chị T có điện cho anh Phan Trọng N, sinh năm 1974, trú tại: Thôn A xã X (nay là xã X), huyện T giới thiệu cho H cầm xe, anh N đồng ý, sau đó chị T dẫn H xuống nhà anh N viết giấy cầm cố xe ô tô lấy số tiền 150.000.000đ. Sau khi cầm cố được xe lấy tiền H nhờ chị T chở xuống Ngân hàng A ở xã T, huyện T chuyển số tiền 140.000.000đ vào tài khoản số [...] ngân hàng V của mình, còn 10.000.000₫ H để lại tiêu sài. Đến tối ngày 18/01/2018 H tiếp tục đến nhà anh N nói là cần tiền vay thêm số tiền 30.000.000₫ nữa và viết giấy hẹn đến ngày 16/02/2018 sẽ đến trả tiền cho anh N lấy xe. Tổng số tiền H cầm cố chiếc xe của anh H2 cho anh N là 180.000.000đ(một trăm tám mươi triệu đồng) với lãi suất 1.000đ/1 triệu/1 ngày.

Ngày 17/01/2018 đến hẹn nhưng chưa thấy H về trả xe, anh H2 gọi điện cho H đem xe về trả nhưng H nói là đang giải quyết công việc chưa xong, xin thuê xe tiếp đến ngày 24/01/2018 H về trả xe, anh H2 đồng ý.

Chiều ngày 18/01/2018 anh N đã đem xe ô tô mà H cầm cố vào nhà chị họ là chị Trần Thị H5 ở xóm A xã X gửi nhờ.

Ngày 21/11/2018 H đã tắt điện thoại di động cùng L1 đi vào các tỉnh phía Nam để bỏ trốn, khoảng 15 ngày sau thì L1 quay ra miền B còn H ở lại các tỉnh phía Nam lao động tự do. Đến đầu năm 2021 H ra thành phố H lái xe thuê, đến ngày 31/8/2022 H bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ” xảy ra ngày 16/6/2021 tại thành phố H.

Đối với anh Nguyễn Việt H2 đến ngày 24/01/2018 không thấy H đem xe về trả, anh H2 đã nhiều lần điện thoại cho H nhưng không liên lạc được. Do không liên lạc được nên anh H2 đã dùng định vị xác định được vị trí của xe ô tô. Đến ngày 26/01/2018 anh H2 đã thuê anh Nguyễn Đình H4 là lái xe dịch vụ ở thôn C xã C, T, Hà Nội đưa vào Thanh Hóa tìm xe. Theo định vị anh H2 đến nhà chị Trần Thị H5 ở xóm A xã X (N là thị trấn S), huyện T thấy xe ô tô của mình để ở sân sau nhà, anh H2 gọi nhưng không thấy người ở nhà nên đã sử dụng chìa khóa phụ lấy xe ra đậu ở sân bóng trước nhà chị H5, kiểm tra xe rồi đi về Hà Nội. Sau khi phát hiện bị mất xe ô tô, chị H5 đã báo cho anh N, anh N đã báo cho Công an huyện T giải quyết và giao nộp các giấy tờ liên quan đến chiếc xe ô tô.

Ngày 30/01/2018 khi Cơ quan điều tra Công an huyện T triệu tập và yêu cầu giao nộp xe, anh H2 đã đem chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL- HĐĐG ngày 05/3/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện T kết luận giá trị của chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen tại thời điểm bị chiếm đoạt là 346.000.000đ(Ba trăm bốn mươi sáu triệu đồng)

Vật chứng vụ án: 01 ô tô con nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen; 01 đăng ký xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen mang tên Nguyễn Việt H2; 01 giấy kiểm định xe; 01 bảo hiểm xe và 01 sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Nguyễn Xuân P. Xác định các tài sản trên thuộc sở hữu của anh H2 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Trọng N và chị Nguyễn Thị H3 yêu cầu Bị cáo trả lại số tiền 180.000.000₫ mà vợ chồng anh N đã đưa cho Bị cáo khi cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen vào các ngày 16 và 18/01/2018.

Cáo trạng số 79/CT-VKSTX ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Đào Sỹ H về tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 3 Điều 175 Bộ luật hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của Bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Ngày 12/01/2018 Bị cáo Đào Sỹ H đã có hành vi lợi dung sự tin tưởng của anh Nguyễn Việt H2, đã thuê chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen trị giá 346.000.000₫ đi vào huyện T, tỉnh Thanh Hóa chơi với bạn gái. Sau đó đến hạn Bị cáo không đem trả lại tài sản mà đem chiếc xe ô tô của anh H2 cầm cố cho anh Phan Trọng N lấy số tiền 180.000.000đ để tiều sài cá nhân rồi bỏ trốn. Tài sản trị giá 346.000.000₫ nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình quy định tại khoản 3 điều 175 BLHS.

Vì vậy có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Đào Sỹ H phạm tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 3 điều 175 BLHS.

Cáo trạng số 79/CT-VKSTX ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét về tính chất của vụ án: HĐXX thấy rằng: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng.

[4]. Xét về mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: HĐXX thấy rằng: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; Hành vi của bị cáo gây tâm lý bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng vào lòng tin của người bị hại để chiếm đoạt tài sản. Điều đó chứng tỏ rằng bị cáo rất coi thường pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm minh mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và có tác dục phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[5]. Xét về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 31/8/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ”. Ngày 06/7/2023 chấp hành xong án phạt tù. Bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. HĐXX sẽ giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6]. Về Hình phạt: HĐXX xét thấy: Bị cáo có nhân thân xấu; Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, bắt bị cáo cách ly xã hội một thời gian mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, bản thân bị cáo phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Xét yêu cầu của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Trọng N và chị Nguyễn Thị H3 thì HĐXX thấy rằng: Bị cáo đã cầm cố chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F-002.60, màu đen vào các ngày 16 và 18/01/2018 để lấy số tiền 180.000.000₫ của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để chi tiêu cá nhân nên căn cứ vào điều 48 BLHS buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

[ 8]. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho Bị hại bảo quản, sử dụng và lập Biên bản quy trữ xe, yêu cầu Bị hại không được mua bán, trao đổi, cho mượn, cầm cố đối với chiếc xe. Nay HĐXX căn cứ khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên Bị hại là anh Nguyễn Việt H2 là chủ sở hữu được quyền sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen (đã nhận).

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Ngoài ra trong vụ án này đối với anh Phan Trọng N đã cho Bị cáo cầm cố chiếc xe ô tô để vay tổng số tiền 180.000.000đ khi không có giấy tờ ủy quyền hợp pháp của chủ xe, gia đình anh N không có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là vi phạm điểm e khoản 2 điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ tuy nhiên hành vi vi phạm của anh N phát hiện từ tháng 1/2018 đến nay đã hết thời hiệu xử phạt. Đối với hành vi của chị Trịnh Thị T đưa H đến nhà anh Phan Trọng N để cầm cố tài sản tuy nhiên chị T không được hưởng lợi ích gì và không biết tài sản đó H đang mượn của người khác nên không có căn cứ xử lý hành vi của chị T.

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào: Khoản 3 điều 175; Điểm s khoản 1 điều 51; Điều 38 BLHS;
  • - Tuyên bố: Bị cáo Đào Sỹ H phạm tội: "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  • - Xử phạt: Bị cáo Đào Sỹ H 06(sáu) năm 03(ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/7/2023.
  • - Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ vào điều 48 BLHS; Điều 357 Bộ luật Dân sự;
  • Buộc bị cáo Đào Sỹ H phải bồi thường thiệt hại cho Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Phan Trọng N và chị Nguyễn Thị H3 số tiền 180.000.000đ(Một trăm tám mươi triệu đồng).
  • Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác .
  • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên Bị hại là anh Nguyễn Việt H2 là chủ sở hữu được quyền sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET, biển kiểm soát 30F- 002.60, màu đen (đã nhận).
  • - Về án phí : Căn cứ khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015; Điểm a, c khoản 1 điều 23 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH;
  • Buộc bị cáo Đào Sỹ H phải chịu 200.000đ án phí HSST và án phí DSST là 9.000.000đ, tổng là 9.200.000đ.
  • - Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1, 4 điều 331 và khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • Bị cáo, Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

  • - VKSND huyện Thọ Xuân
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa
  • - THA dân sự;
  • - THA hình sự Công an
  • huyện Thọ Xuân; tỉnh Thanh Hóa
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 67/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 67/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Sỹ hiếu mượn xe ô tô chiếm đoạt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger