TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 665/2024/HS-ST
Ngày: 09/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Mai
- Bà Nguyễn Thị Kim Yến
- - Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 671/2024/HSST ngày 14/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 675/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Chu Văn P, sinh năm 1981, tại Hà Tĩnh.
Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
- - Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Chỗ ở: 56/13, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: Lớp 05/12 - Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Chu Văn H, sinh năm 1947 (còn sống); Họ tên mẹ: Lê Thị H1, sinh năm 1953 (còn sống); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị bắt và tạm giữ từ ngày 22/8/2024, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay.
- - Bị hại: Công ty L.
- Địa chỉ: đường A, Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1972.
- Địa chỉ: A, tổ G, Khu phố T, phường L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1964.
Địa chỉ: T, Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Tại phiên tòa bị cáo có mặt; đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt; Người làm chứng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chu Văn P không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài, từ ngày 13/8/2024 đến ngày 16/8/2024, P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên L; địa chỉ đường A, Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể như sau:
- * Lần thứ nhất:
- Khoảng 22 giờ ngày 13/8/2024, P mang theo 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen đi bộ đến Công ty L để trộm cắp tài sản. P trèo qua tường rào của Công ty L rồi leo lên mái tôn của nhà xưởng và chui vào cửa sổ để đột nhập vào xưởng. Khi vào được phía trong xưởng, P lấy 01 cuộn dây cáp đồng trần ký hiệu CC50mm2 khối lượng 21kg và 01 cuộn dây cáp đồng trần CC70mm2 khối lượng 41,6kg đem ra khỏi xưởng theo lối cửa và cất giấu sau trạm điện cạnh hàng rào của Công ty L. Sau đó Phú đi trở lại xưởng dùng kìm mở 02 ốc vít gắn trên tấm tôn vách xưởng để lần sau trở lại vào lấy tài sản. Sau khi cất giấu tài sản trộm cắp, P đi về phòng trọ địa chỉ 56/13, khu phố C, phường A, thành phố B.
- Đến khoảng 04 giờ ngày 14/8/2024, P điều khiển xe mô tô biển số 59E1-401.72 đến chỗ cất giấu tài sản trộm cắp trước đó, chở 02 cuộn cáp đồng trên đem bán được số tiền 11.000.000₫ (Mười một triệu đồng). P sử dụng số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) mua 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95 màu đen, số tiền còn lại P tiêu xài cá nhân hết.
- * Lần thứ hai:
- Với cách thức như trên, khoảng 01 giờ ngày 16/8/2024, P tiếp tục đến Công ty L dùng tay kéo tấm tôn đã tháo gỡ vít trước đó đột nhập vào trong xưởng. P lấy 01 cuộn dây cáp đồng trần ký hiệu CC70mm2 khối lượng 47,9kg đem ra khỏi xưởng, cất giấu sau trạm điện cạnh hàng rào của Công ty L. Sau đó P đi về phòng trọ. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày, P điều khiển xe mô tô biển số 59E1-401.72 đến chở cuộn cáp đồng trên đem bán được số tiền 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết.
- Đến khoảng 01 giờ ngày 21/8/2024, P tiếp tục đột nhập vào xưởng của Công ty L để trộm cắp tài sản, thì bị lực lượng bảo vệ của Công ty L phát hiện bắt giữ, trình báo Đồn Công an Khu công nghiệp B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Tại Cơ quan điều tra, Chu Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên;
Vật chứng thu giữ:
- - 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen dài 16,5cm, Chu Văn P dùng để trộm cắp tài sản.
- - 01 xe mô tô biển số 59E1-401.72. Kết quả xác minh xe mô tô trên do bà Nguyễn Thị Thanh N (sinh năm 1967, nơi cư trú: 8 P, phường G, quận P, thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên đăng ký. Bà nga đã bán xe cho người khác (không rõ nhân thân) vào năm 2015. Tháng 5/2024, Chu Văn P mua lại của một người đàn ông (không rõ lai lịch) và dùng để chở các cuộn dây cáp đồng đi tiêu thụ.
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, P dùng số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn đồng) từ việc bán tài sản trộm cắp để mua.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 áo sơ mi sọc kẻ trắng hồng là tài sản của P.
*Tại Bản kết luận định giá tài sản số 276/KL ngày 26/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:
- - 01 cuộn dây cáp đồng trần CC 50mm2 khối lượng 21kg trị giá 7.909.734₫ (Bảy triệu chín trăm không chín nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng).
- - 01 cuộn dây cáp đồng trần CC 70mm2 khối lượng 41,6kg trị giá 15.668.931 (Mười lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng).
- - 01 cuộn dây cáp đồng trần CC 70mm2 khối lượng 47,9kg trị giá 18.041.870₫ (Mười tám triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi đồng).
- Tổng trị giá tài sản do P trộm cắp là 41.620.535₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
Trách nhiệm dân sự:
Công ty L yêu cầu Chu Văn P bồi thường số tiền 41.620.535₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng) hiện P chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 647/CT-VKSBH ngày 05/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Chu Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
đồng thời đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo mức án từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen, dài 16,5cm.
- + Tiếp tục tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 59E1-401.72 (số máy F4CB107114; số khung RLSBF451000107104); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, số IMEI 860541056635172, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu trắng, số IMEI 864241034457277, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, số IMEI 864694051151046, 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 áo sơ mi sọc kẻ trắng hồng để đảm bảo cho việc thi hành án.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 589 Bộ luật Dân sự tuyên buộc Chu Văn P bồi thường cho Công ty L theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí hình sự và dân sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thống nhất với nội dung truy tố về tội danh của bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa; Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái với quy định của pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện bị hại tại phiên tòa trình bày ý kiến:
- - Về phần dân sự: Yêu cầu bị cáo Chu Văn P phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty L số tiền 41.620.535₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng) vì có đủ căn cứ để chứng minh.
- - Về phần hình phạt đối với bị cáo: Ông Trần Văn T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt theo quy định của pháp luật và xử phạt bị cáo theo hướng giảm nhẹ một phần so với mức án mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện theo ủy quyền của bị hại và người làm chứng;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về tố tụng:
- - Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Người làm chứng bà Nguyễn Thị Ú vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, tuy nhiên lời khai của bà Ú; các biên bản đối chất giữa bà Ú với bị cáo đã có đầy đủ tại hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của bà Ú không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Tòa án căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt người làm chứng nói trên.
[2]. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
Xét thấy, tại phiên tòa hôm nay bị cáo Chu Văn P khai nhận từ ngày 13/8/2024 đến ngày 16/8/2024, Chu Văn P đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại Công ty L, địa chỉ đường A, Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, cụ thể:
- Vào khoảng 22 giờ ngày 13/8/2024, P trộm cắp 01 cuộn dây cáp đồng trần ký hiệu CC50mm2 khối lượng 21kg, trị giá 7.909.734₫ (Bảy triệu chín trăm không chín nghìn bảy trăm ba mươi bốn đồng) và 01 cuộn dây cáp đồng trần ký hiệu CC70mm2 khối lượng 41,6kg, trị giá 15.668.931 (Mười lăm triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng) của Công ty L.
- Vào khoảng 01 giờ ngày 16/8/2024, P tiếp tục trộm cắp 01 cuộn dây cáp đồng trần ký hiệu CC70mm2 khối lượng 47,9kg, trị giá 18.041.870₫ (Mười tám triệu không trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm bảy mươi đồng) của Công ty L.
- Đến khoảng 01 giờ ngày 21/8/2024, P tiếp tục đột nhập vào xưởng của Công ty L để trộm cắp tài sản, nhưng chưa trộm cắp được thì bị lực lượng bảo vệ của Công ty L phát hiện bắt giữ, trình báo Đồn Công an Khu công nghiệp B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai phía bị hại, người làm chứng.
- Theo kết luận định giá thì tổng trị giá tài sản do P chiếm đoạt hai lần là 41.620.535₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
- Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận hành vi của Chu Văn P đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt như nội dung truy tố tại Bản cáo trạng số 647/CT-VKSBH ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật; tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[2]. Về lỗi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong
quần chúng nhân dân. Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành, có sức khỏe, có khả năng lao động; bản thân cũng đủ khả năng để tìm cho mình có một công việc nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình nhưng bị cáo lại lựa chọn con đường được hưởng thụ nhanh, lười lao động, muốn có tiền xài bằng việc đi chiếm đoạt tài sản thuộc sỡ hữu của người khác. Mặc dù, bị cáo nhận thức được đó là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, thấy trước được hậu quả nhưng vẫn mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người bị hại để lấy tiền tiêu xài; nếu không bị phát hiện thì hành vi của bị cáo không chỉ dừng lại ở 02 lần; điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật nơi các bị cáo, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp. Từ đó, xét thấy việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cũng như cần có một mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chiếm đoạt tài sản bị hại 02 lần nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội hai lần trở lên”, được quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, chưa tiền án, tiền sự; nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điểu 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điều luật đã truy tố nêu trên để xử phạt bị cáo là phù hợp, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Văn T – là đại diện theo pháp luật của bị hại, tại phiên tòa yêu cầu bị cáo Chu Văn P phải bồi thường toàn bộ tài sản chiếm đoạt đã được định giá với số tiền là 41.620.535đ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng). Quá trình điều tra, bị cáo cũng chưa bồi thường cho bị hại một khoản tiền nào, nên việc bị cáo Chu Văn P phải có nghĩa vụ bồi thường số tiền đã chiếm đoạt theo yêu cầu của bị hại nói trên là hoàn toàn có căn cứ để chấp nhận.
[7]. Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen, dài 16,5cm là phương tiện bị cáo P dùng vào việc phạm tội.
- + 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 áo sơ mi sọc kẻ trắng hồng bị cáo mặc khi thực hiện tội phạm không còn giá trị nên cần tuyên tiêu hủy.
- Tịch thu sung công:
- + 01 xe mô tô biển số 59E1-401.72 (số máy F4CB107114; số khung RLSBF451000107104).
- + 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, số IMEI 860541056635172.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu trắng, số IMEI 864241034457277.
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, số IMEI 864694051151046
Là những tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội và có được từ trộm cắp tài sản mà có.
[8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Chu Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về áp dụng điều luật:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng Điều 30; Điều 106; Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 589 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- - Về mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Chu Văn P: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc các bị cáo Chu Văn P phải bồi thường cho Công ty L số tiền đã chiếm đoạt là 41.620.535đ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 áo sơ mi sọc kẻ trắng hồng bị cáo P sử dụng khi thực hiện tội phạm không còn giá trị
- + Tịch thu sung công: 01 xe mô tô biển số 59E1-401.72 (số máy F4CB107114; số khung RLSBF4510D0107104); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, số IMEI 860541056635172, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu trắng, số IMEI 864241034457277, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, số IMEI 864694051151046.
- - Về án phí:
- Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.081.027₫ (Hai triệu không trăm tám mươi mốt ngàn không trăjm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo:
- Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đồng Thị Hồng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đồng Thị Hồng
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ..... giờ ..... ngày ..... tháng ..... năm 2024;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 671/2024/HSST ngày 14/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 675/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Chu Văn P, sinh năm 1981, tại Hà Tĩnh.
Tên gọi khác: Không.Giới tính: Nam.
Nơi cư trú:
- - Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.
- - Chỗ ở: 56/13, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.
- Trình độ học vấn: Lớp 05/12 - Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: Chu Văn H, sinh năm 1947 (còn sống); Họ tên mẹ: Lê Thị H1, sinh năm 1953 (còn sống); Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ tư và chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị bắt và tạm giữ từ ngày 22/8/2024, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B cho đến nay.
- - Bị hại: Công ty L.
- Địa chỉ: đường A, Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Trần Văn T, sinh năm 1972.
- Địa chỉ: A, tổ G, Khu phố T, phường L, Thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- - Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1964.
- Địa chỉ: T, Khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Tại phiên tòa bị cáo có mặt; đại diện theo ủy quyền của Bị hại có mặt; Người làm chứng vắng mặt không có lý do).
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- - Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Chu Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Biểu quyết 3/3 nhất trí.
- - Về áp dụng điều luật:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Áp dụng Điều 30; Điều 106; Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Biểu quyết 3/3 nhất trí.
- - Về mức hình phạt:
- Về mức hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Chu Văn P: ………………năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2024.
- Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- - Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc các bị cáo Chu Văn P phải bồi thường cho Công ty L số tiền đã chiếm đoạt là 41.620.535₫ (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi nghìn năm trăm ba mươi lăm đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- - Về xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 kìm bằng kim loại, cán nhựa màu xanh đen.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 áo thun ngắn tay màu trắng và 01 áo sơ mi sọc kẻ trắng hồng bị cáo P sử dụng khi thực hiện tội phạm không còn giá trị
- + Tịch thu sung công: 01 xe mô tô biển số 59E1-401.72 (số máy F4CB107114; số khung RLSBF4510D0107104); 01 điện thoại di động hiệu OPPO A95 màu đen, số IMEI 860541056635172, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A39 màu trắng, số IMEI 864241034457277, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Forme màu đen, số IMEI 864694051151046.
- Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- - Về án phí:
- Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.081.027₫ (Hai triệu không trăm tám mươi mốt ngàn không trăjm hai mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
- - Về quyền kháng cáo:
- Các bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc vào hồi ..... giờ ..... phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dânThẩm phán – chủ tọa phiên tòa
Đồng Thị Hồng
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA Số:11/2018/HSST-QĐ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn C1 và bà Nguyễn Thị N1
Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
Xét thấy:
- - Tại phiên tòa, người bị hại Bùi Quốc T1 và người làm chứng Phạm quốc C2 đều khai khi quay lại hiện trường để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai người khác trên 1 chiếc xe máy. Lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. Mặt khác anh T1 và anh C2 cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa được đối chất với nhau.
- - Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ thời điềm bán, khu vực bán và người mua cũng như khả năng thu hồi tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật chứng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả hồ sơ để làm rõ.
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn P1 (Tên gọi khác: H2); Sinh năm 1989;
Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
1. Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những người làm chứng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đồng phạm hay không?
2. Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 665/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 665/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn Phú về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
