TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 664/2024/HS-ST
Ngày: 09/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Kim Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử trực tiếp công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 677/2024/HSST ngày 19/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 676/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Hải N; Giới tính: Nam; sinh năm 1990; nơi sinh: tỉnh Đồng Nai;
Nơi cư trú: 8/25, tổ C, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ điện nước; Trình độ học vấn: 09/12;
Họ tên cha: Nguyễn Thành L, sinh năm 1972, còn sống;
Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Mai T, sinh năm 1970, còn sống.
Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thùy D, sinh năm 1987 và có 02 con (lớn nhất sinh năm 2014 và nhở nhất sinh năm 2022).
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26-01-2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Chấp hành xong bản án ngày 04-3-2021.
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ ngày 25-7-2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố B.
(Bị cáo có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: 8, tổ C, Khu phố D, phưởng T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1996.
- Anh Nguyễn Trần Bảo L1, sinh năm 2001
Địa chỉ: 6, Khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: A, tổ H, Khu phố D, phường T, Thành phố B tỉnh Đồng Nai.
(Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Hải N là người sử dụng trái phép chất ma túy (hàng đá). Khoảng 23 giờ ngày 24-7-2024, N điều khiển xe môtô biển số 59X1-622.31 đến thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh chơi. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 25-7-2024, khi N điều khiển xe đi đến khu vực ngã tư L thuộc thành phố T thì gặp người quen cũ tên H (Không rõ lai lịch) trên đường. N và H dừng xe lại nói chuyện với nhau, N xin H ma túy (hàng đá) để N đem về nhà sử dụng. H đồng ý và lấy trong túi ra 01 gói ma túy đưa cho N. Nguyên cất giấu gói ma túy vào vỏ gói thuốc lá hiệu JET rồi cất gói thuốc vào túi quần bên phải của N. Khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, N điều khiển xe môtô nêu trên đi đến đoạn đường B thuộc tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng tuần tra của Công an phường T phát hiện bắt quả tang N cùng tang vật. Quá trình điều tra, Huỳnh Hải Nguyên K nhận hành vi phạm tội nêu trên.
* Vật chứng thư giữ:
- - 01 gói nylon chứa chất màu trắng được niêm phong có chữ ký ghi rõ họ Huỳnh Hải N và hình dấu tròn đỏ Công an phường T.
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 số Imei 357771571946602 của N không liên quan đến việc phạm tội.
- - 01 xe môtô biển số 59X1-622.21 của ông Nguyễn Thành L – sinh năm 1972 (Cha của N): Ông L cho N mượn và không biết N dùng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L quản lý.
Đối với người thanh niên tên H (chưa rõ lai lịch) đã cho ma túy cho Huỳnh Hải N: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
- + Tại Kết luận giám định chất ma túy số 1494/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Giám định viên Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,687 gam, loại: Methamphetamine. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 1494/KL-KTHS.
Tại bản cáo trạng số 638/CT/VKSBH-HS ngày 30/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Huỳnh Hải N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Huỳnh Hải N mức án từ 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù đến 01 (Một) năm 08 (T1) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
- - Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong niêm phong số 1494/KL-KTHS.
- - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 số Imei 357771571946602 của N không liên quan đến việc phạm tội.
Đối với người thanh niên tên H (chưa rõ lai lịch) đã cho ma túy cho Huỳnh Hải N: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội và thống nhất với nội dung truy tố của bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái với quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai của người làm chứng có tại hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành L; Những người làm chứng Nguyễn Văn V và Nguyễn Trần Bảo L1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, tuy nhiên xét lời khai của ông L, ông V và anh L1 đã có đầy đủ tại hồ sơ vụ án; ông L đã nhận lại tài sản; việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Tòa án căn cứ vào Điều 292; Điều 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự để xét xử vắng mặt ông L, ông V và anh L1.
[2]. Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Huỳnh Hải N đã khai nhận: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, tại đoạn đường B thuộc tổ D, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Hải N có hành vi tàng trữ trái phép 0,687 gam loại Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang, lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.
Trên cơ sở những tài liệu, chứng cứ nói trên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Hải N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Với khối lượng ma túy đã tàng trữ là 0,687 gam, loại: Methamphetamine được kết luận tại Kết luận giám định chất ma túy số 1494/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ thì hành vi của bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như nội dung bản cáo trạng số 638/CT/VKSBH-HS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là một trong những nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm cũng như các tệ nạn xã hội khác, bị cáo biết rõ tác hại của chất ma tuý khi sử dụng cho bản thân, đồng thời nhận biết được hành vi tàng trữ là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo là người có học thức nhất định, tại thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong vụ án này, bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng xét về nhân thân của bị cáo thì vào năm 2016, đã từng bị kết án về tội phạm có liên quan đến chất cấm này. Quá trình cải tạo bị cáo cũng đã được xét giảm án nhiều lần; được ra tù trước thời hạn do chấp hành tốt quy định của pháp luật; Tuy nhiên, khi chấp hành xong hình phạt tù, được tái hòa nhập cộng đồng thì bị cáo lại không cảnh tỉnh, tu dưỡng để bản thân trờ thành một công dân tốt mà lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội khác, để nay một lần nữa phải đứng trước Tòa án để bị xét xử về một tội phạm hình sự do chính bị cáo cố ý thực hiện mà ra. Từ đó, cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, có xu hướng khó cải tạo, giáo dục, xem thường pháp luật, trượt dài trong nhận thức, sống không có mục đích rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử cần thiết phải xử phạt một mức án nghiêm, phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra; cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo N thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiển sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về các vấn đề khác:
- - Đối với đối tượng H (chưa rõ họ tên và địa chỉ) có hành vi bán ma túy cho N hiện chưa xác định được nhân thân. Yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định là phù hợp.
- - Đối với người thanh niên tên H (chưa rõ lai lịch) đã cho ma túy cho Huỳnh Hải N: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
[6]. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong số: 1494 ngày 31/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, số Imei 357771571946602 của N không liên quan đến việc phạm tội.
(được ghi nhận tại Biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Huỳnh Hải N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Quan điểm của đại diện Viểm kiểm sát nhân dân thành phố B phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hải N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về áp dụng điều luật: Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đồi, bổ sung năm 2017): Áp dụng Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
- - Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Hải N: 01 (Một) năm 04 (B) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2024.
- - Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (Một) gói niêm phong số: 1494 ngày 31/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ.
- - Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, số Imei 357771571946602 của N không liên quan đến việc phạm tội.
(được ghi nhận tại Biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
- - Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Hải N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Huỳnh Hải N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đồng Thị Hồng |
Bản án số 664/2024/HS-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 664/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hải Nguyên về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
