Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 664/2024/DSST.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024.

“V/v Tranh chấp hợp

đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán -Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hùng Vương.

Các hội thẩm nhân dân.

1. Ông Nguyễn Văn Vân.

2. Ông Lê Văn Rồi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 30/8/2024 và ngày 06/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 260/2020/TLST-DS ngày 09/7/2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 423/2024/QĐST-DS ngày 17 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 447/2024/QĐST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.

Địa chỉ: B - 203 đường C, phường D, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có: Ông Võ Hoàng K, sinh năm: 1996.

Địa chỉ: Lầu F, số D L, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1978; (vắng mặt)

Thường trú: tổ A, khu phố B, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Lê Thị V, sinh năm: 1946;

Địa chỉ: số F đường số E, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của bà V có ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1987; (vắng mặt)

Địa chỉ: số F đường số E, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1987; (vắng mặt)

3/ Bà Dương Thị T1, sinh năm: 1991; (vắng mặt)

Cùng ngụ địa chỉ: số F đường số E, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

4/ Trẻ Huỳnh Dương Kiều P, sinh ngày 04/7/2011;

5/ Trẻ Huỳnh Dương Kiều T2, sinh ngày 27/01/2016;

Người đại diện theo pháp luật của trẻ P và trẻ T2 có bà Dương Thị T1, ông Huỳnh Văn T.

Cùng ngụ địa chỉ: số F đường số E, ấp L, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

6/ Ông Phan Xuân T3, sinh năm: 1972; (vắng mặt)

7/ Bà Nguyễn Thị Phi V1, sinh năm: 1976; (vắng mặt)

Cùng ngụ địa chỉ: 1 Lô B, Tầng B, Chung cư A, đường C, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

8/ Văn phòng C. (vắng mặt)

Đại diện theo ủy quyền có ông Trịnh Huỳnh Liêm K1 – Công chứng viên.

Địa chỉ: số I P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

9/ Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2). (vắng mặt)

Địa chỉ: số D N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N trình bày:

Bà Lê Thị H đã ký kết Hợp đồng tín dụng từng lần: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017, Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 và Giấy nhận nợ số: 02/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 để vay số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) tại Ngân hàng TMCP N, cụ thể như sau:

Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017: Số tiền nhận nợ: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 08/11/2017 đến ngày 08/11/2018); Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; Lãi suất cho vay: 10,5 %/năm. Lãi suất do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Lãi suất điều chỉnh bằng (=) lãi suất cơ sở (%) cộng (+) 3,8%/năm, (trong đó: Lãi suất cơ sở (%/năm) là lãi suất huy động tiết kiệm thông thường dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của loại tiền tương ứng với loại tiền cho vay của Ngân hàng N công bố và có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 08/02/2018.

Giấy nhận nợ số: 02/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017: Số tiền nhận nợ: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Thời hạn vay: 12 tháng (từ ngày 08/11/2017 đến 08/11/2018); Mục đích vay: Sửa chữa nhà; Lãi suất cho vay: 10,5 %/năm. Lãi suất do Ngân hàng N quyết định điều chỉnh theo định kỳ 03 tháng/lần với mức lãi suất được tính theo công thức: Lãi suất điều chỉnh bằng (=) lãi suất cơ sở (%) cộng (+) 4,0%/năm, (trong đó: Lãi suất cơ sở (%/năm) là lãi suất huy động tiết kiệm thông thường dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 13 tháng lãnh lãi cuối kỳ của loại tiền tương ứng với loại tiền cho vay của Ngân hàng N công bố và có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 08/02/2018.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản: 0191/2017/918-BĐ ký ngày 07/11/2017 tại Văn Phòng C3, Thành phố Hồ Chí Minh là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện tích đất thế chấp 267,6 m²;

hình thức sử dụng: riêng: 267,6 m², chung: không m²; mục đích sử dụng: Đất ở: 186,0 m², Đất trồng cây lâu năm: 81,6 m²; thời hạn sử dụng: Đất ở: Lâu dài, Đất trồng cây lâu năm: 2046; nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất, địa chỉ tại xã T, huyện C, TP . Hồ Chí Minh. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857 do UBND huyện C cấp ngày 16/06/2011, cập nhật biến động thay đổi chủ sở hữu cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017.

Tạm tính đến ngày 30/08/2024, bà Lê Thị H đã thanh toán cho N1 tổng cộng: 94.371.987 đồng, trong đó: 0 đồng nợ gốc và 94.371.987 đồng nợ lãi. Ngày thanh toán cuối cùng: 15/10/2018, số tiền thanh toán: 13.948 đồng nợ lãi.

Dư nợ của khoản vay tạm tính đến ngày 30/08/2024 là: 2.092.441.861 đồng (Hai tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là : 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng.

Ngày 10/11/2017, bà Lê Thị H tiếp tục ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vồn, Hợp đồng tín dụng kiêm Hợp đồng sử dụng thẻ số 0448/2017/918-CV với Ngân hàng TMCP N, hạn mức tín dụng thẻ: 70.000.000 đồng. Dư nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 30/08/2024 là: 243.842.579 đồng (Hai trăm bốn ba triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng.

Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ trả nợ bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện để bà Lê Thị H trả nợ, nhưng bà Lê Thị H vẫn không thực hiện. Gần đây, bà Lê Thị H có biểu hiện bất hợp tác, tìm cách lẩn tránh và không thiện chí giải quyết nợ vay với Ngân hàng.

Bà Lê Thị H đã vi phạm các điều khoản cam kết trong hợp đồng tín dụng, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP N. Chính vì những lý do trên, với tư cách là người khởi kiện, Ngân hàng TMCP N kính đề nghị Quý Tòa xem xét, thụ lý đơn khởi kiện này để giải quyết các yêu cầu đối với người bị kiện như sau:

Tuyên buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/08/2024 là: 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng.

Trong thời gian chưa thanh toán nợ, bà Lê Thị H vẫn phải chịu lãi suất quá hạn, lãi chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

Khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, bà Lê Thị H vẫn không trả nợ theo hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản đã ký, thì Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện tích đất thế chấp 267,6 m²; hình thức sử dụng: riêng: 267,6 m², chung: không m²; mục đích sử dụng: Đất ở: 186,0 m², Đất trồng cây lâu năm: 81,6 m²; thời hạn sử dụng: Đất ở: Lâu dài, Đất trồng cây lâu năm: 2046; nguồn gốc sử dụng: Công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857 do UBND huyện C cấp ngày 16/06/2011, cập nhật biến động thay đổi chủ sở hữu cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017 để thu hồi nợ theo đúng quy định trong hợp đồng thế chấp tài sản cũng như quy định của pháp luật. Nếu sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiếp tục kê biên phát mãi các tài sản khác của bà Lê Thị H đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Yêu cầu bà H có trách nhiệm hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã được N1 tạm ứng tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, bị đơn bà Lê Thị H trình bày:

Trước đây bà có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP N. Thời điểm ký kết hợp đồng, bà có ghi tên hợp đồng Công ty TNHH N2. Tuy nhiên Công ty của bà không còn hoạt động, bà chưa làm thủ tục giải thể. Khi vay bà có thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh. Khoản vay do bà không thể chi trả nên bà đồng ý phát mãi tài sản trên. Bà không biết bà V là ai nên bà không đồng ý với tất cả những yêu cầu của bà V. Bà đã nhiều lần liên hện với cả gia đình bà V để cùng giải quyết sổ đỏ tại Ngân hàng, nhưng cả gia đình bà V không có trách nhiệm hợp tác với bà để trả tiền vào Ngân hàng lấy giấy tờ để hoàn trả lại cho bà V. Nhưng gia đình, các con bà V không hợp tác. Bà đã nói nhiều lần với bà V, nếu không giải quyết với bà thì sau này Ngân hàng có lấy nhà thì bà không chịu trách nhiệm vì bà đã thương thượng nhiều lần. Trong trường hợp bên Ngân hàng phát mãi tài sản thì tự gia đình giải quyết với Ngân hàng chứ bà không can thiệp và không có ý kiến gì với Ngân hàng. Bà và ông T3 thực chất là ký mua bán đất, lúc mua bà có biết có căn nhà trên đất. Bà đã trình bày đầy đủ ý kiến bà với Ngân hàng và Tòa án tự giải quyết với gia đình bà V. Vì sức khỏe và công việc bà không đi lại được mong Tòa án đừng mời bà đến Tòa nữa.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Lê Thị V trình bày:

Lúc trước bà có vay tiền của ông Phan Xuân T3, sinh năm: 1972; Địa chỉ: 1 Lô B, Tầng B, Chung cư A, đường C, phường N, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), để đảm bảo cho việc vay tiền bà có ký chuyển nhượng cho ông Phan Xuân T3 phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, tiền lãi lúc thì bà chuyển cho ông T3, lúc thì bà Lê Thị H ghé lấy. Bà vẫn trả lãi đều đặn cho ông T3, bà H có khi là bà trả, có khi bà nhờ con bà chuyển trả, đến khoảng năm 2018 thì bà không trả nữa do hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà thường xuyên bệnh tật. Bản chất của hợp đồng là hợp đồng vay tài sản, không phải hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì thực tế bà vẫn còn đang ở trên đất từ đó cho đến nay.

Nay bà phát hiện ông T3 chuyển nhượng lại phần đất trên cho bà H và bà H sau đó thế chấp phần đất của bà để vay tiền ở Ngân hàng TMCP N. Nay bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh giải quyết những yêu cầu sau:

  • + Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà và ông Phan Xuân T3 đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu.
  • + Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông T3 và bà Lê Thị H đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu.
  • + Hủy cập nhật biến động đất đai đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh từ bà sang ông T3 và từ ông T3 sang bà H.
  • + Bà sẽ hoàn trả lại cho ông T3 số tiền mà bà đã vay là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh.

Ngày 07/5/2021, bà khai trên phần đất thuộc thửa số 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00857 do UBND huyện C cấp ngày 16/6/2011 có những người sau đang sinh sống: Bà Lê Thị V và ông Huỳnh Văn T.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Huỳnh Văn T trình bày:

Bà Lê Thị V, sinh năm 1946; Con Huỳnh Văn T, sinh năm 1987; Cháu Huỳnh Dương Kiều P, sinh năm 2011; Cháu Huỳnh Dương Kiều T2, sinh năm 2016. Trước gia đình ông có vay ông T3 400.000.000 đồng và ông T3 đã thế chấp Ngân hàng. Nay ông làm đơn này xin Tòa giải quyết thương lượng cho gia đình ông chuộc lại căn nhà và quyền sử dụng đất.

Ngày 17/5/2022, ông T trình bày bổ sung: ông Huỳnh Văn T con của bà Lê Thị V đang ở cùng nhà số nhà S đường số E, tổ A, ấp L, xã T, huyện C. Mẹ Lê Thị V có vay tiền và thế chấp căn nhà cho ông Phan Xuân T3 với số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và ông T3 đã sang nhượng cho bà Lê Thị H và bà H đã đem nhà thế chấp cho Ngân hàng. Ông T3 đã sang nhượng cho bà H mang không báo cho gia đình mong Ngân hàng và Tòa án giải quyết thương lượng cho gia đình ông chuộc lại căn nhà. Mong Tòa án cho mẹ ông vắng mặt vì tuổi già và vợ ông đang làm công nhân, ông sẽ đại diện cho gia đình giải quyết vấn đề.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Dương Thị T1 trình bày: Bà hoàn toàn đồng ý với ý kiến của chồng bà, ý kiến của chồng bà cũng là ý kiến của bà.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Văn Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày:

Nguyên trước đây ngày 27/4/2010, Phòng C4 có tiếp nhận yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) được giao kết giữa bên chuyển nhượng bà Lê Thị V, bên nhận chuyển nhượng là ông Phan Xuân T3. Hồ sơ yêu cầu công chứng do các bên xuất trình gồm có: Phiếu yêu cầu công chứng; Giấy tờ tùy thân: Chứng minh nhân dân bà Lê Thị V, ông Phan Xuân T3, chứng minh nhân dân người làm chứng là ông Trần Văn P1; Giấy tờ liên quan tài sản giao dịch: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH956169 (số vào sổ: H00125/20) do UBND huyện C cấp ngày 12/3/2007; Giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch: Trích lục tờ khai nộp tiền

trước bạ ngày 15/10/2009 của Chi cục Thuế huyện C, sổ hộ khẩu của bà Lê Thị V, ông Phan Xuân T3, các giấy tờ khác có liên quan.

Căn cứ vào các giấy tờ do các bên xuất trình nêu trên, Công chứng viên Văn Thị Mỹ Đ của Phòng C4 đã tiếp nhận hồ sơ, nhận thấy hồ sơ là đầy đủ, hợp lệ và đã thực hiện việc chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định.

Tại thời điểm công chứng, Phòng C4 không nhận được bất kỳ tranh chấp hay khiếu nại, ngăn chặn liên quan đến tài sản chuyển nhượng.

Trong quá trình giải quyết vụ kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Phan Xuân T3 trình bày:

Ông và bà Lê Thị V có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đây là hợp đồng mua bán đất không phải hợp đồng vay tiền như bà V trình bày. Tại văn phòng Công chứng sau khi hai bên ký kết, ông đã giao hết số tiền cho bà V, do quá lâu ông không nhớ số tiền cụ thể là bao nhiêu. Lúc mua đất của bà V ông có xuống xem đất, hiện trạng đất có thấy 01 căn nhà trên đất, biết bà V đang sinh sống trong nhà nhưng không biết bà sống chung với ai. Ông hoàn toàn không có nhận tiền lãi nào như bà V trình bày. Sau khi được nhà nước cập nhật sở hữu, ông đã nhờ môi giới bán thửa đất nêu trên cho người khác, cụ thể bán người nào ông không nhớ tên. Người mua đất đã giao hết toàn bộ số tiền mua đất cho ông và ông cũng đã hoàn tất sang tên cho người mua. Ông xác định là khi mua là mua cả nhà và đất của bà V. Việc giao dịch người mua đất của ông sau này, ông hoàn toàn không biết. Ông không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng được ký kết giữa ông và bà V vì hợp đồng chuyển nhượng của ông hoàn toàn hợp pháp. Ông không đồng ý hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và bà Lê Thị H vì nó hợp pháp. Ông không đồng ý hủy cập nhật biến động sang tên ông và từ tên ông sang tên bà H do đây là thủ tục đúng quy đúng quy định nhà nước. Ông không đồng ý nhận lại 400.000.000 đồng từ bà V vì đây không phải hợp đồng vay.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N với bà Lê Thị H, ông không liên quan gì, ông không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án, ông không yêu cầu giải thích hậu quả hợp đồng vô hiệu.

Tại phiên tòa:

Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bị đơn, bà Lê Thị H. Yêu cầu bà H có trách nhiệm hoàn trả chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã được N1 tạm ứng tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, kiến nghị Thẩm phán xem xét khắc phục.
  • - Về nội dung: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung yêu cầu của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; tại khoản 2 Điều 133, khoản 1 Điều 408, các Điều: 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của khởi kiện của nguyên đơn; Buộc bà Lê Thị H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP N toàn bộ số nợ gốc và lãi vay theo hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký, tổng số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 là 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba

trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng; Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP N yêu cầu bà Lê Thị H thanh toán số tiền nợ theo hợp đồng tín dụng mà bà Lê Thị H đã ký với Ngân hàng TMCP N; Bị đơn bà Lê Thị H đang cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn, bà H; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà T1, Văn Phòng C đã có văn bản trình bày ý kiến và có đơn xin xét xử vắng mặt; Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2) có đơn xin xét xử vắng mặt; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông T đã có bản tự khai; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông T3, bà V1, ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T3, bà V1, ông T vẫn không đến Tòa án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H, bà V, ông T, bà T1, ông T3, bà V1, Văn Phòng C, Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2) và căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ mà phía nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp; chứng cứ mà Tòa thu thập được để giải quyết vụ kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 91; các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có cơ sở.

[2] Về nội dung:

Ngân hàng TMCP N yêu cầu bà Lê Thị H hoàn trả cho phía Ngân hàng số tiền mà bà H đã vay theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017; Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 và Giấy nhận nợ số: 02/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 tạm tính đến ngày 30/08/2024 là: 2.092.441.861 đồng (Hai tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Yêu cầu bà H phải trả cho phía Ngân hàng TMCP N tiền nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 30/08/2024 là: 243.842.579 đồng (Hai trăm bốn ba triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Tiền lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số: 0448/2017/918-CV, ngày 10/11/2017; Tổng cộng bà H phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 là 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng. Trả 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật; Yêu cầu bà H trả lãi suất quá hạn, lãi chậm trả lãi theo quy

định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 31/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.

Sau khi xem xét tất cả các chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến nội dung vụ án tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Bà H đã ký với Ngân hàng TMCP N hợp đồng tín dụng từng lần số: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017; Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 và Giấy nhận nợ số: 02/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số: 0448/2017/918-CV, ngày 10/11/2017. Để đảm bảo cho hai khoản vay trên, bà H đã ký với Ngân hàng TMCP N hợp đồng thế chấp số: 0191/2017/918-BĐ, ngày 07/11/2017 để thế chấp tài sản (quyền sử dụng đất) tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện tích đất thế chấp 267,6 m², địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857, ngày 16/06/2011 do UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3, cập nhật biến động trang 3 cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017; Việc ký hợp đồng vay giữa bà HNgân hàng TMCP N là tự nguyện; Bà H đã nhận tiền đủ vay nhưng không thực hiện nghĩa vụ của mình; Theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017; Giấy nhận nợ số: 01/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 và Giấy nhận nợ số: 02/GNN-0433/2017/918-CV ngày 08/11/2017 thì bà H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm đến ngày 30/08/2024 theo hợp đồng là: 2.092.441.861 đồng (Hai tỷ không trăm chín mươi hai triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc là : 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số: 0448/2017/918-CV, ngày 10/11/2017 thì bà H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm đến ngày 30/08/2024 theo hợp đồng là: 243.842.579 đồng (Hai trăm bốn ba triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn năm trăm bảy mươi chín đồng), trong đó: Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Tiền lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng. Tổng cộng bà H phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 đối với hai hợp đồng trên là 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N về việc yêu cầu bà H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 đối với hai hợp đồng tín dụng là 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng; Yêu cầu bà H phải trả lãi suất quá hạn, lãi chậm trả lãi theo quy định tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 31/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ là có cơ sở chấp nhận.

H đã chiếm hữu, sử dụng vốn vay của Ngân hàng TMCP N trong thời gian dài, không có thiện chí trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà Lê Thị H phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền trên 01 lần, ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật là phù hợp.

Căn cứ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) công chứng số: 010248, ngày 27/4/2010 của Phòng C4, giữa bà Lê Thị V và ông Phan Xuân T3, đối tượng chuyển nhượng là phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H00125/20, ngày 12/3/2007 do UBND huyện C cấp cho bà Lê Thị V; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) công chứng số: 010248, ngày 27/4/2010 của Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2), giữa ông Phan Xuân T3, bà Nguyễn Thị Phi V1 và bà Lê Thị H, đối tượng chuyển nhượng là phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00857, ngày 16/6/2011 của UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3; Hồ sơ thẩm định tài sản thế chấp ngày 03/11/2017; Kết quả trả lời xác minh của Công an xã T, huyện C; Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ và lời khai của các đương sự. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Trên phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, hiện trạng có 01 căn nhà, nhưng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại ghi không có tài sản gắn liền với đất; Bà V chưa bàn giao nhà đất trên cho ông T3 và ông T3, bà V1 cũng chưa bàn giao nhà đất cho bà H; Bà V, ông T, bà T1 là những người ở trên đất từ năm 2010 đến nay; Hồ sơ thẩm định giá cho vay của Ngân hàng TMCP N cũng thể hiện trên đất có nhà và có người ở, nhưng Ngân hàng đã thiếu sót không xác minh những người đang ở trên đất là ai và những người đang ở trên đất, cụ thể là bà V, ông T, bà T1 không biết việc thế chấp này của bà H.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) công chứng số: 010248, ngày 27/4/2010 của Phòng C4, giữa bà Lê Thị V và ông Phan Xuân T3, đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H00125/20, ngày 12/3/2007 do UBND huyện C cấp cho bà Lê Thị V vô hiệu; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) công chứng số: 004896, ngày 27/4/2017 của Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2), giữa ông Phan Xuân T3, bà Nguyễn Thị Phi V1 và bà Lê Thị H, đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CH00857, ngày 16/6/2011 của UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3 vô hiệu; Vì trên đất đã có nhà mà hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lại ghi không có tài sản gắn liền với đất và các bên chưa bàn giao đất trên thực tế theo quy định Điều 408 của Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014.

Hợp đồng thế chấp số: 0191/2017/918-BĐ, ngày 07/11/2017 được ký kết giữa bà Lê Thị HNgân hàng TMCP N đối với phần đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện tích đất thế chấp 267,6 m², địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857, ngày 16/06/2011 do UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3, cập nhật biến động trang 3 cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017 vô hiệu, vì bên nhận thế chấp tài sản (Ngân hàng TMCP N) không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC. Do đó yêu cầu của nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N về việc Ngân hàng TMCP N được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất đối với phần đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện

tích đất thế chấp 267,6 m², địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857, ngày 16/06/2011 do UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3, cập nhật biến động trang 3 cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017 theo hợp đồng thế chấp số: 0191/2017/918-BĐ, ngày 07/11/2017 được ký kết giữa bà Lê Thị HNgân hàng TMCP N để thu hồi nợ không có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu độc lập của bà Lê Thị V:

Ngày 07/5/2021, bà V có lời khai liên quan đến vụ tranh chấp, đồng thời có đơn xin vắng mặt; Ngày 23/12/2021, bà V có đơn yêu cầu độc lập; Ngày 17/5/2022, bà V ủy quyền cho ông Huỳnh Văn T đại diện bà V giải quyết yêu cầu của bà trong vụ kiện và ông T cũng đã có lời khai thể hiện ông T sẽ đại diện bà V giải quyết yêu cầu của bà V. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông T đến Tòa án để giải quyết vụ kiện vào các ngày 23/02/2023, ngày 21/3/2023, ngày 12/7/2024, ngày 05/8/2024, ngày 30/8/2024 nhưng ông T không đến Tòa án. Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu độc lập của bà V theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là có cơ sở.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắng liền với đất) công chứng số: 010248, ngày 27/4/2010 của Phòng C4, được ký kết giữa bà Lê Thị V và ông Phan Xuân T3 vô hiệu và Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắng liền với đất) công chứng số: 004896, ngày 27/4/2017 của Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2), được ký kết giữa giữa ông Phan Xuân T3, bà Nguyễn Thị Phi V1 và bà Lê Thị H vô hiệu, do không có ai yêu cầu giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chi phí tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp mà phía nguyên đơn đã tạm ứng trong quá trình Tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn yêu cầu bà H phải hoàn trả cho nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N những chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã tạm ứng, thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật. Những chi phí tố tụng mà nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N đã tạm gồm: Chi phí thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Tuy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ được chấp nhận một phần, nhưng lỗi chính là do bị đơn, bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà H hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP N chi phí tố tụng với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật, là có cơ sở chấp nhận.

Hội đồng xét xử nhận thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là có cơ sở nên chấp nhận. Do hồ sơ nhiều, thiếu Thư ký nên vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án nghiêm chỉnh tiếp thu và sẽ khắc phục trong thời gian tới.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm; Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận thì nguyên đơn phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 91; Các điều 227, 228, 264, 266, 267 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 134, 135 của Bộ luật dân sự năm 2005;

Căn cứ vào các Điều: 122, 129, 133, 274, 275, 278, 280, 357, 408, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N.

  1. Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm tính đến ngày 30/8/2024 theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số: 0448/2017/918-CV, ngày 10/11/2017 tổng cộng là 2.336.284.441 đồng (Hai tỷ ba trăm ba mươi sáu triệu hai trăm tám mươi tư nghìn bốn trăm bốn mươi mốt đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 18.035.368 đồng; Nợ lãi quá hạn: 1.063.906.850 đồng; Lãi chậm trả: 10.499.644 đồng; Nợ gốc thẻ tín dụng: 69.225.000 đồng; Nợ lãi thẻ tín dụng: 174.617.579 đồng; Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Buộc bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền lãi phát sinh, lãi chậm trả theo hợp đồng tín dụng từng lần số: 0433/2017/918-CV ngày 07/11/2017 và Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số: 0448/2017/918-CV, ngày 10/11/2017, kể từ ngày 31/8/2024 cho đến khi bà H thanh toán hết số tiền nợ.
  3. Đình chỉ yêu cầu của bà Lê Thị V về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà và ông Phan Xuân T3 đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu; Tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa ông T3 và bà Lê Thị H đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu; Hủy cập nhật biến động đất đai đối với phần đất diện tích 267,6 m², thuộc thửa 613, tờ bản đồ số 11, địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh từ bà sang ông T3 và từ ông T3 sang bà H; Bà sẽ hoàn trả lại cho ông T3 số tiền mà bà đã vay là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh.
  4. Hợp đồng thế chấp số: 0191/2017/918-BĐ, ngày 07/11/2017 được ký kết giữa bà Lê Thị HNgân hàng TMCP N đối với phần đất tại thửa đất số 613, tờ bản đồ số 11; diện tích đất thế chấp 267,6 m², địa chỉ tại xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 806108, số vào sổ cấp GCN số CH00857, ngày 16/06/2011 do UBND huyện C cấp cho ông Phan Xuân T3, cập nhật biến động trang 3 cho bà Lê Thị H ngày 08/05/2017 vô hiệu.
  5. Buộc bà Lê Thi H1 hoàn trả cho nguyên đơn, Ngân hàng TMCP N số 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) là chi phí tố tụng mà phía nguyên đơn đã tạm ứng trong quá trình tố tụng; Thanh toán 01 lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật.
  6. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị H phải chịu 78.725.689đ (Bảy mươi tám triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm tám mươi chín đồng); Án phí dân sự sơ thẩm Ngân hàng TMCP N phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí 26.587.631₫ (Hai mươi sáu triệu năm trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm ba mươi mốt đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2019/0084217 ngày 09/7/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi. Sau khi cấn trừ, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền là

26.287.631₫ (Hai mươi sáu triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn sáu trăm ba mươi mốt đồng). Bà Lê Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu độc lập, nhưng bà V đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn án phí nên bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngân hàng TMCP N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H, bà V, ông T, bà T1, ông T3, bà V1, Văn Phòng C1 (nay là Văn phòng C2), Văn Phòng C không có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND H. Củ Chi;
  • - Chi cục THADS H. Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Vp, hồ sơ (19b).

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 664/2024/DSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 664/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger