|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 666/2024/DS-PT
Ngày: 26 - 7 - 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Hồng Giảng |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Đình Đức |
| Bà Nguyễn Thị Minh Phượng. |
Thư ký phiên tòa: Bà Trương Nguyễn Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Ái – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 401/DSPT ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2767/QĐXXPT-DS ngày 23/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1994;
- Ông Lê Lâm T, sinh năm 1990.
Cùng địa chỉ: Số B T P. Trước P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền:
- Ông Nguyễn Trí T1, sinh năm 1984;
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1995.
Cùng địa chỉ: Số I Đường số G, KDC K, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền ngày 31/7/2023)
Bị đơn:
- Ông Trần Anh T2, sinh năm 1981;
Địa chỉ thường trú: Số A Lầu A, Lô B, Cao ốc D Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bà Trần Huệ N, sinh năm 1990.
Địa chỉ thường trú: Số D T, Phường G, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH H1
Địa chỉ trụ sở: L18-11-13, Tầng A, Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T2, sinh năm 1981.
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Số A Lầu A, Lô B, Cao ốc D Đ, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: số A N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/7/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/10/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trí T1 trình bày:
Ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P (là nguyên đơn) có cho ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N (là bị đơn) vay tiền theo Hợp đồng vay tiền số công chứng 001861, quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/4/2023 lập tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh. Hợp đồng vay tiền có nội dung chính như sau:
Ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P cho ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N vay số tiền là 15.000.000.000 (Mười lăm tỷ) đồng; Thời hạn vay là 03 tháng tính từ ngày 24/4/2023 đến hết ngày 24/7/2023. Lãi suất vay: 20%/năm. Phương thức trả lãi: trả lãi vào ngày 05 dương lịch hàng tháng.
Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã giao cho bị đơn đủ số tiền 15.000.000.000 (Mười lăm tỷ) đồng.
Để đảm bảo khoản vay nêu trên, nguyên đơn và bị đơn ký kết Hợp đồng thế chấp số công chứng 7545 quyển số 05/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2023 được công chứng bởi Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó: bị đơn thế chấp cho nguyên đơn tài sản thế chấp là phần vốn góp tại Công ty TNHH H1 của ông Trần Anh T2 (50% tổng số vốn) và bà Trần Huệ N (50% tổng số vốn) theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số Doanh nghiệp: 0316026773 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp lần đầu ngày 19/11/2019; thay đổi lần 2 ngày 14/7/2020. Chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, Thông báo xử lý tài sản bảo đảm mã số hồ sơ 000.03.18.G15-2305267-0226 ngày 26/5/2023.
Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ lãi kỳ đầu tiên (ngày 05/5/2023) thì ông Trần Anh T2 bà Trần Huệ N đã không thực hiện thanh toán tiền lãi vay vào ngày 05 hàng tháng theo như thỏa thuận tại Điều 3 Hợp đồng vay tiền. Nên đến ngày 13/5/2023, nguyên đơn và bị đơn tiến hành lập biên bản làm việc thỏa thuận như sau:
Đợt 1: Chậm nhất là ngày 24/5/2023, ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P một phần tiền lãi phát sinh từ khoản vay trên là 250.000.000 đồng.
Đợt 2: Chậm nhất là ngày 24/6/2023, ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P một phần tiền lãi phát sinh từ khoản vay trên là 250.000.000 đồng.
Đợt 3: Chậm nhất là ngày 24/7/2023, ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N phải có trách nhiệm thanh toán cho ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P một phần tiền lãi phát sinh từ khoản vay trên là 250.000.000 đồng.
Đến hạn chót là ngày 24/7/2023, ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N cam kết thanh toán toàn bộ tiền gốc và lãi phát sinh cho ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P.
Trong 03 đợt thanh toán nêu trên, nếu ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N vi phạm về thời hạn thanh toán hoặc số tiền thanh toán không đúng thỏa thuận thì nguyên đơn có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán một lần toàn bộ số nợ là 15.000.000.000 đồng và nợ lãi phát sinh.
Bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả lãi và nợ gốc. Cụ thể như sau:
- Từ ngày 24/4/2023 đến ngày 24/5/2023 (tháng trả lãi đầu tiên – đợt 1), ông Anh T2 và bà Huệ N không thanh toán lãi trong hạn nên tiền nợ lãi trong hạn là 250.000.000 đồng. Nợ lãi chậm thanh toán đối với tiền nợ lãi 250.000.000 đồng từ ngày 25/5/2023 tạm tính đến ngày 30/01/2024 (246 ngày) theo mức lãi suất 10%/năm, tương đương 0,0274%/ngày là: 250.0000.000 x 0,0274% x 246 = 16.851.000 đồng.
- Từ ngày 25/5/2023 đến ngày 24/6/2023 (tháng thứ 2 – đợt 2), ông Anh T2 và bà Huệ N thanh toán tiền lãi với tổng số tiền là 440.000.000 đồng, các đợt thanh toán cụ thể là:
- Ngày 26/5/2023, thanh toán tiền lãi 100.000.000 đồng;
- Ngày 07/6/2023, thanh toán tiền lãi 100.000.000 đồng;
- Ngày 13/6/2023, thanh toán tiền lãi 100.000.000 đồng;
- Ngày 19/6/2023, thanh toán tiền lãi 90.000.000 đồng;
- Ngày 22/6/2023, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng.
Như vậy, ở kỳ thanh toán lãi này ông Anh T2 và bà Huệ N thanh toán vượt quá số lãi phải trả cho ông T, bà P là 440.000.000 đồng – 250.000.000 đồng = 190.000.000 đồng.
Khoản tiền vượt quá 190.000.000 đồng này nguyên đơn cấn trừ vào số tiền nợ gốc, cụ thể là: 15.000.000.000 – 190.000.000 = 14.810.000.000 đồng. Như vậy nợ gốc từ ngày 25/6/2023 bị đơn còn nợ nguyên đơn là 14.810.000.000 đồng.
- Từ ngày 25/6/2023 đến ngày 24/7/2023 (tháng thứ 3 – đợt 3): ngày 21/7/2023 ông Anh T2 và bà Huệ N thanh toán lãi số tiền là 150.000.000 đồng.
Vì từ ngày 25/6/2023, tiền nợ gốc chỉ còn là 14.810.000.000 đồng nên căn cứ vào thỏa thuận tại Hợp đồng cũng như biên bản làm việc thì hàng tháng bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền lãi trong hạn là 243.476.400 đồng. Tiền lãi trong hạn này nguyên đơn tính theo công thức: lãi suất thỏa thuận 20%/năm (tương đương 0,0548%/ngày) trên nợ gốc 14.810.000.000 đồng = 14.810.000.000 x 0,0548% x 30.
Nên ở đợt thanh toán lãi thứ 3 (đợt 3) bị đơn thanh toán số tiền nợ lãi còn thiếu là: 243.476.400 đồng - 150.000.000 đồng = 93.476.400 đồng.
Nợ lãi chậm thanh toán đối với lãi trong hạn 93.476.400 đồng tính từ ngày 25/7/2023 đến ngày 30/01/2024 (186 ngày) theo mức lãi suất 10%/năm, tương đương 0,0274%/ngày là: 93.476.400 x 0,0274% x 186 ngày = 4.763.931 đồng.
Việc bị đơn thực hiện không đúng thỏa thuận ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 7 buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc và tiền lãi phát sinh.
Sau khi hết thời hạn để hoàn trả nợ gốc và lãi trong hạn nêu trên thì bị đơn có trả cho nguyên đơn với tổng số tiền thanh toán là 880.000.000 đồng.
- Ngày 01/8/2023, thanh toán tiền lãi 100.000.000 đồng;
- Ngày 12/8/2023, thanh toán tiền lãi 40.000.000 đồng;
- Ngày 14/8/2023, thanh toán tiền lãi 40.000.000 đồng;
- Ngày 16/10/2023, thanh toán tiền lãi 150.000.000 đồng;
- Ngày 20/10/2023, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng;
- Ngày 09/11/2023, thanh toán tiền lãi 25.000.000 đồng;
- Ngày 10/11/2023, thanh toán tiền lãi 75.000.000 đồng;
- Ngày 22/11/2023, thanh toán tiền lãi 70.000.000 đồng;
- Ngày 24/11/2023, thanh toán tiền lãi 30.000.000 đồng;
- Ngày 08/12/2023, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng;
- Ngày 15/12/2023, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng;
- Ngày 26/12/2023, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng;
- Ngày 30/12/2023, thanh toán tiền lãi 25.000.000 đồng;
- Ngày 31/12/2023, thanh toán tiền lãi 25.000.000 đồng;
- Ngày 19/01/2024, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng;
- Ngày 29/01/2024, thanh toán tiền lãi 50.000.000 đồng.
Tiền lãi quá hạn tính từ ngày 25/7/2023 đến ngày 30/01/2024 (186 ngày) theo mức lãi suất 30%/năm tương đương 0,0825%/ngày trên số nợ gốc 14.810.000.000 đồng là: 14.810.000.000 x 0,0825% x 186 = 2.272.594.500 đồng.
Đối với số tiền nợ lãi quá hạn bị đơn đã thanh toán là 880.000.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện cấn trừ vào tiền nợ lãi trong hạn đợt 1 và đợt 3 bị đơn còn nợ là 343.476.400 đồng và nợ chậm trả lãi trong hạn nêu trên là 21.614.931 đồng. Do đó, tiền lãi quá hạn bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn từ ngày 01/8/2023 đến ngày 29/01/2024 được xác định là 880.000.000 đồng - 343.476.400 đồng - 21.614.931 đồng = 514.908.669 đồng. Tiền nợ lãi quá hạn bị đơn còn phải thanh toán thêm cho nguyên đơn là 2.272.594.500 đồng - 514.908.669 đồng = 1.757.685.831 đồng.
Việc bị đơn tự ý kéo dài thời gian thanh toán và thực hiện thanh toán không đúng thỏa thuận của các bên làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Nên nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh từ ngày 25/7/2023 tính đến ngày 30/01/2024 là 16.567.685.831 đồng, bao gồm: Tiền nợ gốc là 14.810.000.000 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 1.757.685.831 đồng.
Ngoài ra, kể từ ngày 31/01/2024, bị đơn còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn là 30%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Trường hợp, ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N không thực hiện nghĩa vụ thanh toán như nêu trên thì nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm là tài sản thế chấp đối với 50% phần vốn góp của ông T2 và 50% phần vốn góp của bà N trong Công ty TNHH H1 theo Hợp đồng thế chấp được công chứng bởi Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh số công chứng 7545 quyển số 05/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2023.
Về phía bị đơn ông Trần Anh T2, bà Trần Huệ N cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH H1 do ông Trần Anh T2 là người đại diện theo pháp luật: trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 7 đã nhiều lần triệu tập đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông T2, bà N chỉ đến Tòa án một lần duy nhất vào ngày 12/10/2023 để sao chụp tài liệu, cung cấp thông tin địa chỉ liên hệ và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mà hẹn đến ngày 24/10/2023 sẽ cung cấp bản tự khai. Nhưng sau đó, ông T2, bà N vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi, không tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Tại phiên tòa xét xử ngày 09/01/2024, bà N có mặt, ông T2, Công ty TNHH H1 vắng mặt không rõ lý do và tại phiên tòa xét xử lần 2 ngày 30/01/2024 ông T2, bà N và Công ty TNHH H1 vắng mặt không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm g Khoản 1 Điều 40; Khoản 4 Điều 91; Điều 147; Khoản 1 Điều 207; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 299, Điều 320, Điều 323, Điều 357, Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P.
- Buộc bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N có nghĩa vụ trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P, tổng số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng vay tiền có công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh số 001861 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tạm tính đến ngày 30/01/2024 là 16.567.685.831 (Mười sáu tỷ năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn tám trăm ba mươi mốt) đồng, bao gồm:
- Số tiền nợ gốc là 14.810.000.000 (Mười bốn tỷ tám trăm mười triệu) đồng;
- Số tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 25/7/2023 tạm tính đến ngày 30/01/2024 là 1.757.685.831 (Một tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn tám trăm ba mươi mốt) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục chịu nợ lãi quá hạn theo mức lãi suất 30%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
- Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu của bị đơn là phần vốn góp tại Công ty TNHH H1 của ông Trần Anh T2 (50% tổng số vốn) và bà Trần Huệ N (50% tổng số vốn) theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số Doanh nghiệp: 0316026773 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp lần đầu ngày 19/11/2019; thay đổi lần 2 ngày 14/7/2020 theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 7545 quyển số 05/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2023 được công chứng bởi Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 124.567.686 (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu) đồng.
Nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Lê Lâm T, bà Lê Thị Bích P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.700.000 (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037153 ngày 15/8/2023 và số tiền 22.027.500 (Hai mươi hai triệu không trăm hai mươi bảy ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037570 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về thời hạn kháng cáo và thủ tục thi hành án.
Ngày 05/03/2024, bà Trần Huệ N là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do kháng cáo: Tòa sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa xem xét toàn diện vụ án, chưa thu nhập đầy đủ, đánh giá hết các chứng cứ vụ án và vi phạm nghiêm trọng tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Giao dịch theo Hợp đồng vay tiền là khoản vay riêng của ông Trần Anh T2 với nguyên đơn, việc thanh toán hàng tháng cho nguyên đơn do ông Trần Anh T2 chịu trách nhiệm thanh toán; bản chất việc bà N và ông Trần Anh T2 ký Hợp đồng vay là theo yêu cầu của nguyên đơn, việc ký Hợp đồng vay là để nguyên đơn làm tin và che giấu mức lãi suất 5%/tháng; Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc nguyên đơn được xử lý tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà N là 50% tổng số vốn điều lệ của bà N theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH H1 là không phù hợp, bởi vốn điều lệ của Công ty TNHH H1 đã tăng lên và phần vốn góp của bà N trong Công ty TNHH H1 đã tăng lên gấp đôi so với trước.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm theo quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Huệ N.
Ngày 05/03/2024, ông Trần Anh T2 là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Lý do kháng cáo: Tòa sơ thẩm tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chưa xem xét toàn diện vụ án, chưa thu nhập đầy đủ, đánh giá hết các chứng cứ vụ án và vi phạm nghiêm trọng tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông. Giao dịch theo Hợp đồng vay tiền là khoản vay riêng của ông với nguyên đơn, việc thanh toán hàng tháng cho nguyên đơn do ông Trần Anh T2 chịu trách nhiệm thanh toán; bản chất việc ông Trần Anh T2 ký Hợp đồng vay là theo yêu cầu của nguyên đơn, việc ký Hợp đồng vay là để nguyên đơn làm tin và che dấu mức lãi suất 5%/tháng; Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc nguyên đơn được xử lý tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông T2 là 50% tổng số vốn điều lệ của ông T2 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH H1 là không phù hợp, bởi vốn điều lệ của Công ty TNHH H1 đã tăng lên và phần vốn góp của ông T2 trong Công ty TNHH H1 đã tăng lên gấp đôi so với trước.
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm theo quy định, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Anh T2.
Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị đơn cung cấp các tài liệu cùng bản tự khai trình bày: Số tiền 15 tỷ là cộng dồn vốn và lãi của nhiều lần vay trước năm 2023, thể hiện qua các tin nhắn điện thoại giữa bà P với bị đơn. Bị đơn đã thanh toán nợ tổng cộng 8.373.000.000 đồng (trong đó vốn gốc là 1 tỷ, còn lại là trả lãi). Hợp đồng vay 15 tỷ ngày 24/4/2023 có công chứng là không đúng sự thật, vì: thời điểm sau khi trừ nợ thì số nợ gốc chỉ còn 13 tỷ. Mức lãi suất là 5%/tháng, bà P1 ghi lãi 20%/năm cho đúng quy định mức lãi theo pháp luật. Quy định về thời hạn vay và thời điểm trả lãi cũng không đúng với thực tế. Hợp đồng thế chấp chỉ ký để làm tin chứ không nhằm mục đích là tài liệu khởi kiện ra tòa. Thời điểm thế chấp, phần giá trị thế chấp của bị đơn bằng vốn điều lệ của 2 thành viên (bị đơn) là 10 x 2 = 20 tỷ. Sau này vốn tăng thành 40 tỷ nhưng sơ thẩm buộc phải chịu giá trị thế chấp 40 tỷ là không đúng. Yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút kháng cáo, các đương sự không hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án như sau: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Các đương sự đã được đảm bảo để thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định. Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được đảm bảo. Về nội dung kháng cáo không có cơ sở chấp nhận; Đề nghị Tòa án căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đảm bảo đúng quy định về thời hạn và thủ tục kháng cáo. Thẩm quyền giải quyết vụ án sơ thẩm đã xác định đúng, đã đưa đủ và xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Hợp đồng vay tiền ngày 24/4/2023 và hợp đồng thế chấp bảo đảm cho khoản vay là do bà Trần Huệ N cùng ông Trần Anh T2 tham gia xác lập, ký kết với nguyên đơn, cả hai khi ký hợp đồng đều có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng do hai bên ký kết được thực hiện công chứng (số công chứng 001861 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/4/2023). Ngoài ra, khi đi vào thực hiện hợp đồng, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên vào ngày 13/5/2023, nguyên đơn và bị đơn đã cùng tiến hành lập “biên bản làm việc” với nội dung hai bên thỏa thuận lại về thời hạn thanh toán. Nay bị đơn kháng cáo cho rằng đây là khoản vay nợ riêng của ông Trần Anh T2, việc ký hợp đồng là theo yêu cầu của nguyên đơn. Xét nội dung kháng cáo này là không có cơ sở và không có căn cứ pháp luật để chứng minh.
[3] Mức lãi suất hai bên thỏa thuận được thể hiện tại hợp đồng là 20%/năm, thời hạn vay là 3 tháng. Kháng cáo bị đơn cho rằng “Việc ký hợp đồng vay là theo yêu cầu của nguyên đơn, việc ký hợp đồng vay là để nguyên đơn làm tin và che dấu mức lãi suất 5%/tháng”, nhưng bị đơn không có chứng cứ nào để chứng minh cho nội dung kháng cáo về mức lãi suất này. Bên cạnh đó, theo Biên bản ngày 13/5/2023 do hai bên cùng ký cam kết thời hạn trả lãi và vốn thể hiện nội dung về mức lãi phải trả hàng tháng của thời hạn vay các tháng 5, 6 và 7 mỗi tháng là 250.000.000 đồng lãi trên số vốn vay 15.000.000.000 đồng, điều này chứng minh về mức lãi suất như hợp đồng vay là 20%/năm.
[4] Xét kháng cáo bị đơn đối với tài sản thế chấp, nội dung: “xử lý tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông T2 là 50% (của bà N 50%) tổng số vốn điều lệ theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH H1 là không phù hợp, bởi vốn điều lệ của Công ty TNHH H1 đã tăng lên và phần vốn góp của ông T2 (và của bà N) trong Công ty TNHH H1 đã tăng lên gấp đôi so với trước”.
Xét thấy, theo Hợp đồng thế chấp (số công chứng 7545 quyển số 05/2023 TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 14/5/2023 do hai bên xác lập, thỏa thuận tài sản thế chấp để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vay số tiền 15.000.000.000 đồng. Công ty TNHH H1 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông T2 là 50% (của bà N 50%) tổng số vốn điều lệ. Như vậy, nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng thế chấp mà sơ thẩm giải quyết là phù hợp thỏa thuận của hai bên.
[5] Xét kháng cáo của bị đơn về nội dung “sơ thẩm chưa xem xét toàn diện vụ án, chưa thu nhập đầy đủ, đánh giá hết các chứng cứ vụ án”:
Tại giai đoạn sơ thẩm, bị đơn vắng mặt mặc dù đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, đã biết được toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không cung cấp tài liệu chứng cứ gì để bảo vệ quyền lợi cho mình. Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh, trên cơ sở tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập, do nguyên đơn cung cấp có tại hồ sơ vụ án, sơ thẩm đã căn cứ những tài liệu chứng cứ có được để xem xét giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt, không cung cấp tài liệu chứng cứ là đã tự từ bỏ quyền chứng minh để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, đồng thời cũng đã không thực hiện về nghĩa vụ chứng minh, nay kháng cáo với nội dung như trên là không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xuất trình tài liệu có nội dung về các giao dịch chuyển tiền qua tài khoản giữa bị đơn với nguyên đơn là ông Lê Lâm T và trình bày đây là căn cứ chứng minh số tiền vay theo hợp đồng công chứng ngày 24/4/2023 là tổng cộng của tiền vay, nợ lãi của các khoản vay trước đó. Nguyên đơn trình bày đó là các giao dịch khác chưa thực hiện xong còn khoản vay theo hợp đồng tranh chấp tại vụ án này là riêng, không liên quan.
Xét thấy, tài liệu do bị đơn cung cấp chỉ thể hiện một số lần bị đơn chuyển tiền vào tài khoản của nguyên đơn trước thời điểm ngày 24/4/2023, nhưng không thể hiện là khoản tiền gì, không chứng minh được về số tiền vay, không chứng minh được tổng vốn lãi nợ từ trước kết chuyển thành số tiền vay theo hợp đồng ngày 24/4/2023. Chính bị đơn Trần Anh T2 thừa nhận tại phiên tòa về việc có vay số tiền 15 tỷ và có thế chấp tài sản như hợp đồng. Vì vậy, số tiền bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn nêu trên, khi có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác theo quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự.
[7] Từ những căn cứ nhận định trên cơ sở chứng cứ chứng minh nêu trên, xét thấy kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu hủy bản án sơ thẩm là không có cơ sở pháp luật để chấp nhận, như ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 299, Điều 320, Điều 323, Điều 357, Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 30-01-2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
- Về hình thức: Xử vắng mặt bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH H1.
- Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P.
- Buộc bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N có nghĩa vụ trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật cho nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P, tổng số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng vay tiền có công chứng tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh số 001861 quyển số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD tạm tính đến ngày 30/01/2024 là 16.567.685.831 (Mười sáu tỷ năm trăm sáu mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn tám trăm ba mươi mốt) đồng, bao gồm:
- Số tiền nợ gốc là 14.810.000.000 (Mười bốn tỷ tám trăm mười triệu) đồng;
- Số tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 25/7/2023 tạm tính đến ngày 30/01/2024 là 1.757.685.831 (Một tỷ bảy trăm năm mươi bảy triệu sáu trăm tám mươi lăm ngàn tám trăm ba mươi mốt) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục chịu nợ lãi quá hạn theo mức lãi suất 30%/năm đối với số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
- Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo thuộc quyền sở hữu của bị đơn là phần vốn góp tại Công ty TNHH H1 của ông Trần Anh T2 (50% tổng số vốn) và bà Trần Huệ N (50% tổng số vốn) theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH hai thành viên trở lên, mã số Doanh nghiệp: 0316026773 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố H cấp lần đầu ngày 19/11/2019; thay đổi lần 2 ngày 14/7/2020 theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 7545 quyển số 05/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/5/2023 được công chứng bởi Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 124.567.686 (Một trăm hai mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi bảy ngàn sáu trăm tám mươi sáu) đồng.
Nguyên đơn ông Lê Lâm T và bà Lê Thị Bích P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Lê Lâm T, bà Lê Thị Bích P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 61.700.000 (Sáu mươi mốt triệu bảy trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037153 ngày 15/8/2023 và số tiền 22.027.500 (Hai mươi hai triệu không trăm hai mươi bảy ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037570 ngày 14/11/2023 của Chi cục Thi hành án Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Án phí phúc thẩm: Ông Trần Anh T2 và bà Trần Huệ N mỗi người phải chịu 300.000 đồng, trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng (Biên lai AA/2023/0038146 và AA/2023/0038147 cùng ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Phạm Hồng Giảng |
Bản án số 666/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 666/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Bích P, Lê Lâm T - Trần Anh T2, Trần Huệ N Bản án số 666/2024/DS-PT về việc: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
