| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 669/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 14/11/2025
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đoan Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đàm Thu Ánh;
- Bà Phạm Thị Minh Châu.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 407/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 419/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị M, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện Đ (nay là xã Đ), tỉnh Hà Tĩnh;
Bà M có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Vòng Sì H, sinh năm 1992; địa chỉ thường trú: F đường số B, Khu N, Tổ I, Khu I, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ cư trú hiện nay: A L, Phường M, Thành phố Hồ Chí Minh;
Ông H có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện nộp ngày 20/01/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị M trình bày:
Bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H là vợ chồng hợp pháp chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2017 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 11/01/2017.
Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn về mặt tình cảm và kinh tế, vợ chồng khác biệt về lối sống và quan điểm sống, không thể nói chuyện chia sẻ được với nhau. Sau khi sinh con bà đã về nhà mẹ sinh sống, từ đó đến nay vợ chồng đã sinh sống riêng, mỗi người ở một nơi. Nay bà M nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, tình cảm thực sự không còn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà M yêu cầu được ly hôn với ông Vòng Sì H để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Vòng Chí T, sinh ngày 07/5/2017, Vòng Bảo V, sinh ngày 08/7/2020 và Vòng Chí T1, sinh ngày 28/02/2025 hiện đang ở với bà M và do bà trực tiếp chăm sóc. Bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con, bà M và ông H đã tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Ngày 21/8/2025, nguyên đơn bà Đoàn Thị M có nộp Đơn xin vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án. Bà M vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong Đơn khởi kiện và xin bảo lưu ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện tại Tòa án.
* Ông Vòng Sì H là bị đơn trình bày trong bản tự khai ngày 14/10/2025: Ông xác nhận quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung đúng như bà M đã trình bày.
Ông cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do khác biệt trong tính cách và quan điểm sống nên hai người không thể hiểu và thông cảm lẫn nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi, vì vậy ông đồng ý ly hôn với bà M.
- Về con chung: Có 03 con chung tên Vòng Chí T, sinh ngày 07/5/2017, Vòng Bảo V, sinh ngày 08/7/2020 và Vòng Chí T1, sinh ngày 28/02/2025 hiện đang ở với bà M, do đó ông đồng ý để bà M tiếp tục nuôi dưỡng con, ông và bà M đã tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 14/10/2025, bị đơn ông Vòng Sì H có Đơn xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3-Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau: “Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các Biên bản lời khai đã thể hiện, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng :
* Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà M xin ly hôn với ông H, ông H có nơi cư trú tại phường M, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 3-Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định pháp luật tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân năm 2015 và Điều 6 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
* Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có Đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H.
[2] Về yêu cầu của các đương sự:
* Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Đoàn Thị M:
Bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/2017 ngày 11/01/2017. Quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông H là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét thấy: Mâu thuẫn giữa bà M và ông H phát sinh chủ yếu về mặt tình cảm, nguyên nhân do vợ chồng khác biệt về lối sống và quan điểm sống, vợ chồng đã cố hàn gắn nhưng không được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cả hai đã sống ly thân mỗi người một nơi và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hòa giải với nhau để đoàn tụ gia đình. Ông H cũng đã thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng như bà M đã trình bày trong Đơn khởi kiện và đồng ý ly hôn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào những nhận định nêu trên và căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định: “Khi tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn”. Vì vậy, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đoàn Thị M được ly hôn với ông Vòng Sì H.
* Về con chung: Có 03 con chung tên Vòng Chí T, sinh ngày 07/5/2017, Vòng Bảo V, sinh ngày 08/7/2020 và Vòng Chí T1, sinh ngày 28/02/2025, con chung hiện còn nhỏ và đang do bà M nuôi dưỡng, bà M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con và ông H cũng thống nhất ý kiến của bà M, ông H đồng ý để bà M tiếp tục nuôi dưỡng con, hai bên đã tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử nhận thấy, để đảm bảo tốt nhất về mọi mặt cho con chung và trẻ còn nhỏ cần sự chăm sóc trực tiếp của mẹ nên cần chấp nhận yêu cầu của bà M được nuôi dưỡng các con là trẻ Vòng Chí T, sinh ngày 07/5/2017, Vòng Bảo V, sinh ngày 08/7/2020 và Vòng Chí T1, sinh ngày 28/02/2025.
Bà M và ông H tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về tài sản chung và nợ chung: Bà M và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung.
[3] Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm bà Đoàn Thị M phải nộp án phí theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; 228; 271; 273; 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Đoàn Thị M.
Bà Đoàn Thị M được ly hôn với ông Vòng Sì H.
2. Về con chung: Giao bà Đoàn Thị M được nuôi dưỡng trẻ Vòng Chí T, sinh ngày 07/5/2017, Vòng Bảo V, sinh ngày 08/7/2020 và Vòng Chí T1, sinh ngày 28/02/2025.
Bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Vòng Sì H được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được quyền cản trở ông H thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của trẻ, khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Án phí: Bà Đoàn Thị M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí bà M đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0021862 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà M đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Đoàn Thị M và ông Vòng Sì H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Đoan Tiên |
Bản án số 669/2025/HNGĐ-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn (hôn nhân gia đình)
- Số bản án: 669/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
