|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:665/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/8/2024 Về việc “tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Út
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Quang
- Ông Nguyễn Bảo Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bảo Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 267/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 638/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 262/2024/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Trần Quỳnh G, sinh năm 1990; Địa chỉ: B N, phường F, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1987; Địa chỉ: G L, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, Nguyên đơn bà Lê Trần Quỳnh G trình bày: Bà Lê Trần Quỳnh G và ông Nguyễn Ngọc C tự nguyện tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2013 ngày 16/04/2013. Quá trình chung sống, hai bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, ông C phát sinh quan hệ tình cảm với nhiều người cả nam lẫn nữ, không chăm lo phát triển kinh tế gia đình. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn khả năng hàn gắn. Do đó, bà G yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông C.
Về con chung: Bà G và ông C có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã K, sinh ngày 01/3/2015. Ly hôn, bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà G khai không có.
Bị đơn, ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án triệu tập đến làm việc, hòa giải và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà G.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn, bà Lê Trần Quỳnh G trình bày: Bà G vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C, vì tình cảm dành cho ông C không còn, vợ chồng không có sự thương yêu, chia sẻ dành cho nhau.
Về con chung: Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã K, sinh ngày 01/3/2015, không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn, ông Nguyễn Ngọc C vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Pháp luật về tố tụng: Bà Lê Trần Quỳnh G có đơn khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Ngọc C, ông C có địa chỉ cư trú tại quận T nên vụ án thuộc thẩm giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 80, số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 16/4/2013 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Trần Quỳnh G và ông Nguyễn Ngọc C là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được pháp luật bảo vệ.
Bị đơn, ông Nguyễn Ngọc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Pháp luật về nội dung:
Xét yêu cầu ly hôn và yêu cầu nuôi con chung của bà Lê Trần Quỳnh G, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hạnh phúc gia đình được xây dựng và vun đắp dựa trên tình yêu thương, sự tôn trọng và chia sẻ của cả vợ và chồng. Tuy nhiên, qua trình bày của bà G thể hiện giữa bà G và ông C không có sự thấu hiểu để cùng nhau chăm lo gia đình và các con. Bà G xác định tình cảm dành cho ông C không còn, hai bên thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Ông C phát sinh quan hệ tình cảm với nhiều người cả nam lẫn nữ. Ông C không cùng bà giao chăm lo kinh tế gia đình, thường hay vay tiền của người khác dẫn đến các chủ nợ thường xuyên đến đòi tiền ông C làm ảnh hưởng tinh thần của bà G và con. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông C đến làm việc nhưng ông C vẫn vắng mặt không rõ lý do và không trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà G. Như vậy, chứng tỏ ông C cũng không quan tâm đến hạnh phúc gia đình, không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm, đoàn tụ gia đình. Do đó, mâu thuẫn giữa bà G và ông C đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên Hội đồng xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà G là phù hợp quy định pháp luật.
Về con chung: Bà G yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng ông C không trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của bà G. Do đó, để đảm bảo sự ổn định, phát triển, chăm sóc, giáo dục con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà G và cũng phù hợp nguyện vọng của trẻ Nhã K về việc muốn được sinh sống cùng mẹ. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông C do bà G không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà G phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186, khoản 2 Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Trần Quỳnh G:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Trần Quỳnh G được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C.
- - Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Ngọc Nhã K, sinh ngày 01/3/2015 cho bà Lê Trần Quỳnh G trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông C do bà G không yêu cầu.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Bà G khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí:
- Về Giao kháng cáo: Bà Lê Trần Quỳnh G được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Ông Nguyễn Ngọc C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có Giao yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định pháp luật Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Án phí hôn nhân sơ thẩm bà Lê Trần Quỳnh G phải chịu án phí là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí do bà G đã nộp là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001565 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hồng Út |
Bản án số 665/2024/HNGĐ-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 665/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Trần Quỳnh G được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc C
