Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 666/2024/HS-ST

Ngày 09/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Với Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Bà Thiều Thị Phi Loan
  • + Ông Hoàng Ngọc Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 683/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 674/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Lâm Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh năm: 1997 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: M, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Hộ khẩu thường trú: 491/37, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai);

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa

Nghề nghiệp: Kinh doanh tại nhà

Trình độ học vấn: 12/12

Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không

Họ tên cha: Nguyễn Đức T, sinh năm 1958 (còn sống);

Họ tên mẹ: Lâm Thị D, sinh năm 1957 (còn sống);

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con út trong gia đình và chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo đang được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án

- Chị Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1996

Nơi cư trú: 205, đường Đ, Khu phố F, phường T, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lâm Tuấn A và chị Nguyễn Thị Ngọc H quen biết nhau từ thời học cấp 3. Vào khoảng tháng 5/2019, chị H hỏi vay mượn tiền Tuấn A để mở quán cà phê chung với bạn của H thì Tuấn A đồng ý cho vay với hình thức trả lãi theo tháng với lãi suất 20%/tháng. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác định Tuấn A đã thu lợi bất chính của chị H trong 02 lần cho vay, cụ thể như sau

Khoản vay thứ nhất: Ngày 19/5/2019, Tuấn A thỏa thuận cho chị H vay số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) với lãi suất 20%/tháng nên tiền lãi mỗi tháng là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng). Đến ngày 24/6/2019, chị H trả cho Tuấn A 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) tiền lãi và chưa trả tiền gốc, tương đương 37 ngày với lãi suất thực tế là 16.22%/tháng. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Tuấn A được hưởng trong lần vay này là 411.921₫ (Bốn trăm mười một nghìn chín trăm hai mươi mốt đồng), số tiền thu lợi bất chính là 3.588.079 đồng (Ba triệu năm trăm tám mươi tám nghìn không trăm bảy mươi chín đồng).

Khoản vay thứ hai: Ngày 24/6/2019, chị H vay thêm Tuấn A 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), tổng tiền vay lần này là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) với lãi suất 20%/tháng nên tiền lãi mỗi tháng là 10.000.000đ (Mười triệu đồng). Đến ngày 10/10/2019, chị H trả cho Tuấn A 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) tiền lãi và vẫn chưa trả tiền gốc, tương đương 130 ngày với lãi suất thực tế là 23.08%/tháng thì chị H không còn khả năng trả nợ nên Tuấn A không lấy tiền lãi nữa. Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng mà Tuấn A được hưởng trong lần vay này là 3.618.290đ (Ba triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm chín mươi đồng), số tiền thu lợi bất chính là 46.381.710đ (Bốn mươi sáu triệu ba trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm mười đồng).

Đến ngày 20/01/2020, chị H và gia đình trả số tiền gốc 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho Tuấn A.

Số tiền lãi hợp pháp tương ứng với mức 1,67%/tháng (20%/năm) mà Tuấn A được hưởng trong 02 lần cho vay (từ ngày 19/5/2019 đến ngày 10/10/2019) là 4.030.211₫ (Bốn triệu không trăm ba mươi nghìn hai trăm mười một đồng), số tiền thu lợi bất chính là 49.969.789₫ (Bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng).

Điều 468 Bộ luật dân sự quy định lãi suất do các bên tự thỏa thuận, nhưng không vượt quá 20%/năm (tương đương 1,67%/tháng). Nguyễn Lâm Tuấn A đã cho chị Nguyễn Thị Ngọc H vay tiền trong 02 lần vay với lãi suất từ 16.22%/tháng đến 23.08%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định theo Bộ luật dân sự. Số tiền Tuấn A sử dụng để cho vay là 50.000.000₫ (Năm mươi triệu đồng), số tiền lãi Tuấn A đã thu lợi bất chính là 49.969.789₫ (Bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng).

Cáo trạng số 664/CT-VKSBH ngày 19/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 201, Điều 35; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo hình phạt: từ 80.000.000đồng đến 100.000.000đ.

+ Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị Ngọc H có bản tự khai tại Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa thể hiện đã được bị cáo trả lại toàn bộ khoản tiền 49.969.789₫ (Bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng); Nên ghi nhận nội dung này và áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

+ Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A phải giao nộp 50.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 4.083.211 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

+ Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ mức tiền phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về việc xét xử vắng mặt: Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, chị Nguyễn Thị Ngọc H có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc gia đình. Việc làm đơn này là hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp nên được chấp nhận. Do đó, căn cứ vào Điều 292 của BLTTHS, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị H.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa đã truy tố; lời khai nhận đó phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, đã có đủ cơ sở kết luận:

Từ ngày 19/5/2019 đến ngày 10/10/2019, Nguyễn Lâm Tuấn A đã có hành vi sử dụng số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) để cho chị Nguyễn Thị Ngọc H vay với lãi suất từ 16.22%/tháng đến 23.08%/tháng đã vượt gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự để thu lợi bất chính số tiền 49.969.789₫ (Bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi chín nghìn bảy trăm tám mươi chín đồng).

Bị cáo đã cho vay với mức lãi suất cao hơn gấp 05 lần của mức lãi suất cao nhất được quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, thu lợi bất chính với số tiền từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi này của bị cáo là hành vi xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về hoạt động tín dụng, mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ; xâm phạm đến lợi ích tài chính của công dân nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo đã gây ra nhằm răn đen giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường toàn bộ số tiền lãi thu lợi bất chính cho chị Nguyễn Thị Ngọc H; đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Chị H cùng gia đình đã trả lại toàn bộ số tiền gốc 50.000.000₫ cho bị cáo cũng như bị cáo đã trả lại toàn bộ tiền lãi thu lợi bất chính cho chị H. Như vậy, phần trách nhiệm dân sự đã được các bên giải quyết xong nên không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[6]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A phải giao nộp 50.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 4.083.211 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[8]. Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 201; Điều 35; Điều 47, Điều 48; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, 136, 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;

2. Về mức hình phạt: Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A số tiền 50.000.000đồng. (Năm mươi triệu đồng).

3. Về biện pháp tư pháp:

Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A phải giao nộp 50.000.000 đồng (tiền sử dụng cho vay) và 4.083.211 đồng (tiền lãi theo quy định của pháp luật) để tịch thu sung ngân sách nhà nước.

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Lâm Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.BH
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP.BH;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự TP.BH;
  • - Chi cục thi hành án dân sự TP.BH;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đồng Thị Hồng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 666/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 666/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lâm Tuấn Anh về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger