TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
Bản án số: 666/2024/HS-PT Ngày: 14 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các Thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 489/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Khổng T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo kháng cáo: Khổng T, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1988, tại tỉnh Đồng Nai; HKTT: tổ E, ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Con ông Khổng H, sinh năm 1962 và bà Song Ửng M, sinh năm 1965; bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2006 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2022, đến ngày 06/9/2022 được hủy bỏ biện pháp tạm giam; bị bắt tạm giam lại từ ngày 04/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt).
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Vũ Thanh H1– thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 29/3/2022, anh Trần Văn T1, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: khu phố B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cùng 02 người bạn là anh Đỗ Bá T2, sinh năm 1990, hộ khẩu thường trú: ấp B, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và anh Nguyễn Quốc H2, sinh năm 1980, hộ khẩu thường trú: ấp D, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Nai đi nhậu với nhau tại quán “Ố" thuộc khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Đến 19 giờ 50 phút cùng ngày, Khổng T đi cùng anh Đặng Văn P, sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đến quán “Ốc D” để nhậu và ngồi tại bàn số 01 (trước đó T và anh P đã ăn nhậu tại quán lẩu bò “Năm Nga” và nhậu tại nhà ông Khổng Ú là chú ruột của T). Khoảng 20 giờ cùng ngày, anh T1, anh T2 và anh H2 ăn nhậu xong, lúc này anh T1 đi bộ ra mở cốp xe mô tô dựng trước cửa quán (sát vị trí bàn số 01 T đang ngồi) để lấy tiền trả tiền nhậu thì T nghĩ rằng anh T1 chửi mình nên đi lại vị trí anh T1 đứng và chửi anh T1. Sau đó, T đi vào khu vực bếp của quán “Ốc D” lấy 01 cây kéo bằng kim loại, cán màu đen, dài khoảng 20cm cầm ở tay phải đi ra đứng đối diện với anh T1 rồi dùng kéo đâm 01 nhát từ trên xuống trúng vào vùng ngực trái của anh T1. Thấy anh T1 bị đâm thì anh T2 và anh H2 chạy đến bắt giữ T nhưng T leo lên xe mô tô bỏ chạy. Anh T1 được mọi người đưa đến Bệnh viện Đ cấp cứu nhưng đã tử vong. Đến chiều ngày 30/3/2022, Khổng T đến Công an thành phố L đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 635/KL-KTHS ngày 30/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ xác định tình trạng thương tích và nguyên nhân tử vong của anh Trần Văn T1 như sau:
- Dấu hiệu chính: Bên ngoài thấy vết xây xát rách da vùng ngực, vết rách da vùng bụng, vết mổ cấp cứu vùng ngực, vết mổ dẫn lưu đường nách giữa bên trái. Giải phẫu thấy tụ máu dưới da vùng ngực, rách khe liên sườn 4-5 bên trái, xương ức được kết nhiều gọng kẽm, hai phổi nâu sẫm, nhu mô phổi đặc; tụ máu và rách bao màng tim thành trước được khâu nhiều mũi chỉ, trong bao màng tim có máu; rách cơ tâm thất phải được khâu tụm bằng chỉ lanh, sau khi cắt chỉ thấy rách xuyên buồng tim.
- Nguyên nhân tử vong: Sốc mất máu do vết thương vùng ngực – bụng thấu cơ tim hậu phẫu N1 không hồi phục.
- Hung khí: Vật sắc nhọn (một loại). Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 524/KL-VPYTW ngày 22/8/2022 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đối với Khổng T như sau:
- Về y học:
- + Trước và sau khi gây án: Đương sự bị bệnh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD. 10).
- + Trong khi gây án: Đương sự bị bệnh Rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F07.8-ICD. 10), có yếu tố rượu.
- + Hiện nay: Đương sự bị bệnh Rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/ Rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F43.22/ F07.8 – ICD. 10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi (có phần do yếu tố rượu).
- + Hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần sau thời gian bắt buộc chữa bệnh số 903/KLBB-VPYTW ngày 27/11/2023 của Viện Pháp y tâm thần Trung ương B đối với bị cáo Khổng T như sau:
- - Bị bệnh: Rối loạn sự thích ứng với phản ứng hỗn hợp lo âu trầm cảm/ Rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn (F43.22/ F07.8 – ICD. 10)
- - Hiện tại bệnh đã ổn định, không cần thiết điều trị bắt buộc nữa. Đương sự có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.
Cáo trạng số 01/CT-VKS-P2 ngày 02/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
- Về áp dụng pháp luật: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 49 Bộ luật hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khổng T phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Khổng T 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2022 đến ngày 06/9/2022.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, quyền thi hành án án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/4/2024, bị cáo Khổng T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Khổng T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt với lý do khi phạm tội bị cáo bị rối loạn tâm thần, không làm chủ được hành vi của mình; bị cáo có trình độ học vấn thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn, cha mẹ gia yếu; sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại.
Luật sư Vũ Thanh H1 trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh Viện kiểm sát đã truy tố; bị cáo là người có nhược điểm về tâm thần, học vấn thấp nên hạn chế về pháp luật, cha mẹ bị cáo không còn sống với nhau, gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình, bị cáo rất hối hận về hành vi của mình; Bị cáo đã nhờ người nhà khắc phục một phần hậu quả. Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm: Qua xem xét toàn bộ nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét thấy bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Giết người” là có căn cứ, các tình tiết giảm nhẹ bị cáo đưa ra tại phiên tòa hôm nay đã được cấp sơ thẩm xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Khổng T thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra công khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, với lời khai của người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định như sau:
- Khoảng 20 giờ ngày 29/3/2022, tại quán nhậu “Ốc D” thuộc khu phố F, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Khổng T đã có hành vi dùng 01 cây kéo bằng kim loại, cán màu đen, dài khoảng 20cm đâm 01 nhát từ trên xuống dưới trúng vào vùng ngực trái của anh Trần Văn T1 làm anh T1 tử vong do vết thương thấu ngực, thủng tim sốc mất máu.
- Giữa bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì nhưng chỉ vì cho rằng bị hại chửi mình nên bị cáo đã sử dụng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng ngực trái là vùng trọng yếu của cơ thể, qua đó tước đoạt trái phép tính mạng của bị hại, cho thấy thái độ côn đồ, xem thường pháp luật của bị cáo. Mặc dù thời điểm thực hiện hành vi bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi nhưng có phần do yếu tố uống rượu trước đó nên bị cáo vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bị cáo gây ra.
- Với các hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Khổng T phạm tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét kháng cáo của bị cáo:
- Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ, gây đau thương, mất mát cho gia đình bị hại, gây hoang mang cho dư luận, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội. Mặt khác, bị cáo còn có nhân thân xấu, từng bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh kết án về tội “Cướp giật tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo, rèn luyện bản thân mà nay lại tiếp tục phạm tội với tính chất và mức độ nghiêm trọng hơn. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo ra đầu thú; gia đình bị cáo đã bồi thường 50.000.000 đồng cho đại diện bị hại; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi, quy định tại điểm q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó xử phạt bị cáo 15 năm tù là đúng quy định pháp luật và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cũng như nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên không có cơ sở chấp nhận.
- Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Khổng T phải chịu theo quy định pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khổng T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tuyên xử:
- Về áp dụng pháp luật: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 49 Bộ luật hình sự.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Khổng T phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Khổng T 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2022 đến ngày 06/9/2022.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Khổng T để đảm bảo thi hành án.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Khổng T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 666/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (giết người)
- Số bản án: 666/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Khổng T phạm tội “Giết người”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Khổng T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2024/HS-ST ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
