|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 666/2024/DS-PT Ngày 21 tháng 8 năm 2024 V/v “Tranh chấp QSDĐ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Long
Ông Hà Huy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 272/2023/TLPT-DS ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2060/2023/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Lương T; Địa chỉ: Đường N, tổ dân phố C, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Thế P; Địa chỉ, tổ A, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Đình B; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Khánh L; Địa chỉ: Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông, (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đình S - Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ, (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N; Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, (vắng mặt).
- Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Khánh L, địa chỉ: Thị trấn E, huyện C, tỉnh Đắk Nông, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Tiến L1 - Phó giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn là ông Trần Lương T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2017, ông Trần Lương T có nhận chuyển nhượng của hộ ông Nguyễn Minh Đ và bà Dương Lê T1 thửa đất trồng cây lâu năm có diện tích 7.684m², tại thửa đất số 379, tờ bản đồ số 20 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN.QSDĐ) số CA 887259 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 28/4/2016 cho ông Đ, bà T1.
Thủ tục chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất nêu trên đã được hoàn tất và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận hồ sơ số 137205.CN.1494 ngày 11/01/2017. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông T đã xây dựng trụ điện hạ thế để sản xuất kinh doanh đối với phần đất phía trên gần giáp mặt đường còn phần đất phía dưới ông chưa sử dụng nhưng ông cho rằng đã nằm trong GCN.QSDĐ đã được cơ quan nhà nước cấp cho ông rồi.
Cuối năm 2018, ông T phát hiện ông Trần Đình B đã múc đất, san lấp mặt bằng liền kề với đất của ông T và đã làm mất ranh giới đất giữa hai gia đình, làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của suối và ông T có yêu cầu ông B cắm mốc ranh giới nhưng ông B không đồng ý sau đó ông T có làm đơn ra UBND xã K đề nghị giải quyết. Qua xác minh, kiểm tra thực địa thì ông T cho rằng ông B đã sử dụng lấn sang phần đất của ông T khoảng 1.000m². Hai bên có tiến hành thương lượng và hòa giải nhưng không thành.
Nay, quyền và lợi ích hợp pháp của ông T đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng, do đó, ông T làm đơn khởi kiện ông Trần Đình B ra Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông yêu cầu ông B trả lại diện tích khoảng 1.000m² đất đã lấn chiếm, trả lại đúng phần diện tích đã được cơ quan Nhà nước cấp GCN.QSDĐ cho ông T. Đất có tứ cận: Phía đông và phía bắc giáp đất gia đình ông T, phía tây giáp đất ông Trần Đình B và phía nam giáp suối. Đồng thời tuyên hủy một phần GCN.QSDĐ tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.570m² và thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.586,7m² do UBND huyện Đ cấp ngày 02/8/2021 cho ông Trần Đình B và vợ là bà Nguyễn Thị N.
* Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Nguồn gốc diện tích hiện nay đang sử dụng và có sự tranh chấp là do ông B nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H vào năm 2015 bằng giấy tờ viết tay, diện tích nhận chuyển nhượng là 3.570m². Đất chuyển nhượng có các cạnh: Phía đông giáp đất thủy lợi (sông, suối); phía tây giáp phần đất còn lại của ông H; phía nam giáp đất bà Q và phía bắc giáp đất ông Đ.
Năm 2017, ông H tiếp tục sang nhượng toàn bộ diện tích đất còn lại cho ông B. Ngày 01/02/2018 bà N được cấp GCN.QSDĐ số BE 393602 tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.570m² và ngày 03/5/2018, ông B, bà N tiếp tục được UBND huyện Đ cấp GCN.QSDĐ tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1586,7m². Khi nhận chuyển nhượng các bên đều có cắm mốc, chỉ ranh. Ranh giới rất rõ ràng có một cạnh giáp đất ông T có khe cạn đã hình thành từ lâu (mương thoát nước từ tỉnh lộ 682 chảy xuống). Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông B sử dụng ổn định từ năm 2015, tiến hành múc ao, mở rộng phần diện tích phía dưới hồ thủy lợi và sử dụng ổn định còn phần đất của ông T thì ông T không sử dụng và bỏ hoang.
Ông B khẳng định không có múc hồ, mở rộng diện tích lấn sang phần đất của ông T đã được cấp GCN.QSDĐ vì ông được biết diện tích phía dưới hồ không được cấp cho ai mà các hộ dân chỉ tận dụng để canh tác, nuôi trông thủy sản.
Do việc ông B sử dụng đất không xâm phạm đến đất đã được cấp GCN.QSDĐ cho ông T nên ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông T.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị N trình bày: Thống nhất theo nội dung trình bày của ông Trần Đình B.
- Đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ trình bày:
Ông Trần Đình B, bà Nguyễn Thị N có đơn xin đăng ký QSDĐ gửi UBND huyện Đ vào ngày 03/2/2018 đề nghị cấp GCN.QSDĐ đối với thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, thôn C, xã K với diện tích 1.586,7m² đất trồng cây lâu năm, nguồn gốc thửa đất ghi trong đơn là nhận chuyển nhượng năm 2007.
UBND xã K thông báo niêm yết công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận của ông B và bà N, trong thời gian công khai không nhận được bất kỳ thư khiếu nại về đất. Ngày 04/4/2018, UBND xã K Tờ trình số 25/TTr-UBND đề nghị UBND huyện Đ cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản trên đất khác gắn liền với đất cho ông B, bà N.
Ngày 20/4/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ xác nhận đơn xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ của ông B và bà N tại thửa số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1586,7m² là đủ điều kiện cấp GCN.QSDĐ.
Ngày 20/4/2018 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ ban hành phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 1383/PCTTĐC cho Chi cục Thuế huyện Đ để xác định nghĩa vụ tài chính và đã được người đăng ký cấp giấy chứng nhận thực hiện nghĩa vụ tài chính vào ngày 24/4/2018.
Theo đề nghị của Phòng Tài Nguyên và Môi trường huyện Đ tại Tờ trình số 458/TTr-TNMT ngày 27/4/2018, UBND huyện Đ đã ban hành Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 03/5/2018 về việc cấp GCN.QSDĐ, quyền sở hữu nhà và tài sản trên đất khác gắn liền với đất cho ông B và bà N tại thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, thôn C, xã K theo CN 384041, diện tích 1.586,7 m² đất trồng cây lâu năm.
Đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.570 m² đã được UBND huyện Đ cấp GCN.QSDĐ số BE 393602 cấp ngày 02/8/2011 cho ông Nguyễn Văn H. Năm 2017, ông H chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất này cho ông B và bà N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/12/2017 đã được UBND xã K chứng thực.
Ngày 20/01/2018, ông Nguyễn Văn H có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản khác gắn liền đối với GCN.QSDĐ số BE 393602.
Căn cứ theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được UBND xã K chứng thực, Ngày 19/01/2018 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ kiểm tra và ban hành phiếu chuyển thông tin xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai số 213/PCTTĐC cho Chi cục Thuế huyện Đ để xác định nghĩa vụ tài chính và đã được người đăng ký cấp giấy chứng nhận thực hiện nghĩa vụ tài chính vào ngày 31/01/2018.
Ngày 01/02/2018, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đã xác nhận chuyển nhượng cho ông B và bà N vào Mục IV của GCN.QSDĐ, quyền sử dụng nhà và tài sản gắn liền với đất số BE 393602.
Liên quan đến việc GCN.QSDĐ số BE 393602, ngày 02/8/2011 và số CN 384041, ngày 03/5/2018 mang tên ông B và bà N. UBND huyện Đ có ý kiến như sau:
UBND huyện Đ đã thực hiện việc cấp GCN.QSDĐ đối với thửa đất số đất số 191, tờ bản đồ số 20 và thửa đất số 288 tờ bản đồ số 41 xã K cho ông B và bà N đúng theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và các Văn bản hướng dẫn thi hành như: UBND xã K đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai danh sách hộ dân đủ điều kiện cấp GCN.QSDĐ theo quy định, việc chuyển nhượng đã thực hiện bằng hợp đồng đã được cơ quan có thẩm quyền chứng thực...
Từ các ý kiến nêu trên, UBND huyện Đ nhận thấy việc thực hiện thủ tục cấp GCN.QSDĐ số BE 393602, ngày 02/8/2011, tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20 và GCN.QSDĐ số CN 384041, ngày 03/5/2018 tại thửa đất số 288 tờ bản đồ số 41 mang tên ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Việc thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất số BE 393602 giữa bà ông Nguyễn Văn H với ông Trần Đình B, bà Nguyễn Thị N là đảm bảo theo quy định pháp luật.
- Đại diện theo ủy quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ trình bày:
Theo quy định tại Điều 79 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định trình tự, thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của vợ hoặc chồng thành của chung vợ và chồng thì Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị M chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N và ông Trần Đình B tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3570 m²; địa chỉ thửa đất xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông được Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý trang 4 GCN.QSDĐ số BE 393602 do UBND huyện Đ cấp ngày 02/8/2011 như sau:
Chi nhánh Văn phòng Đ1 R'lấp nhận được hồ sơ từ Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả UBND huyện chuyển đến và thực hiện quy trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định.
Ngày 19/01/2018, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ lập phiếu chuyển thông tin để xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai gửi đến Chi cục Thuế huyện Đ (nay là Chi cục Thuế khu vực Đ - T). Sau khi Chi cục T ban hành thông báo về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất. Người sử dụng đất đã thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ kiểm tra hồ sơ và trình Lãnh đạo ký chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị N và ông Trần Đình B tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3570 m²; địa chỉ thửa đất xã K, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông chỉnh lý tại trang 4 Giấy chứng nhận.
Như vậy, trình tự thủ tục chuyển nhượng cho bà N và Biết được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/11/2021, Công ty TNHH Đ2 chi nhánh tại Đắk Nông đã cung cấp kết quả đo đạc theo yêu cầu đo đạc của nguyên đơn, tuy nhiên các đương sự đều không đồng ý với kết quả đo đạc này và đề nghị Tòa án tiến hành xem xét thẩm định và đo đạc, lồng ghép lại diện tích đất tranh chấp.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, tuy nhiên vụ án không hòa giải được do nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do đó, Tòa án tiền hành mở phiên tòa để xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 31/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 164, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 50, Điều 52, Điều 107 của Luật đất đai năm 2003; Điều 101, Điều 105, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lương T đối với ông Trần Đình B. Buộc ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N phải trả lại cho ông Trần Lương T 160m² đất, toạ lạc tại thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Tứ cận cụ thể:
- - Phía Tây giáp đất ông B đang sử dụng là 14m;
- - Phía Đông giáp thửa đất của ông T được cấp giấy chứng nhận là 0m;
- - Phía Bắc giáp đất của B hiện đang sử dụng dài 25m;
- - Phía Nam giáp đất ông T được cấp giấy chứng nhận là 31m.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lương T về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 393602, ngày 02/8/2011, tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 384041, ngày 03/5/2018 tại thửa đất số 288 tờ bản đồ số 41 mang tên ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, nguyên đơn là ông Trần Lương T kháng cáo bản án sơ thẩm; đề nghị Tòa phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phía bị đơn bảo lưu quan điểm đã trình bày ở cấp sơ thẩm, đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa, phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có vi phạm.
Về nội dung: Khi giải quyết Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện chứng cứ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông ông T; giữ nguyên án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan, toàn diện và đầy đủ chứng cứ Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Về tố tụng:
- + Đơn kháng cáo của ông Trần Lương T làm trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- + Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt nên căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
- + Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 26, 34, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
[1] Nguyên đơn ông Trần Lương T khởi kiện yêu cầu ông Trần Đình B trả lại diện tích khoảng 1.000 m² theo đúng GCN.QSDĐ đã cấp cho nguyên đơn mà ông B đã lấn chiếm và yêu cầu hủy GCN.QSDĐ đã cấp cho ông B đối với thửa 191 tờ bản đồ 20 có diện tích 3.570m² và thửa 288 tờ bản đồ 41 có diện tích 1.586,7m². Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu buộc ông B trả lại phần diện tích 2.231m².
Xét, về nguồn gốc đất của ông Trần Đình B và ông Trần Lương T đều thể hiện là do nhận chuyển nhượng lại của người khác. Ông T thì nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Minh Đ và bà Dương Lê T1 thửa đất trồng cây lâu năm có diện tích 7.684m² và năm 2017 được cấp GCN.QSDĐ (xác nhận tại trang tư theo hợp đồng chuyển nhượng), việc chuyển nhượng đã hoàn tất, sau khi nhận chuyển nhượng thì ông T thừa nhận không canh tác phần đất phía dưới giáp hồ thủy lợi mà chỉ sử dụng phần diện tích phía trên, đã đặt trụ điện hạ thế để sản xuất.
Còn ông B, bà N thì nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn H vào năm 2015 và năm 2017, diện tích nhận chuyển nhượng là 5.156,7m², năm 2018 việc chuyển nhượng đã hoàn tất và ông B, bà N đã được cấp GCN.QSDĐ. Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông bà canh tác, trồng cây, múc ao, hồ, xây dựng nhà ở, chuồng trại và sinh sống ổn định từ đó đến nay.
Như vậy, về nguồn gốc sử dụng đất thì nguyên đơn và bị đơn đều do nhận chuyển nhượng và đã được cấp GCN.QSDĐ theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình sử dụng đất nguyên đơn và bị đơn phát sinh tranh chấp đối với phần diện tích khoảng hơn 1.000m² phía dưới giáp với diện tích đất hồ thủy lợi. Nguyên đơn thì cho rằng diện đất tranh chấp này là nằm trong GCN.QSDĐ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp cho nguyên đơn còn bị đơn thì cho rằng diện tích đất nằm ngoài GCN.QSDĐ đã được cấp cho bị đơn không cấp cho ai và nằm ngoài GCN.QSDĐ các bên và bị đơn tận dụng để sử dụng múc ao, hồ.
[2] Theo kết quả đo đạc thực địa, lồng ghép bản đồ giải thửa, GCN.QSDĐ thể hiện: Quá trình thực hiện việc đo đạc thì Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ đã xác định thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.586,7m² do UBND huyện Đ cấp ngày 02/8/2021 cho ông Trần Đình B và vợ là bà Nguyễn Thị N là cấp có tọa độ, vị trí. Do đó, việc đo đạc được lấy tọa đồ từ GCN.QSDĐ ra thực địa để làm căn cứ cũng như xác định được các điểm cứng, mốc cứng nên khi thực hiện lồng ghép giữa hiện trạng so với thực tế là chính xác và đúng quy định của pháp luật. Theo đó, kết quả lồng ghép xác định: Phần diện tích đất ông B chỉ ranh và sử dụng nằm ngoài GCN.QSDĐ cấp cho ông có diện tích 3.560,2m²; Phần diện tích ranh số hóa là 1.586,7m²; Phần diện tích đất ông T và ông B chỉ ranh và có sự tranh chấp có diện tích 2.231m². Trong đó phần diện tích đất tranh chấp nằm chồng lên thửa đất số 379 tờ bản đồ số 20 của ông Trần Lương T khoảng 160m².
Qua lồng ghép thì phần diện tích đất đã cấp GCN.QSDĐ cho ông Trần Đình B không nằm chồng lên phần diện tích đất ông T được cấp GCN.QSDĐ như phía Tri trình bày.
Đồng thời, theo kết quả xác minh tại Biên bản xác minh ngày 24/3/2023 thì đối với phần diện tích nằm ngoài GCN.QSDĐ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp cho các bên thì có một phần quy hoạch đất trồng cây lâu năm và phần phía dưới quy hoạch đất sông suối không được cấp GCN.QSDĐ cho ai. Các hộ dân tận dụng để sử dụng múc ao hồ, lấy nước tưới tiêu. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì chỉ sử dụng phần đất phía trên gần giáp với mặt đường chứ không sử dụng diện tích phía dưới. Bị đơn cũng thừa nhận phần diện tích phía dưới bị đơn chỉ tận dụng, sử dụng múc ao hồ để nuôi cá, lấy nước tưới chứ chưa được cấp GCN.QSDĐ.
Nên có cơ sở xác định việc sử dụng đất thực tế của ông Trần Đình B đã lấn sang phần đất đã được cấp GCN.QSDĐ cho ông T tại thửa đất số 379, tờ bản đồ số 20 với diện tích là 160m². Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lương T về yêu cầu buộc ông B trả lại đúng phần diện tích đã được cơ quan Nhà nước cấp GCN.QSDĐ cho ông T là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu buộc ông B trả lại phần đất có diện tích 2.231m² (trừ phần diện tích 160m² được xác định đã sử dụng chồng lên diện tích nguyên đơn được cấp CGN.QSDĐ): Xét, khi ông T khiếu nại tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân xã K thì nguyên đơn yêu cầu trả khoảng 500m², trong đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu trả lại khoảng 1000m², quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn lại yêu cầu trả 2.231m². Cho thấy, nguyên đơn khởi kiện nhưng không chứng minh được diện tích bị đơn đã lấn chiếm cụ thể, chính xác là bao nhiêu, cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào kết quả lồng ghép, biên bản xác minh nêu trên cùng quá trình sử dụng đất của các bên để giải quyết và bác yêu cầu của nguyên đơn đối với phần đất còn lại (ngoài diện tích 160m²) là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Đối với yêu cầu tuyên hủy một phần GCN.QSDĐ tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3570m² và thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1586,7m².
Xét, về trình tự thủ tục cấp GCN.QSDĐ cho ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N là đúng quy định của pháp luật, nguồn gốc xét cấp giấy thể hiện là nhận chuyển nhượng, phù hợp với lời khai của ông B; quá trình công khai hồ sơ cấp GCN.QSDĐ thì ông T cũng không có ý kiến phản đối gì. Mặt khác, các bên chỉ tranh chấp về ranh giới, không mâu thuẫn về nguồn gốc sử dụng đất. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn khẳng định chỉ yêu cầu bị đơn trả lại đúng phần diện tích đất bị đơn đã sử dụng nằm trong GCN.QSDĐ đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GCN.QSDĐ cho nguyên đơn.
Mặt khác, theo kết quả đo đạc, lồng ghép và như đã nhận định tại mục [2] nêu trên thì thấy hai thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3.570m² và thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.586,7m² đã được cơ quan có thẩm quyền cấp GCN.QSDĐ cho ông B không nằm chồng lấn lên phần đất đã được cấp GCN.QSDĐ cho ông T tại thửa đất số 379, tờ bản đồ số 20. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn về hủy một phần GCN.QSDĐ tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20, diện tích 3570m² và thửa đất số 288, tờ bản đồ số 41, diện tích 1.586,7m² đã cấp cho ông B, bà N là đúng quy định của pháp luật.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Lương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Trần Lương T phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về chi phí tố tụng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 1Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 164, Điều 227, Điều 228, Điều 232, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính; Điều 50, Điều 52, Điều 107 của Luật đất đai năm 2003; Điều 101, Điều 105, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Lương T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2023/DS-ST ngày 31/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Nông.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lương T đối với ông Trần Đình B. Buộc ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N phải trả lại cho ông Trần Lương T 160m² đất, toạ lạc tại thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông. Tứ cận cụ thể:
- - Phía Tây giáp đất ông B đang sử dụng là 14m;
- - Phía Đông giáp thửa đất của ông T được cấp giấy chứng nhận là 0m;
- - Phía Bắc giáp đất của B hiện đang sử dụng dài 25m;
- - Phía Nam giáp đất ông T được cấp giấy chứng nhận là 31m.
(Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Lương T về việc yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 393602, ngày 02/8/2011, tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 20 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 384041, ngày 03/5/2018 tại thửa đất số 288 tờ bản đồ số 41 mang tên ông Trần Đình B và bà Nguyễn Thị N.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Lương T phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 000030 ngày 8/5/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đăk Nông.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết Trinh |
Bản án số 666/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp qsdđ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận qsdđ
- Số bản án: 666/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSDĐ và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
