Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP

CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 665/2024/HS-PT

Ngày 19 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Hồ Sỹ Hưng và ông Nguyễn Tất Nam.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Đức Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 692/2024/TLPT-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Vũ Đình H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2024/HS-ST ngày 14 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Đình H, sinh ngày 06/6/1985 tại Thái Bình; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố A, thị trấn M, huyện M, tỉnh Điện Biên; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ dân phố A, phường H, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nguyên Kiểm sát viên VKSND tỉnh Điện Biên; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình L và bà Trần Thị T; có vợ Nguyễn Thị H1 và 02 con: Con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/6/2023 về tội “Nhận hối lộ” theo Quyết định tạm giữ số: 10/VKSTC-C1(P6) ngày 06/6/2023 của Cơ quan Điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. (có mặt)

Trong vụ án còn có 01 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 26/5/2023, trong lúc đợi chị Nguyễn Thị M tại khu vực vỉa hè Cổng Ký túc xá, Trường Cao đẳng Y tế tỉnh Đ, Vũ Đình H lấy được số điện thoại 0917.336.xxx của bà Trần Thị Hải H2 (vợ của ông Nguyễn Tuấn A, nguyên Phó Chủ tịch UBND thành phố Đ đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ) từ 02 người thanh niên không rõ tên, địa chỉ, rồi dùng điện thoại của H lắp sim số 0919898199 bấm gọi vào số 0917336111 để lưu số điện thoại. Khoảng 05 phút sau thì chị M đến nói chuyện với H về việc nhờ bán đất, H mượn điện thoại của chị M lắp sim số 0788061079 gọi 02 cuộc vào số máy 0917336111 của bà H2 nhưng không liên lạc được. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H đi qua nhà ông Nguyễn Tuấn A, bà Trần Thị Hải H2 ở tổ dân phố A, phường M, thành phố Đ gặp cháu Nguyễn Quang T1, H hỏi thì biết được cháu T1 là con trai của vợ chồng ông Tuấn A, bà H2. H tiếp tục hỏi thì được cháu T1 xác nhận số điện thoại 0917.336.xxx đúng là của bà H2, sau đó H hỏi về việc cháu T1 có được đi thăm bố không rồi H đi về.

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 27/5/2023, Vũ Đình H mượn máy điện thoại của chị Bùi Thị V bán quán nước tại khu vực đường đôi, giáp trung tâm tin học ngoại ngữ tỉnh Đ (cũ) thuộc tổ dân phố A, phường M, thành phố Đ lắp sim số 0961.077.723 gọi cho bà H2 hỏi: Có phải chị là chị H2 không và nói là chồng chị H2 (Nguyễn Tuấn A) nhắn ra, chị H2 hỏi chồng chị H2 nhắn gì, thì H không nói và hỏi bà H2 đang ở đâu, bà H2 nói đang ở phòng bán vé của Sân bay, H hẹn bà H2 ra khu vực C, đối diện sân bay để nói chuyện, bà H2 đồng ý. Sau đó, bà H2 đi xe máy nhãn hiệu Vespa màu trắng đi ra khu vực C cạnh Phòng xuất nhập cảnh thuộc tổ dân phố G, phường T, thành phố Đ thì gặp H đi xe máy nhãn hiệu Air Blade màu đỏ, đen, trắng, biển kiểm soát 27B1-128.28 đến gần, H ra hiệu cho bà H2 đi vào đường rẽ giữa cây xăng và Phòng xuất nhập cảnh Công an tỉnh Đ, bà H2 làm theo chỉ dẫn và dừng lại ở gốc cây cạnh tường của Phòng xuất nhập cảnh Công an tỉnh Đ. Tại đây, H nói gặp chồng bà H2 trong trại giam sức khỏe của chồng bà H2 rất yếu, bị gan nặng, sức khỏe không tốt, bị đối xử rất tệ, chồng bà H2 nói với H chỉ có H mới giúp được. H yêu cầu bà H2 phải giữ bí mật nên dùng nhiều số điện thoại khác nhau, vụ án của chồng bà H2 phải ra phúc thẩm thì mới giải quyết được vấn đề, vụ án sắp được đưa ra xét xử nên cần tiền nhanh chóng chữa bệnh cho chồng chị để có sức khỏe tốt và H bảo bà H2 chuẩn bị một khoản tiền để ông Tuấn A chữa bệnh và cảm ơn những người đã giúp đỡ. Bà H2 có hỏi bị cáo là ông Tuấn A nhắn ra cần bao nhiêu tiền thì H nói cần 100 triệu đồng, bà H2 nói không lo ngay được, thì H nói không phải lúc nào cũng đưa được tiền vào cho chồng bà H2, bà H2 bảo để chiều nay được không thì H giục đưa trong sáng nay và hẹn bà H2 khoảng 01 tiếng sau quay lại chỗ này. Tin tưởng lời H nói là thật, bà H2 đi về gặp bạn là bà Đào Cẩm T2 vay được 100 triệu đồng rồi quay lại chỗ đường rẽ giữa C và Phòng xuất nhập cảnh. Khi bà H2 rẽ vào chỗ gặp thì H đã đi xe máy đằng sau, bà H2 dừng xe máy sát lề đường lấy 100 triệu đồng bọc bằng giấy A4 đưa cho H và hỏi thêm H cụ thể về sức khỏe của chồng, H nói tình hình sức khỏe là như thế và bảo bà H2 cố gắng, khả năng sẽ lâu dài, bà H2 hỏi thêm chồng có nhắn ra gì nữa không, H nói chuyện con cái sắp thi tốt nghiệp không tạo áp lực cho bọn trẻ, H hỏi thêm và nói chuyện với bà H2 về gia đình chị N (là chị ruột của ông Tuấn A), sau đó H dặn chị H2 việc này phải tuyệt đối giữ bí mật, ngay cả anh chị Trường Nhuần cũng không được biết và hẹn bà H2 khoảng 18 giờ ngày 28/5/2023 ra chỗ cổng Trung tâm tin học ngoại ngữ (cũ) để nhận thư của chồng viết ra, bà H2 nếu có nhắn gì cho chồng thì viết luôn để H mang vào, sau đó bà H2H đi về.

Khoảng 18 giờ ngày 28/5/2023, bà H2 đi ra khu vực cổng trung tâm tin học ngoại ngữ tỉnh Đ để gặp H lấy thư do chồng gửi ra và chuyển thư vào cho chồng như đã hẹn. Đợi khoảng 10 phút không thấy H, bà H2 gọi điện thoại vào số 0961.077.xxx là số đã gọi cho bà H2 ngày 27/5/2023 thì được chị Bùi Thị V nghe và nói lại sáng hôm qua có một anh mượn điện thoại nhưng không biết người đó ở đâu. Cùng trong khoảng thời gian đó, H đi xe máy SH màu trắng, biển kiểm soát 22B1-797.54 ra khu vực Trung tâm Tin học - ngoại ngữ nhưng không gặp bà H2, H thấy anh Nguyễn Văn T3 là nhân viên giao hàng V1 đang gọi điện thoại ở đường H, thuộc tổ A, phường M, thành phố Đ, H mượn điện thoại của anh T3 được lắp sim số 0976.581.383 gọi vào số 0917.336.111 của bà H2 bảo đi ra chỗ cũ, rồi xóa số đã gọi và trả điện thoại cho T3. Sau đó H và bà H2 gặp nhau ở mép đường cạnh tường bao của Trường tiểu học H3 - Đ. Bà H2 lấy thư được con gái là cháu Nguyễn Trần Hà A1 viết bằng bút nhũ vào một mặt của tờ giấy A4, bà H2 viết vào mặt còn lại bằng bút bi màu xanh với nội dung động viên chồng đưa cho H gửi vào cho chồng và hỏi thư của chồng bà H2 đâu, H nói phải gửi thư này vào thì chồng bà mới viết ra, bà H2 nói H cho xin một kiểu ảnh và lấy điện thoại để chụp thì H điều khiển xe máy vội vàng đi mất, bà H2 chạy theo nhìn và ghi lại biển xe SH do H điều khiển là 22B1-797.54. Sau đó, bà H2 gọi lại số điện thoại 0976.581.xxx mà H vừa gọi cho bà thì anh Nguyễn Văn T3 nghe máy nói là có một anh mượn điện thoại của em gọi cho chị. Nghi ngờ bị lừa đảo nên bà H2 đã đến Công an thành phố Đ trình báo sự việc.

Tại cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, sau khi trình báo chị H2 mới biết người mà bà H2 tố giác tên là Vũ Đình H làm ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, bà H2 nhắn tin vào số 0919.898.199 của H để hỏi việc đưa thư và gọi H nhưng H không trả lời và không nghe điện thoại, bà H2 lưu tên số điện thoại 0919.898.xxx là “Hải VKS”. Sau đó, H gọi lại bảo bà H2 ra chỗ hẹn cũ (Trung tâm tin học ngoại ngữ cũ) nói chuyện. H đi xe ô tô biển kiểm soát 51A-946.03 đi ra khu vực cổng Trung tâm tin học ngoại ngữ lấy lá thư bà H2 nhờ gửi bỏ xuống dưới hòn đá trong bồn cây trên vỉa hè. Khi bà H2 đi xe máy đến, H bảo bà H2 vào trong xe ô tô để nói chuyện, rồi H điều khiển xe ô tô đến khu vực cổng sau trường Cao đẳng sư phạm tỉnh Điện Biên thì dừng lại. H yêu cầu bà H2 đưa điện thoại và mở mật khẩu, H xóa các tin nhắn của bà H2 nhắn đến số 0919.898.199 và yêu cầu bà H2 xóa tên “H VKS” trong danh bạ. Hai người tiếp tục nói chuyện một lúc thì H đưa bà H2 ra chỗ để xe máy gần cổng Trung tâm tin học ngoại ngữ để bà H2 về. H hẹn bà H2 một lúc nữa thì đi bộ ra đây, bà H2 đi về còn H đi xe ô tô ra cạnh bồn cây nơi cất thư thì bị Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ mời về làm việc.

Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 23 giờ ngày 28/5/2023, tại tổ dân phố A, phường M, thành phố Đ đã phát hiện và thu giữ tại bồn cây thứ 4 theo hướng từ Tây sang Đông trên hành lang phải của đường đôi nối từ đường T với đường S 01 tờ giấy là bức thư bà H2 đưa cho H để gửi cho chồng.

Tại bản Kết luận giám định 1218/KL-KTHS ngày 24/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

  • - Chữ viết trên tờ giấy A4 dòng đầu nội dung ghi: “Anh yêu thương của vợ...”, dòng kết thúc “...bản lĩnh, thông tuệ và cực kỳ tỉnh táo nhé” trên tài liệu cần giám định, ký hiệu A với chữ viết đứng tên Trần Thị Hải H2 trên bản tự khai/bản tường trình đề ngày 16/7/2023, ký hiệu M1 là do cùng một người viết ra.
  • - Chữ viết trên tờ giấy A4 dòng đầu nội dung ghi: “Con gái yêu của bố...”, dòng kết thúc “...bye bye dad” trên tài liệu cần giám định, ký hiệu A với chữ viết trên mẫu so sánh, ký hiệu M2 là do cùng một người viết ra.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã quyết định:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 04 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 27/5/2024, bị cáo Vũ Đình H kháng cáo đề nghị áp dụng điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo, không nhất trí tuyên bị cáo chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án mà tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; xin được miễn toàn bộ án phí. Không nhất trí với việc tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số máy: NNR12LL/A, số sê-ri: FYQDQ03RHG00, IMEI: 359471086413911, chiếc điện thoại được lắp một Sim Vinaphone số: 0919.898.xxx thu giữ của bị cáo Vũ Đình H; không nhất trí với việc tuyên giao lại cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tạm giữ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA; số loại Rio; loại xe ô tô con; màu sơn: Đỏ; BKS: 51A-946.03; Dung tích xi lanh: 1396; Số máy: G4FAES753470; Số khung: KNADN512BE6978296; năm sản xuất: 2014.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Vũ Đình H giữ nguyên kháng cáo đề nghị áp dụng điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo; rút toàn bộ phần kháng cáo còn lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H về việc không nhất trí tuyên bị cáo chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án mà tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; xin được miễn toàn bộ án phí; không nhất trí với việc tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số máy: NNR12LL/A, số sê-ri: FYQDQ03RHG00, IMEI: 359471086413911, chiếc điện thoại được lắp một Sim Vinaphone số: 0919.898.xxx thu giữ của bị cáo Vũ Đình H; không nhất trí với việc tuyên tạm giữ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA; số loại Rio; loại xe ô tô con; màu sơn: Đỏ; BKS: 51A-946.03; Dung tích xi lanh: 1396; Số máy: G4FAES753470; Số khung: KNADN512BE6978296; năm sản xuất: 2014. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên, giảm cho bị cáo 06 tháng tù, để bị cáo sớm có cơ hội cải tạo tốt, trở về làm công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm. Xin Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kháng cáo của bị cáo được gửi trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Vũ Đình H đã rút phần kháng cáo về việc tuyên bị cáo chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án mà tính từ ngày tạm giữ, tạm giam; xin được miễn toàn bộ án phí; không nhất trí với việc tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 7 Plus, số máy: NNR12LL/A, số sê-ri: FYQDQ03RHG00, IMEI: 359471086413911, chiếc điện thoại được lắp một Sim Vinaphone số: 0919.898.xxx thu giữ của bị cáo Vũ Đình H; không nhất trí với việc tuyên giao lại cho Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tạm giữ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA; số loại Rio; loại xe ô tô con; màu sơn: Đỏ; BKS: 51A-946.03; Dung tích xi lanh: 1396; Số máy: G4FAES753470; Số khung: KNADN512BE6978296; năm sản xuất: 2014. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sẽ căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo mà bị cáo đã rút nêu trên.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H về việc xin giảm nhẹ hình phạt tù, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ ngày 27/5/2023, khi bà Trần Thị Hải H2 đang làm việc tại cơ quan thì bị cáo Vũ Đình H chủ động gọi vào số điện thoại của bà H2 nói, cần gặp bà H2 với lý do chồng bà là Nguyễn Tuấn A (hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ) có lời nhắn ra và hẹn bà H2 ra khu vực C, đối diện sân bay thuộc tổ dân phố G, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên để nói chuyện. Tại đây, bị cáo đã đưa ra những thông tin về việc bị cáo có gặp chồng bà H2 trong trại giam, sức khỏe rất yếu, bị gan nặng, bị đối xử rất tệ, chồng bà H2 nói với H chỉ có H mới giúp được nên H yêu cầu bà H2 phải giữ bí mật, đồng thời nói vụ án của chồng bà H2 phải ra phúc thẩm thì mới giải quyết được vấn đề, vụ án sắp được đưa ra xét xử nên cần tiền nhanh chóng chữa bệnh cho chồng để có sức khỏe tốt và bị cáo H bảo bà H2 chuẩn bị một khoản tiền là 100 triệu đồng để cho chồng chữa bệnh và cảm ơn những người đã giúp đỡ. Do tin tưởng bị cáo, vì bị cáo nói có biết vợ chồng ông bà Trường N1 (bà N1 là chị ruột của ông Tuấn A) và sốt ruột lo cho chồng nên bà H đã hỏi vay của bạn là bà Đào Cẩm T2 số tiền 100 triệu đồng để đưa cho bị cáo lo cho chồng. Sau khi đưa tiền cho bị cáo, bà H2 có gặp bị cáo để nhờ chuyển thư của bà và con gái vào cho chồng, nhưng bà H2 thấy bị cáo có nhiều biểu hiện bất minh, nghi ngờ nên đã gửi đơn đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.

Trên cơ sở lời khai, biên bản nhận dạng của những người làm chứng là chị Nguyễn Thị M (chủ thuê bao 0788.061.079), chị Bùi Thị V (chủ thuê bao 0961.077.723), anh Nguyễn Văn T3 (chủ thuê bao 0976.581.383), bảng kê chi tiết các cuộc gọi đi - đến từ số thuê bao của chị M, chị V và anh T3 đến số thuê bao 0917336111 của bà H2 và bảng kê chi tiết cuộc gọi đi đến từ số thuê bao 0917336111 của bà H2, có đủ căn cứ khẳng định vào các ngày 26, 27, 28/5/2023, bị cáo đã chủ động mượn điện thoại của những người này để liên lạc với bà H2, việc bị cáo nhiều lần mượn điện thoại để chủ động liên lạc với bà H2 sau đó xóa thông tin cuộc gọi đi mà không dùng điện thoại của bị cáo để gọi cho bà H2 là thủ đoạn gian dối của bị cáo nhằm che dấu hành vi phạm tội của bị cáo. Bên cạnh đó, ông Nguyễn Tuấn A chồng bà H2 khai nhận, ông không quen biết bị cáo H, trong thời gian tạm giam, ông không gặp ai tên Vũ Đình H công tác tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, ông cũng không nhờ ai nhận hoặc đưa thư cho người nhà chuyển vào trại giam cho ông. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên nơi bị cáo công tác cũng xác nhận, bị cáo không được phân công nhiệm vụ kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự, không được phân công kiểm sát vụ án Nguyễn Tuấn A. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã xét xử bị cáo Vũ Đình H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra những thông tin sai sự thật về ông Nguyễn Tuấn A chồng bà H2 để bà H2 tin tưởng đưa cho bị cáo số tiền 100 triệu đồng. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm của bị cáo đã hoàn thành nên bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[2.3] Tuy nhiên, xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; năm 2022, bị cáo được Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tặng Bằng khen; bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Đình L được tặng Huy chương chiến sĩ giải phóng; tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Việc bị cáo kháng cáo cho rằng, vợ bị cáo là chị Nguyễn Thị H1 đề nghị giữ lại toàn bộ tài sản đã thu giữ trong két sắt của gia đình bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo, được coi là tình tiết tự nguyện khắc phục hậu quả theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là không chính xác, vì đây là những tài sản bị Cơ quan điều tra thu giữ trong quá trình khám xét nhà bị cáo nên chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Từ những phân tích, nhận định nêu trên thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo 04 năm tù là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo và rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cần xem xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt tù, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta nhằm tạo điều kiện giúp bị cáo tích cực cải tạo, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành người lương thiện.

[2.5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[2.6] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H về việc đề nghị sửa cách tuyên: thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo, án phí sơ thẩm và xử lý vật chứng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.
  2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 14/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

    Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Đình H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Đình H không phải chịu.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Công an tỉnh Điện Biên;
  • - TTG - CA tỉnh Điện Biên;
  • - Cục THADS tỉnh Điện Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - Bị cáo (qua trại);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 665/2024/HS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 665/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger