|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 665/2025/DS-PT Ngày 13-6-2025 Về việc “Tranh chấp đòi tài sản" |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Ông Vũ Bảo Nguyên
Các Thẩm phán :
1. Bà Đỗ Thanh Hương
2. Ông Đào Hồng Cảnh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thái Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 tháng 5 và 13 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 324/2025/DSPT ngày 07 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản"
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1633/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 5291/2025/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 6765/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Ông Vũ Hoàng G, sinh năm 1964; (Có mặt)
Địa chỉ: G T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phạm Hồng S - Công ty L2 - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (Có mặt)
Địa chỉ: BT A làng V, khu đô thị M, phường M, quận H, thành phố Hà Nội
Bị đơn: Bà Vũ Thị Thúy N, sinh năm 1964; (Có mặt)
Địa chỉ: H N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Như K, sinh năm 1960 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: H N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Đào Thị L, sinh năm 1930 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam
- Bà Vũ Thị T, sinh năm 1968 (Có mặt)
Địa chỉ : G T, khu F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương
- Ông Nguyễn Trí D (Vũ Văn C) chết ngày 14/02/2000
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Trí D :
- Bà Vũ Thị Minh H, sinh năm 1956 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: 1117 CT1B CC789 TDP T, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội
- Ông Vũ Minh Q, sinh năm 1959 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ : Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam
- Ông Vũ Thì N1, sinh năm 1972
Địa chỉ : 2 Khu phố B, phường H, quận A, thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Vũ Thị Minh H, sinh năm 1956 (Xin vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Kiều O (Có mặt)
Địa chỉ : 2, tổ A, khu B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bà Vũ Thị Minh T1, sinh năm 1958 (Có mặt)
Địa chỉ : 23/2/1 L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương
Do có kháng cáo của bị đơn bà Vũ Thị Thúy N.
NHẬN THẤY:
Căn cứ vào đơn khởi kiện đề ngày 29/12/2023, văn bản đề ngày 31/12/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Vũ Hoàng G trình bày:
Do bà Vũ Thị Thúy N (cháu gọi bố ông là bác ruột) nên ông tin tưởng đã ủy quyền cho bà N ra Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia giải quyết tranh chấp đất đai giữa ông với gia đình ông Nguyễn Văn T2 và bà Nguyễn Thị N2; ông cũng đã giao cho bà N2 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044 QSDĐ/PH do Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do UBND thị xã T cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990 để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế do bố ông là cụ Nguyễn Trí D để lại theo quy định pháp luật và để liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục nộp và nhận hồ sơ bản chính trích lục, bổ túc giấy tờ, tài liệu liên quan xin cấp đổi và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích đất tọa lạc tại phường P, thị xã T (nay là TP T) tỉnh Bình Dương. Trong quá trình thực hiện việc phân chia di sản thừa kế, gia đình không thống nhất được ý kiến nên hiện tại vẫn chưa tiến hành được thủ tục phân chia di sản thừa kế như dự kiến.
Ngoài ra trong thời gian đại diện theo ủy quyền và thay mặt ông tham gia tố tụng để giải quyết tranh chấp đất đai, ông có giao cho bà N2 quyển: Nhật ký chi tiêu của bố ông (mang tên ông Nguyễn Trí D, được viết tay) từ năm 1982 đến năm 1996.
Mặc khác, ông là chủ sở hữu của mảnh đất có diện tích 2.016m² tại phường P, Thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606; vào sổ số 1044 QSDĐ/PH do UBND Thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/10/1998. Do đó, khi Nhà nước mở rộng đường T thì ông là người được bồi thường, hỗ trợ từ Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T, tỉnh Bình Dương, số tiền là 1.916.791.900 đồng (Một tỷ chín trăm mười sáu triệu bảy trăm chín mươi mốt nghìn chín trăm đồng) vào ngày 19/9/2018. Khi nhận số tiền này, ông có ký tên vào Giấy cam kết ngày 19/9/2018 cho Trung tâm phát triển Quỹ đất Thành phố T. Cùng ngày 19/9/2018, ông và bà N2 có viết giấy biên nhận trong đó có nội dung thể hiện bà N2 có quản lý số tiền 1.698.988.000 đồng của ông và chỉ hoàn trả lại cho ông 03 lần với tổng số tiền 150.000.000 đồng (ngày 06/10/2018 và ngày 25/10/2018), số tiền còn lại là 1.548.988.900 (Một tỷ năm trăm bốn mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn chín trăm) đồng hiện nay bà N2 vẫn đang cất giữ.
Cho đến nay, toàn bộ các công việc ủy quyền cho bà Vũ Thị Thúy N đã hoàn thành và ông đã thông báo chấm dứt ủy quyền với bà Vũ Thị Thúy N (Văn bản chấm dứt giấy ủy quyền số công chứng 000969 quyển số 01/2023/TP/CC-SCC/UQ ngày 27/02/2023 tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, bà N vẫn nắm giữ và không có ý định hoàn trả 02 (hai) Bản chính Giấy chứng nhận nêu trên và giữ số tiền còn lại là 1.548.988.900 đồng.
Ngày 31/12/2024, ông có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể đề nghị rút yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N trao trả cho gia đình ông G quyển Nhật ký chi tiêu (mang tên ông Nguyễn Trí D, được viết tay) từ năm 1982 đến năm 1996.
Nay, ông yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N hoàn trả cho ông toàn bộ số tiền gốc là 1.548.988.900 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 17/01/2025 với lãi suất 10%/năm với số tiền là 936.607.265 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bà N phải hoàn trả cho ông G là 2.485.596.165 đồng (Hai tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi lăm) đồng. Yêu cầu bà N trả ngay số tiền gốc và lãi làm một lần kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N hoàn trả cho ông bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606; vào sổ số 1044 QSDD/PH do UBND Thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 28/10/1998, đăng ký thay đổi ngày 05/6/2017 và
ngày 25/9/2018 mang tên Vũ Hoàng G và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB ngày 20/7/1990 mang tên ông Nguyễn Trí D.
- Rút một phần yêu cầu buộc bà N trả quyển sổ nhật ký của ông D
Đối với đơn yêu cầu phản tố của bị đơn thì ông có ý kiến như sau:
Đối với yêu cầu buộc ông G, bà T và bà H trả lại cho bà N tổng số tiền 150.000.000 đồng để bàn giao lại cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh B thì như đã trình bày nêu trên ông đã thừa nhận ông có nhận từ bà N 03 lần với tổng số tiền 150.000.000 đồng và ông đã trừ số tiền này vào tổng số tiền mà bà N đang giữ của ông là 1.698.988.900 đồng. Do đó, ông không đồng ý với yêu cầu phản tố này của bà N
Ông xác nhận mẹ và các anh chị em của ông không có bất cứ quan hệ vay mượn hoặc nhận tiền nào từ bà N. Bên cạnh đó mẹ và các anh chị em của ông là người liên quan trong nội dung khởi kiện đòi tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố ông là ông D, không liên quan đến bất kỳ khoản tiền nào theo như Đơn phản tố bà N trình bày. Do đó ông không đồng ý với yêu cầu phản tố buộc bà L, bà H, ông Q, bà T1, ông N1, ông G, bà T thanh toán cho bà N số tiền nợ gốc: 632.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 360.000.000 đồng của bà N.
Ông xác nhận hiện nay ông có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia toàn bộ các giai đoạn tố tụng tại tòa án. Lý do xác nhận: Trước đây bà Đào Thị L (mẹ đẻ của ông) có viết giấy ủy quyền cho người khác trông nom thửa đất do ông đứng tên tại thành phố T vì cho rằng ông bị bệnh thần kinh. Tuy nhiên, thực tế thời điểm đó ông chỉ bị ốm, suy nhược cơ thể đồng thời ông chưa có bất kỳ phán quyết nào của Tòa án nhân dân tuyên bố về tình trạng mất năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ vào đơn phản tố đề ngày 20/11/2024, đơn sửa đổi, bổ sung đơn phản tố đề ngày 16/12/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Vũ Thị Thúy N trình bày:
Ngày 19/9/2018 bà nhận từ Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Thủ Dầu Một số tiền 1.698.988.000 (Một tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng. Tuy nhiên số tiền ghi bằng chữ theo Giấy biên nhận ngày 19/9/2018 do bà N ghi nhầm là “Một tỷ sáu trăm chín mươi tám ngàn chín trăm tám mươi tám đồng”. Bà xác nhận bà có nhận số tiền 1.698.988.000 (Một tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) nhưng nhận từ Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T, tỉnh Bình Dương không phải nhận từ ông G. Tuy nhiên bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh Trung tâm phát triển quỹ đất có giao số tiền trên cho bà. Bà không biết Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T, tỉnh Bình Dương bồi thường số tiền 1.698.988.000 (Một tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) cho ai trong dòng họ V. Nhưng ngày 30/5/2018 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố
T, tỉnh Bình Dương có giấy mời bà làm việc về nội dung giải quyết hồ sơ bồi thường của hộ ông Vũ Hoàng G thuộc công trình đường T.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông G thì bà không đồng ý, cụ thể:
- Đối với yêu cầu buộc bà trả số tiền 1.698.988.900 (Một tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn chín trăm) đồng thì đây là tiền Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố T, tỉnh Bình Dương bồi thường cho dòng họ nhà bà, do đó bà không đồng ý trả lại số tiền trên cho ông G.
- Đối với yêu cầu trả 02 (hai) bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số 17PH/GCN-SB, ngày 20/7/1990 cho ông Nguyễn Trí D và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 705606, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1044/QSDĐ/PH ngày 28/10/1998 cho ông Vũ Hoàng G; bà xác nhận hiện nay bà đang cất giữ 02 giấy chứng nhận nêu trên và không đồng ý trả vì bà thực hiện tâm nguyện và lời dặn của ông Nguyễn Trí D (tên thật là Vũ Văn C, tên gọi khác là ông Vũ D2), ông Vũ Đình V1 và ông Vũ Đình L1 yêu cầu bà quản lý tài sản và do đất đã bị bán một thửa.
- Đối với yêu cầu trả sổ chi tiêu của ông Nguyễn Trí D từ năm 1982-1993 bà N xác nhận đang giữ bản chính quyển sổ chi tiêu. Tuy nhiên bà không đồng ý trả vì lý do trong sổ có thể hiện nội dung tiền của anh em gửi vào cho bác D, bà quản lý để khi nhà nước ra quyết định công khai toàn bộ nội dung, tâm nguyện, di nguyện của ông Nguyễn Trí D đã gửi lại Đảng và nhà nước nhờ giúp đỡ khi vợ con ông kém may mắn.
Trước đây bà N có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông G trả cho bà N số tiền 150.000.000 đồng
- Buộc bà Đào Thị L, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Minh Q, ông Vũ Hoàng G, bà Vũ Thị Minh T1, ông Vũ Thì N1 trả cho bà N số tiền tạm tính 632.000.000 đồng cộng lãi suất tiền vay 2%/tháng của số tiền gốc 300.000.000 đồng từ tháng 9/2019 đến tháng 11/2024 là khoảng 360.000.000 đồng.
Ngày 16/12/2024, bà N có nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn phản tố. Theo đó, ngoài việc bà N yêu cầu ông G cùng vợ là bà Vũ Thị T và bà Vũ Thị Minh H trả số tiền 150.000.000 đồng thì bà còn yêu cầu bà Đào Thị L, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Minh Q, ông Vũ Hoàng G, bà Vũ Thị Minh T1, ông Vũ Thì N1 trả cho bị đơn số tiền tạm tính: tiền gốc: 632.000.000 đồng (trong đó gồm 332.000.000 đồng là tiền chi phí giải quyết giấy tờ liên quan đến tài sản ông D để lại cho anh, em, con cháu do bà Vũ Thị Minh H tạm tính từ năm 2008 đến 2019; Và 300.000.000 đồng là tiền chi phí tạm tính từ năm 2019 đến tháng 11/2024 gồm tiền đi lại, ăn ở, in ấn, photo,... phục vụ cho việc Tỉnh ủy, UBND tỉnh H, Bình Dương, Công an các tỉnh liên quan đến nguồn gốc tài sản ông D để lại), tiền lãi tạm tính là 360.000.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Như K vắng mặt nhưng có bản tự khai ngày 11/10/2024 trình bày:
Ông và bà Vũ Thị Thúy N là vợ chồng. Vào năm 2007 ông Vũ Hoàng G có ủy quyền cho vợ ông là bà N đồng thời ông Vũ Thì N1 có ủy quyền cho ông tham gia giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất ở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Sau đó gia đình ông G có giao cho vợ ông là bà N bản chính các giấy tờ sau:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 ngày 20/7/1990 mang tên ông Nguyễn Chí D1.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 số vào sổ: 1044/QSDĐ/BP do UBND thị xã T cấp ngày 28/10/1998 đăng ký thay đổi ngày 05/6/2017 và ngày 25/4/2018 đứng tên ông Vũ Hoàng G.
- Quyển nhật ký chi tiêu của bố ông G.
Vào khoảng năm 2017 vợ chồng ông với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của ông G và ông N1 đã thắng kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên vợ chồng ông vẫn chưa giao trả bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và quyển sổ nhật ký chi tiêu của bố ông G.
Năm 2019 gia đình ông G tin tưởng vợ chồng ông nên ông Vũ Hoàng G tiếp tục ủy quyền cho vợ ông đại diện ông G liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để lập thủ tục nộp và nhận hồ sơ bản chính trích lục, bổ túc giấy tờ, tài liệu liên quan xin cấp đổi và nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất đối với toàn bộ diện tích đất tọa lạc tại phường P, thị xã T (nay là TP T) tỉnh Bình Dương. Sau đó cơ quan giải phóng mặt bằng có mời vợ ông và ông G có đến cơ quan Giải phóng mặt bằng để nhận số tiền đền bù giải phóng mặt bằng là 1.916.791.900 đồng vào khoảng tháng 9/2018. Số tiền này là tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho gia đình ông G. Tuy nhiên vợ ông vẫn đang giữ số tiền này. Sau đó, ông G có đến nhà ông bảo bà N đưa tạm 100.000.000 đồng nhưng bà N nói không có tiền và ông có cho bà N mượn 50.000.000 đồng để bà N đưa ông G, cụ thể sau này bà N đưa cho ông G số tiền bao nhiêu thì ông không không biết.
Nay ông G khởi kiện vợ ông là bà Vũ Thị Thúy N thì ý kiến của ông là yêu cầu bà N phải trả toàn bộ số tiền còn lại và 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cùng quyển sổ nhật ký của bố ông G cho gia đình ông G.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị T vắng mặt nhưng có văn bản trình bày:
Bà hoàn toàn thống nhất với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện các ý kiến trình bày của chồng bà là ông Vũ Hoàng G trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có thêm bất kỳ ý kiến nào khác. Vì sức khỏe của bà không được
tốt, bị hoa mắt, chóng mặt do bị tiền đình, nên bà xin phép được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Bà cam kết về việc không tham gia vào các phiên tòa hòa giải và công khai chứng cứ này là hoàn toàn tự nguyện, không nhằm trốn tránh bất cứ quyền lợi, nghĩa vụ nào có liên quan đến vụ án quyết nhanh chóng theo thủ tục, luật định.
Về yêu cầu phản tố của bà N yêu cầu bà và chồng bà là ông Vũ Hoàng G cùng những người liên quan khác trả tiền cho bà N. Bà không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu trong Đơn phản tố của bà N. Bà xin khẳng định giữa bà và bà N không có bất cứ quan hệ vay mượn hoặc giao nhận khoản tiền nào.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đào Thị L vắng mặt nhưng có bản tự khai ngày 25/10/2024 trình bày:
Trong thời kỳ hôn nhân, bà và chồng là cụ Vũ Văn C (tên gọi khác là Nguyễn Trí D – đã mất) sinh được 05 người con gồm: bà Vũ Thị Minh H, sinh năm 1956, bà Vũ Thị Minh T1, sinh năm: 1958, ông Vũ Minh Q, sinh năm: 1959; ông Vũ Hoàng G, sinh năm: 1964; ông Vũ Thì N1, sinh năm: 1972. Khi còn sống, chồng bà được UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17/GCN-SB ngày 20/7/1990; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé, diện tích: 360m²: Mục đích sử dụng: Xây dựng nhà ở và làm kinh tế phụ gia đình; Thời gian sử dụng: Lâu dài. Vợ chồng bà là người trực tiếp canh tác, sử dụng đất kể từ thời điểm được giao đất tới khi mất. Ngày 14/02/2000, chồng bà mất đi không để lại di chúc. Khi đó, gia đình bà còn 06 người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Trí D, bao gồm: bà; bà Vũ Thị Minh H, bà Vũ Thị Minh T1, ông Vũ Minh Q, ông Vũ Hoàng G, ông Vũ Thì N1. Gia đình bà chưa tiến hành phân chia di sản thừa kế kể từ thời điểm chồng bà mất tới nay. Do đường xá xa xôi, bà tuổi đã cao nên sức khỏe yếu, các con làm ăn xa nên không thuận tiện đi lại, gia đình bà thống nhất ủy quyền cho bà Vũ Thị Thúy N (là cháu của chồng bà) thay mặt gia đình để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế do ông D để lại theo quy định pháp luật. Do đó, thay mặt gia đình, năm 2016, con bà là ông Vũ Hoàng G đã giao cho bà Vũ Thị Thúy N bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044QSDĐ/PH do UBND thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do UBND thị xã T cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990. Trong quá trình thực hiện phân chia di sản thừa kế, gia đình bà không thống nhất được ý kiến nên hiện tại vẫn chưa tiến hành được thủ tục phân chia di sản thừa kế như dự kiến. Ngoài ra, con bà là ông G có giao cho bà N bản chính quyển Nhật ký chi tiêu của cụ Nguyễn Trí D được viết tay từ năm 1982 đến năm 1996. Đây là một trong những tài liệu quan trọng và
cần thiết để gia đình bà có căn cứ phân chia di sản thừa kế dựa trên thực tế công sức trông nom, chăm sóc và chi tiêu của từng người khi sinh thời chồng bà còn sống. Nay gia đình bà có nguyện vọng lấy lại bản chính 02 giấy chứng nhận nêu trên để tự thỏa thuận và thực hiện việc phân chia di sản thừa kế. Do đó, gia đình bà đã hoàn thiện thủ tục chấm dứt mọi công việc ủy quyền cho bà N và yêu cầu bà N trả lại các giấy tờ nêu trên nhưng bà N không trả. Bà cam kết việc không tham gia vào các phiên họp hòa giải và công khai chứng cứ là hoàn toàn này là hoàn toàn tự nguyện, không nhằm trốn tránh bất cứ quyền lợi hoặc nghĩa vụ nào có liên quan đến vụ án. Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, do tuổi cao sức yếu, đường xá xa xôi không thuận tiện đi lại, bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm. Nay bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Hoàng G theo đơn khởi kiện đã nộp.
Bà thống nhất yêu cầu Tòa án buộc bà N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trí D cho ông Vũ Hoàng G.
Trong quá trình tham gia các phiên hòa giải và công khai chứng tại Tòa án bà nhận được thông báo về việc bà N có Đơn phản tố để yêu cầu Ông G1 cùng bà và các con bà trả tiền cho bà N. Bà xác nhận không có bất cứ quan hệ vay mượn hoặc nhận tiền nào từ bà N. Bên cạnh đó bà chỉ là người liên quan trong nội dung khởi kiện đòi tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D, không liên quan đến bất kỳ khoản tiền nào theo như Đơn phản tố bà N trình bày. Do đó bà không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu trong đơn phản tố của Bà N.
Bà xác nhận hiện nay ông Vũ Hoàng G có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia toàn bộ các giai đoạn tố tụng tại tòa án và thay mặt bà ký nhận hồ sơ tài liệu của vụ án. Lý do xác nhận: Trước đây bà có viết giấy ủy quyền cho người khác trông nom thửa đất do ông Vũ Hoàng G đứng tên tại thành phố T vì cho rằng ông G bị bệnh thần kinh. Tuy nhiên, thực tế thời điểm đó ông G chỉ bị ốm, suy nhược cơ thể đồng thời ông Vũ Hoàng G chưa có bất kỳ phán quyết nào của Tòa án nhân dân tuyên bố về tình trạng mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, bà xác nhận không có bất kỳ quan hệ vay mượn hoặc nhận tiền nào từ bà N và thống nhất đề nghị Tòa án buộc bà N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trí D cho ông G
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Minh Q, bà Vũ Thị Minh T1, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Thì N1 vắng mặt nhưng cùng có bản tự khai trình bày:
Bố của ông bà là cụ Vũ Văn C (tên gọi khác là Nguyễn Trí D – đã mất) và mẹ là Đào Thị L (sinh năm 1930, hiện đang cư trú tại Thôn T, Xã T, Huyện B, tỉnh Hà Nam) sinh được 05 người con gồm: Bà Vũ Thị Minh H; Bà Vũ Thị
Minh T1; Ông Vũ Minh Q; Ông Vũ Hoàng G; Ông Vũ Thì N1. Khi còn sống, bố của các ông bà là ông D được UBND thị xã T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 171/GCN-SB ngày 20/7/1990; Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé, diện tích: 360m²; Mục đích sử dụng: Xây dựng nhà ở và làm kinh tế phụ gia đình; Thời gian sử dụng: Lâu dài. Bố và mẹ ông bà là người trực tiếp canh tác, sử dụng đất kể từ thời điểm được giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 14/02/2000, bố ông bà mất đi không để lại di chúc. Khi đó, gia đình ông bà còn 06 người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Trí D, bao gồm: Cụ Đào Thị L; bà Vũ Thị Minh H; bà Vũ Thị Minh T1; bà ông Vũ Minh Q; ông Vũ Hoàng G; ông Vũ Thì N1. Gia đình ông bà chưa tiến hành phân chia di sản thừa kế từ thời điểm bố ông bà mất tới nay. Do đường xá xa xôi, mẹ ông bà tuổi đã cao nên sức khỏe yếu, các anh chị em làm ăn xa nên không thuận tiện đi lại, gia đình ông bà thống nhất ủy quyền cho bà Vũ Thị Thúy N (là cháu, gọi bố tôi bằng bác ruột) thay mặt gia đình để liên hệ, làm việc với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm thực hiện thủ tục phân chia di sản thừa kế do bố ông bà để lại theo quy định pháp luật. Do đó, thay mặt gia đình, năm 2016, ông Vũ Hoàng G đã giao cho bà Vũ Thị Thúy N bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB ngày 20/7/1990 mang tên cụ Nguyễn Trí D. Trong quá trình thực hiện việc phân chia di sản thừa kế, gia đình không thống nhất được ý kiến nên hiện tại vẫn chưa tiến hành được thủ tục phân chia di sản thừa kế như dự kiến. Ngoài ra, ông G có giao cho bà N bản gốc quyền Nhật ký chi tiêu của cụ Nguyễn Trí D được viết tay từ năm 1982 đến năm 1996. Đây là một trong những tài liệu quan trọng và cần thiết để chị em trong gia đình có căn cứ phân chia di sản thừa kế dựa trên thực tế công sức trông nom, chăm sóc và chi tiêu của từng anh chị em trong gia đình khi sinh thời bố ông bà còn sống. Nay, gia đình ông bà có nguyện vọng lấy lại bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17/GCN-SB ngày 20/7/1990 để tự thỏa thuận và thực hiện phân chia di sản thừa kế. Do đó, gia đình ông bà đã hoàn thiện thủ tục chấm dứt mọi công việc ủy quyền cho bà N và yêu cầu bà N hoàn trả lại bản gốc hồ sơ nhưng bà N không hợp tác, cố tình chiếm giữ và gây khó khăn trong việc khai nhận di sản thừa kế của gia đình ông bà. Đến nay, gia đình ông bà và bà N không thể tự thỏa thuận để giải quyết tranh chấp. Nay, ông bà hoàn toàn đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Hoàng G theo đơn khởi kiện đã giao nộp. Trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án, do đường xá xa xôi không thuận tiện đi lại, các ông bà xin được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các phiên tòa xét xử sơ thẩm, phúc thẩm (nếu có). Ông bà hoàn toàn thống nhất với toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện, các ý kiến trình bày của ông Vũ Hoàng G trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có thêm bất kỳ ý kiến nào khác. Ông bà cam kết việc không tham gia vào các phiên họp
hòa giải và công khai chứng cứ là hoàn toàn này là hoàn toàn tự nguyện, không nhằm trốn tránh bất cứ quyền lợi hoặc nghĩa vụ nào có liên quan đến vụ án.
Về yêu cầu phản tố của bà N thì ông bà cùng có ý kiến như sau:
Trong quá trình tham gia các phiên hòa giải và công khai chứng tại Tòa án các ông bà nhận được thông báo về việc bà N có Đơn phản tố để yêu cầu Ông G1, mẹ và các ông bà trả tiền cho bà N. Các ông bà xác nhận không có bất cứ quan hệ vay mượn hoặc nhận tiền nào từ bà N. Bên cạnh đó các ông bà chỉ là người liên quan trong nội dung khởi kiện đòi tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bố ông bà, không liên quan đến bất kỳ khoản tiền nào theo như Đơn phản tố bà N trình bày. Do đó ông bà không đồng ý với toàn bộ nội dung yêu cầu trong đơn phản tố của bà N.
Ông bà xác nhận hiện nay ông Vũ Hoàng G có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để tham gia toàn bộ các giai đoạn tố tụng tại tòa án và thay mặt bà ký nhận hồ sơ tài liệu của vụ án. Lý do xác nhận: Trước đây mẹ của ông bà có viết giấy ủy quyền cho người khác trông nom thửa đất do ông Vũ Hoàng G đứng tên tại thành phố T vì cho rằng ông G bị bệnh thần kinh. Tuy nhiên, thực tế thời điểm đó ông G chỉ bị ốm, suy nhược cơ thể đồng thời ông Vũ Hoàng G chưa có bất kỳ phán quyết nào của Tòa án nhân dân tuyên bố về tình trạng mất năng lực hành vi dân sự. Đồng thời, các ông bà cùng thống nhất xác nhận không có bất kỳ quan hệ vay mượn hoặc nhận tiền nào từ bà N và thống nhất đề nghị Tòa án buộc bà N trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trí D cho ông G
Tại phiên tòa:
Bị đơn bà N có yêu cầu thay đổi thành viên hội đồng xét xử là Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa bà Cao Thị Thu H1. Tuy nhiên bà N không trình bày lý do yêu cầu thay đổi Thẩm phán và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ gì chứng minh. Do đó, hội đồng xét xử đã vào phòng thảo luận. Sau khi thảo luận với kết quả thống nhất 3/3 không đồng ý thay đổi Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa bà Cao Thị Thu H1 vì yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử là không có căn cứ, thành viên bị yêu cầu thay đổi không thuộc trường hợp phải từ chối hoặc phải thay đổi người tiến hành tố tụng theo quy định tại Điều 52, Điều 53 Bộ Luật tố tụng dân sự. Do đó, thay mặt Hội đồng xét xử - Thẩm phán Cao Thị Thu H1 đã ban hành Quyết định số 03/2025/QÐST-DS ngày 17/01/2025 Quyết định không chấp nhận yêu cầu thay đổi thành viện hội đồng xét xử căn cứ Điều 48, khoản 2 Điều 56 Bộ luật tố tụng dân sự. Quyết định đã được tống đạt trực tiếp tại phiên tòa cho các đương sự có mặt và cho Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình.
Nguyên đơn ông Vũ Hoàng G trình bày: ông xin rút một phần yêu cầu bà N trả quyển sổ nhật ký của ông D và ông xác định số tiền gốc yêu cầu buộc bà N
thanh toán sẽ làm tròn là 1.548.988.000 đồng và lãi buộc bà N thanh toán chỉ tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 17/01/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 936.607.265 đồng. Tổng cộng là 2.485.595.265 (Hai tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm) đồng. Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc bà N trả cho ông bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, đồng thời không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Căn cứ vào giấy biên nhận ngày 19/9/2018, giấy cam kết ngày 19/9/2018 và Công văn số số 734/TTPTQĐ ngày 26/12/2024 của Trung tâm phát triển Quỹ đất thành phố T, tỉnh Bình Dương đều thể hiện bà N có quản lý số tiền 1.698.988.000 đồng tiền bồi thường đất đường T của ông G. Sau đó, bà N đã 03 lần giao tiền cho ông G với tổng số tiền 150.000.000 đồng. Như vậy, bà N còn giữ của ông G số tiền còn lại làm tròn là 1.548.988.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G buộc bà N trả số tiền nêu trên cho ông G và số tiền lãi là 10%/năm tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 17/01/2025 là 936.607.265 đồng. Như vậy, tổng số tiền mà bà N phải hoàn trả cho ông G là 2.485.595.265 (Hai tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm) đồng
Ngoài ra, trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà N thừa nhận đang giữ 02 (hai) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044QSDĐ/PH do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông G buộc bà N trả 02 bản chính giấy chứng nhận nêu trên cho ông G
Về yêu cầu phản tố của bị đơn là không có cơ sở bởi lời khai của bà N không được nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận. Hơn nữa, tài liệu, chứng cứ mà bà N cung cấp cho Tòa án không có tài liệu nào có chữ ký xác nhận của nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do đó, không có việc vay mượn theo như yêu cầu phản tố của bà N. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
Bị đơn bà N trình bày: Ngày 16/12/2024, bà có nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn phản tố, theo đó ngoài việc bà yêu cầu ông G, bà T, bà H trả số tiền 150.000.000 đồng thì bà còn yêu cầu bà Đào Thị L, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Minh Q, ông Vũ Hoàng G, bà Vũ Thị Minh T1, ông Vũ Thì N1 trả cho bà số tiền tạm tính 632.000.000 đồng (trong đó gồm 332.000.000 đồng là tiền chi phí giải quyết giấy tờ liên quan đến tài sản ông D để lại cho anh, em, con cháu do bà
Vũ thị Minh H tạm tính từ năm 2008 đến 2019; Và 300.000.000 đồng là tiền chi phí tạm tính từ năm 2019 đến tháng 11/2024 gồm tiền đi lại, ăn ở, in ấn, photo,... phục vụ cho việc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh H, Bình Dương, Công an các tỉnh liên quan đến nguồn gốc tài sản ông D để lại), tiền lãi tạm tính là 360.000.000 đồng.
Bà cho rằng, sổ đỏ đứng tên ông G Nhà nước cấp không đúng quy trình, không đúng nguồn gốc cấp đất. Ông D không mua đất, vậy nguồn gốc Nhà nước cấp ở đâu. Do đó, bà đề nghị Tòa án xác minh quyền sở hữu của ông G. Từ đó, bà không đồng ý trả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên vì bà thực hiện theo nguyện vọng của ông D và bố ruột của bà yêu cầu bà quản lý tài sản do diện tích đất lớn nhưng hiện nay đã bị bán một thửa.
Bà xác nhận bà nhận số tiền 1.698.988.000 đồng từ Trung tâm phát triển quỹ đất chứ không phải nhận từ ông G. Số tiền này, Trung tâm phát triển quỹ đất bồi thường cho dòng họ nhà bà. Do đó, bà không đồng ý trả số tiền này và tiền lãi như yêu cầu khởi kiện của ông G. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố nêu trên của bà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Vụ án này Tòa án chỉ thụ lý giải quyết những nội dung trả tiền đã nhận và trả 02 giấy chứng nhận do Nhà nước cấp cho ông G và ông D. Các vấn đề liên quan đến tranh chấp đất đai không liên quan đến vụ án này. Đề nghị giải quyết ở vụ kiện khác.
Bị đơn bà N trình bày: Vấn đề tiền thì Trung tâm phát triển quỹ đất có yêu cầu ông G làm tờ trình liên quan đến nhân thân của ông G nhưng ông G không trung thực, không làm đơn nên ông G được cấp sổ đỏ đứng tên một mình ông G.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Quy trình để ông G được nhận tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thì Nhà nước có hướng dẫn trước khi nhận tiền bồi thường thì ông G phải kê khai nhân thân của ông G
Bị đơn bà N trình bày: Trung tâm phát triển quỹ đất chỉ bồi thường tiền cho chủ hộ là ông G.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
“1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Hoàng G đối với bà Vũ Thị Thúy N:
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Hoàng G số tiền 2.485.595.265 (Hai tỷ bốn trăm tám mươi lăm triệu năm trăm chín mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm) đồng. Trong đó: tiền gốc là : 1.548.988.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 17/01/2025 với mức lãi suất 10%/năm là 936.607.265 đồng
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Hoàng G bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044 QSDĐ/PH do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không cưỡng chế thu hồi được 02 (hai) bản chính giấy chứng nhận nêu trên thì ông Vũ Hoàng G được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp mới lại theo quy định, đồng thời 02 (hai) bản chính giấy chứng nhận trên không còn giá trị sử dụng
- Duy trì Quyết định khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ- ADBPKCTT ngày 28/10/2024 và Quyết định khẩn cấp tạm thời số 12/2024/QĐ- ADBPKCTT ngày 28/10/2024 để bảo đảm thi hành án
- Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 06/2024/QĐ- BPBĐ ngày 28/10/2024. Ông Vũ Hoàng G nhận lại số tiền 310.000.000 (Ba trăm mười triệu) đồng trong tài khoản số 0784222574 tại Ngân hàng TMCP V2- Chi nhánh S1- Phòng G2.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N trao trả cho gia đình ông G quyển Nhật ký chi tiêu của ông Nguyễn Trí D để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà N về việc buộc ông G, bà T và bà H trả lại cho bà N tổng số tiền 150.000.000 đồng và yêu cầu buộc bà L, bà H, ông Q, bà T1, ông N1, ông G, bà T thanh toán cho bà N số tiền nợ gốc: 632.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 360.000.000 đồng”
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
-Ngày 21/01/2025 bà Vũ Thị Thúy N nộp đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2025/DS-ST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xử hủy án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn: Ông Vũ Hoàng G có ý kiến:
Giảm cho bà N khoản tiền lãi 936.607.265 đồng, chỉ yêu cầu bà N trả số tiền 1.548.988.000 đồng; các nội dung khác đề nghị xử y án sơ thẩm.
Bị đơn: Bà Vũ Thị Thúy N có ý kiến:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
- Yêu cầu sửa án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn; không yêu cầu hủy án sơ thẩm.
- Về yêu cầu phản tố của bà N về việc buộc ông G, bà T và bà H trả lại cho bà N tổng số tiền 150.000.000 đồng (khoản 150.000.000 đồng là bà trích ra từ khoản tiền Nhà nước bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất cho ông G để ứng trước cho ông G) và yêu cầu buộc bà L, bà H, ông Q, bà T1, ông N1, ông G, bà T thanh toán cho bà N số tiền nợ gốc: 632.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 360.000.000 đồng; khoản tiền 632.000.000 đồng là chi phí bà bỏ ra để thực hiện theo nguyện vọng của cha, chú trong gia tộc để chứng minh phần đất ông Vũ Hoàng G và Nguyễn Trí D (cha ông G) đứng tên là đất do gia tộc đưa tiền mua, nội dung này ông G không ủy quyền cho bà thực hiện. Bà N giữ khoản tiền 1.548.988.000 đồng để sau này họp gia tộc giải quyết theo nguyện vọng của cha, chú trong gia tộc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý và xét xử vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận sự tự nguyện giảm tiền lãi của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
[1.1].Đơn kháng cáo của bà Vũ Thị Thúy N nộp trong hạn luật định và thuộc trường hợp miễn nộp tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp thuận giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2].Về quan hệ pháp luật tranh chấp, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và người tham gia tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.
[1.3].Về sự có mặt của đương sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt: Ông Nguyễn Như K, bà Đào Thị L, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Minh Q đã có đơn yêu cầu được vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[1.4].Tại phiên tòa sơ thẩm, bà Vũ Thị Thúy N có yêu cầu thay đổi Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa (trang 3, Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 17/01/2025, bút lục 575), yêu cầu này đã được Hội đồng xét xử sơ thẩm giải quyết theo Quyết định số 03/2025/QÐST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2025 không chấp nhận yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử. Quyết định có hiệu lực thi hành. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án là không vi phạm thủ tục tố tụng.
Hiện bà Vũ Thị Thúy N đang khiếu nại Quyết định số 262/QĐ-GQKN ngày 06/5/2025 “Về giải quyết khiếu nại (Lần đầu)” của Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với Chánh án Tòa án nhân dân quận Tân Bình, xét thấy việc khiếu nại của bà N không làm ảnh hưởng đến việc xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định chung.
[2]. Xét kháng cáo của bà Vũ Thị Thúy N:
[2.1].Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.1.1].Về yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N hoàn trả cho ông Vũ Hoàng G toàn bộ số tiền 1.548.988.000 đồng:
Tại Công văn số 734/TTPTQĐ ngày 26/12/2024 của Trung tâm phát triển quỹ đất (thuộc UBND thành phố T) có nội dung:
“Ông Vũ Hoàng G được Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu Một cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 1044QSDĐ/PH ngày 28/10/1998, phường P, diện tích 2.016m² (trong đó có: 300m² đất thổ cư, 1.716m² đất rau màu). Một phần khu đất nêu trên nằm trong 02 dự án đã được Ủy ban nhân dân thành phố T thực hiện thu hồi đất với tổng diện tích 421,9m² và bồi thường, hỗ trợ với tổng số tiền 2.870.002.900 đồng, cụ thể như sau:
1. Dự án Đường T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương:
Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố đã tiến hành đo đạc, kiểm kê hiện trạng đất và tài sản trên đất tại Biên bản kiểm kê số 29T/BBĐĐKĐ ngày 24/7/2017 và lập sơ đồ thu hồi đất, áp giá bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại bảng áp giá số 29T/PA-TVO ngày 07/11/2017 đối với trường hợp ông Vũ Hoàng G.
Ngày 12/12/2017, Ủy ban nhân dân thành phố T ban hành Quy định số 6789/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Vũ Hoàng G tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (trong đó thu hồi một phần Thửa 01, tờ bản đồ số 54-1 tại phường P, diện tích 319,4m² đất rau màu Chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1044QSDĐ/PH ngày 28/10/1998 do UBND thị xã (nay là thành phố) Thủ Dầu M đã cấp cho ông Vũ Hoàng G). Đồng thời, Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Vũ Hoàng G tại Quyết định số 6701/QĐ-UB ngày 12/12/2017, với số tiền: 1.916.791.900 đồng (Một tỷ chín trăm mười sáu triệu bảy trăm chín mươi mốt ngàn chín trăm đồng). Căn cứ các quyết định nêu trên, Trung tâm đã thực hiện
chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho ông Vũ Hoàng G bằng hình thức tiền mặt theo phiếu 528 ngày 19/09/2018 và ông Vũ Hoàng G đã nhận đủ số tiền bồi trên theo giấy cam kết ngày 19/9/2018".
Như vậy, theo hồ sơ bồi thường thì chủ thể được Nhà nước bồi thường khoản tiền 1.916.791.900 đồng là ông Vũ Hoàng G. Ông Vũ Hoàng G là chủ sở hữu khoản tiền 1.916.791.900 đồng nên chỉ có ông G hoặc người đại diện hợp pháp của ông G mới được quyền nhận khoản tiền này.
Bà N và ông G đều thống nhất xác nhận khoản tiền 1.548.988.000 đồng thuộc khoản tiền 1.916.791.900 đồng. Tại Giấy biên nhận ngày 19/9/2018 thể hiện nội dung: “Tôi Vũ Thị Thúy N, tôi có quản lý số tiền 1.698.988.000 đồng tiền bồi thường đất đường T”. Sau đó bà N chỉ trả cho ông G 03 lần với tổng số tiền 150.000.000 đồng, còn giữ số tiền 1.548.988.900 đồng. Nay ông G đòi khoản tiền còn lại là 1.548.988.000 đồng (tính tròn số) thì bà N có trách nhiệm trả lại cho ông G khoản tiền này.
Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà N trả lại cho ông G khoản tiền 1.548.988.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Việc bà N cho rằng số tiền 1.548.988.000 đồng là tiền của gia tộc họ V không phải của cá nhân ông G thì bà có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác (nếu có yêu cầu).
[2.1.2]. Về yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N trả tiền lãi tạm tính từ ngày 01/01/2019 đến ngày 17/01/2025 với lãi suất 10%/năm với số tiền là 936.607.265 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vũ Hoàng G tự nguyện rút lại yêu cầu buộc bà N trả toàn bộ số tiền 936.607.265 đồng, xét thấy đây là sự tự nguyện của ông G và có lợi cho bà N nên Hội đồng xét xử chấp nhận và sửa án sơ thẩm về nội dung này.
[2.1.3].Về yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Hoàng G bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044 QSDĐ/PH do UBND thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do UBND thị xã T cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990:
Căn cứ hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, các bên đều thừa nhận bà N hiện đang giữ bản chính 02 giấy chứng nhận nói trên. Trước đó, ông G đã đưa bà N để bà N thực hiện giúp các thủ tục giấy tờ, nay việc đã xong, ông G yêu cầu bà N trả lại bản chính các giấy chứng nhận trên thì bà N phải có trách nhiệm trả lại cho ông G.
Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của ông G là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[2.1.4] Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N trao trả
cho gia đình ông G quyển Nhật ký chi tiêu của ông Nguyễn Trí D để lại do nguyên đơn xin rút yêu cầu này.
[2.2].Đối với yêu cầu phản tố của bà Vũ Thị Thúy N.
[2.2.1] Về yêu cầu buộc ông G và bà T và bà H trả cho bà N số tiền 150.000.000 đồng:
Xét tại mục [2.1.1] đã phân tích, khoản tiền 150.000.000 đồng này là một phần của khoản tiền 1.698.988.900 đồng thuộc sở hữu của ông G, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả lại số tiền 1.548.988.000 đồng sau khi đã cấn trừ 150.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu phản tố của bà N không có cơ sở để được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo.
[2.2.2].Về yêu cầu buộc bà L, bà H, ông Q, bà T1, ông N1, ông G, bà T thanh toán cho bà N số tiền nợ gốc: 632.000.000 đồng, tiền nợ lãi: 360.000.000 đồng.
Bà N yêu cầu bà Đào Thị L, bà Vũ Thị Minh H, ông Vũ Minh Q, ông Vũ Hoàng G, bà Vũ Thị Minh T1, ông Vũ Thì N1 trả cho bị đơn số tiền tạm tính 632.000.000 đồng (trong đó gồm 332.000.000 đồng là tiền chi phí giải quyết giấy tờ liên quan đến tài sản ông D để lại cho anh, em, con cháu tạm tính từ năm 2008 đến 2019; Và 300.000.000 đồng là tiền chi phí tạm tính từ năm 2019 đến tháng 11/2024 gồm tiền đi lại, ăn ở, in ấn, photo,... phục vụ cho việc Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh H, Bình Dương, Công an các tỉnh liên quan đến nguồn gốc tài sản ông D để lại), tiền lãi tạm tính là 360.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N xác định khoản tiền 632.000.000 đồng là chi phí bà N bỏ ra để thực hiện theo nguyện vọng của cha, chú trong gia tộc để chứng minh phần đất ông Vũ Hoàng G và cha ông G là ông Vũ Trí D2 đứng tên là đất gia tộc đưa tiền mua, nay gia đình ông G phải chịu trách nhiệm trả cho bà khoản tiền này và tiền nợ lãi: 360.000.000 đồng. Những công việc này là bà tự làm vì quyền lợi của gia tộc, không phải do ông G yêu cầu. Các khoản chi trên tuy không có hóa đơn chứng từ để chứng minh nhưng bà đã có ghi chép lại và lưu các thư mời, công văn của các cơ quan có thẩm quyền làm việc với bà về các nội dung bà khiếu nại. Không phải là chi phí, thù lao liên quan đến khoản tiền ông G được bồi thường.
Xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ bà N cung cấp tại phiên tòa phúc thẩm cùng lời khai của các bên đương sự tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy bà N không chứng minh được mục đích công việc mà bà làm không vì ông G, cũng không có chứng cứ thuyết phục chứng minh cho yêu cầu của mình. Mặt khác, ông G, bà H, bà L cùng anh em khác của ông G cũng phủ nhận toàn bộ nội dung công việc mà bà N đã thực hiện nên không có cơ sở để được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo. Do đó, yêu cầu phản tố này của bà N không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở.
[3]. Về Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ-ADBPKCTT ngày 28/10/2024 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2024/QĐ - ADBPKCTT ngày 28/10/2024:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định do bị đơn có nghĩa vụ trả tiền nên cần duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ - ADBPKCTT ngày 28/10/2024 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2024/QĐ - ADBPKCTT ngày 28/10/2024 để đảm bảo thi hành án đồng thời hủy bỏ việc buộc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4]. Các nội dung khác Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật nên giữ nguyên.
[5]. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc kháng cáo là có cơ sở, Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ kháng cáo của bị đơn.
Sửa bản án sơ thẩm do có tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm.
[6].Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thống nhất với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7].Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn giảm tạm ứng án phí, án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bà N.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp và quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Thúy N.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 21/2025/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Hoàng G đối với bà Vũ Thị Thúy N:
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Hoàng G số tiền 1.548.988.000 (một tỉ năm trăm bốn mươi tám triệu chín trăm tám mươi tám nghìn) đồng.
Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Buộc bà Vũ Thị Thúy N phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Vũ Hoàng G bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M705606 vào sổ số 1044QSDĐ/PH do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Vũ Hoàng G ngày 28/10/1998 và bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 17 PH/GCN-SB do Ủy ban nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương cấp cho ông Nguyễn Trí D ngày 20/7/1990.
Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền không cưỡng chế thu hồi được 02 (hai) bản chính giấy chứng nhận nêu trên thì ông Vũ Hoàng G được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để cấp mới lại theo quy định, đồng thời 02 (hai) bản chính giấy chứng nhận trên không còn giá trị sử dụng.
- Duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 11/2024/QĐ ADBPKCTT ngày 28/10/2024 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2024/QĐ - ADBPKCTT ngày 28/10/2024 để bảo đảm thi hành án.
- Hủy bỏ Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 06/2024/QĐ- BPBĐ ngày 28/10/2024. Ông Vũ Hoàng G nhận lại số tiền 310.000.000 (Ba trăm mười triệu) đồng trong tài khoản số 0784222574 tại Ngân hàng TMCP V2- Chi nhánh S1- Phòng G2.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu buộc bà Vũ Thị Thúy N trao trả cho gia đình ông G quyển Nhật ký chi tiêu của ông Nguyễn Trí D để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bà N về việc buộc ông G, bà T và bà H trả lại cho bà N tổng số tiền 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng và yêu cầu buộc bà L, bà H, ông Q, bà T1, ông N1, ông G, bà T thanh toán cho bà N số tiền nợ gốc: 632.000.000 (sáu trăm ba mươi hai triệu) đồng, tiền nợ lãi: 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu) đồng
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Ông Vũ Hoàng G được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
4.2. Bà Vũ Thị Thúy N được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Vũ Thị Thúy N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổsung năm 2014).
6.Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỎI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Bảo Nguyên |
Bản án số 665/2025/DS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản
- Số bản án: 665/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đòi tài sản
