|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H Bản án số: 663/2024/DS-PT Ngày: 26-7-2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim
-
- Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Ngọc Hương
-
Bà Nguyễn Thị Thu
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố H.
-
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 471/2024/TLPT-DS ngày 10/6/2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3562/2024/QĐPT-DS ngày 02/7/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố H, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 (có mặt)
Địa chỉ trụ sở chính: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T. Địa chỉ trụ sở làm việc: Số D - D đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố H.
Theo Giấy uỷ quyền số 124/2024/GUQ-CNHX, lập ngày 04/3/2024.
-
Bị đơn:
-
Ông Huỳnh Trọng D(vắng mặt)
-
Bà Trương Thị N (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ cư trú: Số F đường T, Phường A, quận G, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của bà N: Ông Huỳnh Trọng D; địa chỉ cư trú: Số F đường T, Phường A, quận G. Đại diện theo Văn bản ủy quyền lập ngày 14/12/2023.
-
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Bà Trịnh Thị B(vắng mặt)
-
Ông Hoàng Văn D1(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: E Ấp E T, xã V, huyện B. Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của ông Hoàng Văn D1: Bà Trịnh Thị B: địa chỉ: E Ấp E T, xã V, huyện B, Thành phố H.
Văn bản ủy quyền lập ngày 14/9/2023.
Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Thị B: Ông Nguyễn Đình T1; địa chỉ: Số B đường L, Phường F, Quận F.
Văn bản ủy quyền lập ngày 23/9/2023.
-
Ông Trần Lương Q (có đơn xin vắng mặt)
-
Ông Trần Lương K (có đơn xin vắng mặt)
-
Ông Trần Lương T2 (có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: E2/7E T, Ấp E, xã V, huyện B, Thành phố H.
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
I. Trong đơn khởi kiện ghi ngày 20/10/2021; đơn khởi kiện bổ sung ghi ngày 10/8/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Đỗ Hoàng T3 trình bày:
1. Theo đơn khởi kiện:
Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N có giao dịch về tín dụng với Ngân hàng TMCP S1 (say đây gọi tắt là Ngân hàng) chi tiết như sau:
1.1. Hợp đồng tín dụng số: LD1910800180 ngày 18/04/2019; Giấy nhận nợ phát sinh số: LD1910800180 ngày 18/04/2019
-
Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng
-
Lãi suất vay: Lãi suất 03 tháng đầu tiên: 12,3%/năm. Lãi suất này chỉ áp dụng cho lần giải ngân đầu tiên, các lần giải ngân sau (nếu có), lãi suất do Ngân hàng xác định tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ (theo mẫu của Ngân hàng).
-
Mục đích sử dụng: Vay tiêu dùng
-
Biện pháp bảo đảm: Tài sản đảm bảo là bất động sản toạ lạc tại Thửa đất số: 549, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Xã V, huyện B, thuộc sở hữu của ông/bà: Huỳnh Trọng D và Trương Thị N theo Hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 006776 ngày 18/04/2019, quyền số 04 được ký kết giữa Ngân hàng và ông D, bà N.
1.2. Hợp đồng tín dụng số: LD1910800193 ngày 18/04/2019 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số 01/LD1910800193, ngày 17/04/2020; Số tiền vay: 2.500.000.000 đồng;
-
+ Giấy nhận nợ phát sinh lần thứ 01 số: LD2011100566, ngày 20/04/2020
Số tiền nhận nợ: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng chẵn)
Thời hạn trả nợ: 20/04/2021
-
+ Giấy nhận nợ phát sinh lần thứ 02 số: LD2011100614, ngày 20/04/2020
Số tiền nhận nợ: 1.000.000.000 đồng
Thời hạn trả nợ: 20/04/2021.
-
+ Giấy nhận nợ phát sinh lần thứ 03 số: LD2011100625, ngày 20/04/2020
Số tiền nhận nợ: 500.000.000 đồng
Thời hạn trả nợ: 20/04/2021.
-
Lãi suất vay: Lãi suất 03 tháng đầu tiên: 9,5%/năm. Lãi suất này chỉ áp dụng cho lần giải ngân đầu tiên, các lần giải ngân sau (nếu có), lãi suất do Ngân hàng xác định tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ (theo mẫu của Ngân hàng).
-
Thời hạn vay: 01 năm.
-
Mục đích sử dụng: Bổ sung vốn kinh doanh (Phát triển kinh tế gia đình).
-
Biện pháp bảo đảm: Tài sản đảm bảo là bất động sản toạ lạc tại Thừa đất số: 549, tờ bản đồ số 30, địa chỉ: Xã V, Huyện B. Thuộc sở hữu của ông/bà: Huỳnh Trọng D và Trương Thị N theo hợp đồng thế chấp tài sản số công chứng 006776 ngày 18/04/2019, quyền số 04 được ký kết giữa Ngân Hàng và ông D, bà N.
1.3. Ngày 03/05/2019, ông D có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông D, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch từ tháng 5/2019 đến ngày 04/05/2021 với tổng số tiền là 65.426.234 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 42.919.000 đồng. Trong đó, số tiền gốc là 15.342.647 đồng và lãi phí là 27.576.353 đồng. Do hai khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số LD1910800180 ngày 18/04/2019 và số LD1910800193 ngày 18/04/2019 phát sinh nợ quá hạn đã chuyển toàn bộ dư nợ của Hợp đồng
sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn kéo theo và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ kể từ ngày 05/05/2021.
1. 4. Ngày 03/05/2019, bà N có ký với Ngân hàng Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch từ tháng 5/2019 đến ngày 22/02/2020 với tổng số tiền là 62.969.619 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 46.942.263 đồng. Trong đó, số tiền gốc là 18.472.738 đồng và lãi phí là 28.469.525 đồng. Do hai khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số LD1910800180 ngày 18/04/2019 và số LD1910800193 ngày 18/04/2019 phát sinh nợ quá hạn đã chuyển toàn bộ dư nợ của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng sang nợ quá hạn kéo theo và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ kể từ ngày 05/05/2021.
2. Theo đơn yêu cầu khởi kiện bổ sung: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - ông Đỗ Hoàng T3 trình bày đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung:
Bà N có ký với Ngân hàng Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số: [...] (LD2027400192) ngày 30/09/2020
-
Số tiền vay: 250.000.000 đồng
-
Lãi suất vay: Lãi suất 3 tháng đầu tiên 15%/năm. Lãi suất này chỉ áp dụng cho lần giải ngân đầu tiên, các lần giải ngân sau (nếu có), lãi suất do Ngân hàng xác định tại thời điểm giải ngân và được ghi cụ thể trên từng Giấy nhận nợ (theo mẫu của Ngân hàng).
-
Thời hạn vay: 05 năm.
-
Thời hạn trả nợ: 30/09/2025.
-
Dư nợ đến thời điểm hiện tại: 220.831.000 đồng
-
Mục đích sử dụng: Vay tiêu dùng
Trong quá trình vay, khách hàng bà N thường thanh toán khoản vay trễ hạn cho Ngân hàng. Ngày 20/05/2021 đến hạn thanh toán khoản vay, bà N không có khả năng thanh toán vốn và lãi cho Ngân hàng. Do bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ, ngày 30/05/2021 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Do ông D bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ vốn và nợ lãi cho Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông D bà N trả nợ vay.
Tính đến ngày 10/4/2024, ông D và bà N còn nợ Ngân hàng các khoản nợ sau đây:
-
* Hợp đồng tín dụng số: LD1910800180 ngày 18/4/2019, ông D và bà N còn nợ:
-
Nợ gốc: 616.659.000 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 117.867.063 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 187.743.911 đồng;
-
Tổng cộng: 922.269.974 đồng.
-
-
* Hợp đồng tín dụng số: LD1910800193 ngày 18/04/2019, ông D và bà N còn nợ:
-
Nợ gốc: 2.500.000.000 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 18.260.274 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 965.869.567 đồng;
-
Tổng cộng: 3.484.129.841 đồng.
-
-
* Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số [...] ngày 30/09/2020, bà N còn nợ:
-
Nợ gốc: 220.831.000 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 61.058.302 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 56.320.894 đồng.
-
Tổng cộng: 338.210.196 đồng.
-
-
* Thẻ tín dụng của Trương Thị N số thẻ 486265 – 2413; Số hợp đồng: 160HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019, bà N còn nợ:
-
Nợ gốc: 49.847.867 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 37.819.427 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 18.909.713 đồng;
-
Tổng cộng: 106.577.007 đồng.
-
-
* Thẻ tín dụng của Huỳnh Trọng D số thẻ 472075 – 5555; Số hợp đồng: 159HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019, ông D còn nợ:
-
Nợ gốc: 56.659.659 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 40.261.485 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 20.130.743 đồng;
-
Tổng cộng: 117.051.887 đồng.
-
Như vậy, tính đến hết ngày 10/4/2024, ông D và bà N còn nợ Ngân hàng tổng cộng các hợp đồng và thẻ tín dụng là:
-
Nợ gốc: 3.443.997.526 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 275.266.551 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 1.248.974.828 đồng;
-
Tổng cộng: 4.968.238.905 đồng.
Ngân hàng yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
-
- Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 10/4/2024, gồm:
-
+ Nợ gốc: 3.443.997.526 đồng;
-
+ Nợ lãi trong hạn: 275.266.551 đồng;
-
+ Nợ lãi quá hạn: 1.248.974.828 đồng;
-
+ Tổng cộng: 4.968.238.905 đồng.
Theo Hợp đồng tín dụng số LD1910800180 ngày 18/4/2019; Hợp đồng tín dụng số LD1910800193 ngày 18/04/2019; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số [...] (LD2027400192) ngày 30/09/2020; Thẻ tín dụng của Trương Thị N số thẻ 486265 – 2413, Số hợp đồng: 160HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019; Thẻ tín dụng của Huỳnh Trọng D số thẻ 472075 - 5555, Số hợp đồng: 159HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019.
-
-
- Kể từ ngày 11/4/2024, ông D và bà N tiếp tục trả tiền lãi theo lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng đã ký cho đến khi ông D và bà N thanh toán xong nợ vay cho Ngân hàng.
-
- Trường hợp, ông D và bà N không trả hoặc trả không đủ nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 061/HĐTC/2019.BT ngày 18/4/2019, tài sản thế chấp là bất động sản toạ lạc tại số E ấp E xã V huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS 006314 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 21/6/2017, nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý: Đã chuyển nhượng cho ông D và bà N vào ngày 21/11/2017.
II. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Trịnh Thị B:
Theo đơn yêu cầu độc lập và lời khai khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Trịnh Thị B trình bày:
Ngày 25/03/2019, bà và ông D, bà N có ký với nhau Hợp đồng đặt cọc. Theo đó, ông D bà N sẽ chuyển nhượng cho bà phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 549, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại xã V, huyện B với giá 2.500.000.000 (hai tỷ năm trăm triệu) đồng. Bà B đã đặt cọc cho số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng. Ông D bà N cam kết trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng sẽ hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu nhà và ra công chứng ký chuyển nhượng cho bà, bà sẽ thanh toán đủ số tiền còn lại 2.100.000.000 (hai tỷ một trăm triệu) đồng.
Tuy nhiên, đến thời điểm thỏa thuận, ông D bà N không ra công chứng để làm thủ tục sang tên nhà đất cho bà mặc dù bà đã nhiều lần yêu cầu thực hiện.
Sau này, bà mới được biết vợ chồng ông D đã thế chấp phần đất nói trên để vay tiền tại Ngân hàng. Nhận thấy, việc vợ chồng ông D không thực hiện theo đúng Hợp đồng các bên đã ký là vi phạm thỏa thuận giữa các bên và vi phạm pháp luật. Vì vậy, bà làm đơn yêu cầu độc lập. Yêu cầu cụ thể như sau: Buộc
ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N tiếp tục thực hiện Hợp đồng đặt cọc đã ký với bà vào ngày 25/3/2019 về việc chuyển nhượng phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 549, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại xã V, huyện B.
Đối với Hợp đồng đặt cọc lập ngày 25/3/2019 và Giấy vay tiền ngày 25/3/2019 mà bà và ông D đã lập. Bà có ý kiến như sau: Hợp đồng đặt cọc và Giấy vay tiền lập cùng ngày. Mục đích lập Giấy vay tiền là để chứng minh bà đã trả tiền cọc chứ thực tế không có việc vay mượn tiền. Khi lập Hợp đồng đặt cọc không có bản chính giấy chứng nhận nhà đất do ông D thế chấp căn nhà cho Ngân hàng nên lập hợp đồng đặt cọc làm chứng cứ cho việc bà đã giao 400.000.000 đồng. Số tiền này là tài sản chung của bà với ông D1
Tại buổi hòa giải ngày 21/12/2023, bà B yêu cầu ông D và bà N trả cho bà số tiền 400.000.000 đồng, bà B đồng ý cho ông D và bà N trả trước 200.000.000 đồng. Bà B yêu cầu ông Q, ông K và ông T2 dọn nhà và giao lại nhà cho bà N và ông D. Số tiền còn lại bà B đồng ý cho bà N và ông D trả dần hàng tháng.
Nếu ông D và bà N không có khả năng trả số tiền trên, bà yêu cầu ông D và bà N tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc.
Đối với căn nhà E T, Ấp E, xã V, huyện B, bà B trình bày: Căn nhà E2/7E T, Ấp E, xã V, huyện B trước khi ông D giao nhà cho bà, ông D cho ông T2 thuê nên khi nhận nhà bà tiếp tục cho ông T2 thuê cho đến nay. Bà với ông T2 là anh em họ hàng với nhau. Thời gian cho thuê bà không nhớ rõ. Tiền thuê nhà mỗi tháng là 4.000.000 đồng.
III. Bị đơn: Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N
1. Đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng:
Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng.
2. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Trịnh Thị B:
Ông D và bà N trình bày:
Ông D và bà N thừa nhận có lập hợp đồng vay bà B số tiền 400.000.000 đồng, không có biên bản giao nhận số tiền 400.000.000 đồng. Thực tế ông bà vay của bà B số tiền 200.000.000 đồng, cộng tiền lãi vào thành số tiền 400.000.000 đồng. Ông bà chấp nhận hiện còn nợ bà B số tiền 400.000.000 đồng. Ông bà không bán nhà cho bà B mà lập hợp đồng đặt cọc để bà B yên tâm việc trả tiền nợ. Tại thời điểm vay tiền, ông bà đã thế chấp nhà cho Ngân hàng nên không có việc mua bán nhà và chuyển giao quyền sở hữu nhà cho bà B được.
Đối với căn nhà E T, Ấp E, xã V, huyện B, Ông D và bà N trình bày trình bày: Do ông bà làm ăn gặp khó khăn, nợ nần nhiều người và bị chủ nợ đến nhà đòi nợ thường xuyên, gia đình ông bà cũng đổ vỡ nên ông D không ở tại căn nhà trên mà cho ông T2 thuê (không lập hợp đồng cho thuê), thời gian cho
thuê nhà khoảng giữa năm 2019- năm 2020. Tiền thuê mỗi tháng là 6.000.000 đồng. Ông T2 trả cho ông D được 03 tháng tiền thuê nhà. Sau đó, ông D yêu cầu ông T2 chuyển tiền thuê nhà trả cho bà B xem như ông trả bớt tiền nợ cho bà B. Bà B với ông T2 là anh em họ hàng với nhau. Hoàn toàn không có việc ông giao nhà nhà E2/7E T, Ấp E, xã V, huyện B cho bà B.
3. Đối với yêu cầu độc lập của bà B. Người đại diện hợp pháp của Nguyên đơn - ông Đỗ Hoàng T3 trình bày:
Ông D bà N vay tiền của Ngân hàng, tài sản thế chấp là bất động sản toạ lạc tại số E ấp E xã V huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS 006314 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 21/6/2017, nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý: Đã chuyển nhượng cho ông D và bà N vào ngày 21/11/2017. Tài sản này thế chấp liên tục cho Ngân hàng từ thời điểm 28/11/2017 cho đến nay theo các thời gian như sau :
Ngày 28/11/2017, ông D và bà N có ký Hợp đồng thế chấp số 520/PGD-BD với Ngân hàng TMCP S1 – CN Quận A – PGD Bà Đ, số công chứng 41852 để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng số LD1729000463 ngày 25/10/2017, số tiền vay 1.500.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
Ngày 06/07/2018, tiếp tục ký Hợp đồng thế chấp số 712/PGD-BĐ với Ngân hàng TMCP S1 – CN Quận A – PGD Bà Đ, số công chứng 25374 để đảm bảo cho Hợp đồng tín dụng số LD1818500645 ngày 06/07/2018, số tiền vay 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng).
Sau đó, ngày 18/04/2019, ông D và bà N chuyển hồ sơ vay vốn từ Ngân hàng TMCP S1 – CN Quận A – PGD Bà Đ về Ngân hàng TMCP S1 – C; đồng thời ký kết Hợp đồng thế chấp số 061/HĐTC/2019.BT ngày 18/04/2019, số công chứng 006776 để đảm bảo cho các Hợp đồng tín dụng số LD1910800180 ngày 18/04/2019, Hợp đồng tín dụng số LD1910800193 ngày 18/04/2019.
Giao dịch thế chấp giữa Ngân hàng và ông D bà N là hợp pháp.
Giao dịch giữa bà B và ông D bà N là không hợp pháp vì tại thời điểm các bên giao dịch, nhà đất trên đã thế chấp cho Ngân hàng.
Từ các nội dung trên, Ngân hàng đề nghị Tòa án xem xét bác bỏ Hợp đồng đặt cọc vì đây là Hợp đồng vay tiền giữa bà B và ông D, bà N. Việc chiếm hữu tài sản hiện tại là bất hợp pháp. Ngân hàng đề nghị những người đang quản lý, sử dụng tài sản hiện đang thế chấp giao lại tài sản cho Ngân hàng là Bên nhận tài sản hợp pháp hoặc Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thu hồi nợ cho Ngân hàng.
4. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Ông Trần Lương T2, ông Trần Lương K và ông Trần Lương Q:
Từ khi Tòa án thông báo thụ lý vụ án cho đến ngày xét xử sơ thẩm, các ông không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, yêu cầu độc lập của bà B.
Tại phiên tòa sơ thẩm
-
- Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng - ông Đỗ Hoàng T3 trình bày: Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu khởi kiện bổ sung;
-
- Ông Huỳnh Trọng D - bị đơn và là người đại diện hợp pháp của bà N trình bày: Ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Hiện nay ông và bà N không có khả năng trả nợ cho Ngân hàng nên ông bà tự nguyện giao tài sản cho Ngân hàng hoặc Chi cục thi hành án có thẩm quyền bán tài sản để thu hồi nợ cho Ngân hàng.
-
- Người đại diện hợp pháp của ông Hoàng Văn D1: Bà Trịnh Thị B vắng mặt.
-
- Người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Thị B: Ông Nguyễn Đình T1 vắng mặt.
Do các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, nên Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H đã tuyên xử:
I. Đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và ông Huỳnh Trọng D, bà Trương Thị N.
Sự tự nguyện thỏa thuận cụ thể như sau:
1.1. Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tính đến hết ngày 10/4/2024, tổng cộng: 4.968.238.905 (Bốn tỷ, chín trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm ba mươi tám ngàn, chín trăm lẻ năm) đồng, gồm:
-
Nợ gốc: 3.443.997.526 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 275.266.551 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 1.248.974.828 đồng;
Theo: Hợp đồng tín dụng số LD1910800180, ngày 18/4/2019; Hợp đồng tín dụng số LD1910800193, ngày 18/04/2019; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số [...] (LD2027400192), ngày 30/09/2020; Thẻ tín dụng của Trương Thị N số thẻ 486265 - 2413, Số hợp đồng: 160HĐTD/2019, ngày 3/05/2019 và Thẻ tín dụng của Huỳnh Trọng D số thẻ 472075 - 5555, Số hợp đồng: 159HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019.
Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Kể từ ngày 11/4/2024, ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N tiếp tục trả tiền lãi theo lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng đã ký cho đến khi ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N trả xong nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
1.3. Nếu ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N không trả hoặc trả không đủ nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền được quyền bán tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 061/HĐTC/2019.BT ngày 18/4/2019, tài sản thế chấp là bất động sản toạ lạc tại số E ấp E xã V huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS 006314 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 21/6/2017, nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý: Đã chuyển nhượng cho ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N vào ngày 21/11/2017.
2. Khi Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành bản án, những người đang cư trú tại tài sản thế chấp có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền để bán tài sản đã thế chấp, thu hồi nợ cho Ngân hàng.
II. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Trịnh Thị B về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà.
III. Án phí dân sự sơ thẩm:
1. Đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 được nhận lại tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 48.531.624 (Bốn mươi tám triệu, năm trăm ba mươi mốt ngàn, sáu trăm hai mươi bốn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0040320, ngày 21/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B và tiền tạm nộp án phí khởi kiện bổ sung là 7.711.463 (Bảy triệu, bảy trăm mười một ngàn, bốn trăm sáu mươi ba) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0012231, ngày 17/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N phải nộp số tiền 112.940.357 (Một trăm mười hai triệu, chín trăm bốn mươi ngàn, ba trăm năm mươi bảy) đồng.
2. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Trịnh Thị Bích
Sung quỹ nhà nước số tiền bà B đã tạm nộp án phí là 40.700.000 (Bốn mươi triệu, bảy trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0041287, ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B và 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0041164, ngày 19/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về quyền kháng cáo bản án và quyền thi hành bản án theo quy định.
Sau khi bản án sơ thẩm tuyên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị B kháng cáo bản án.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
-
-Người khởi kiện không rút đơn khởi kiện, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết yêu cầu kháng cáo theo quy định.
-
- Ông Nguyễn Đình T1 đại diện theo ủy quyền của bà B trình bày kháng cáo bản án đề nghị Ngân hàng cùng liên đới với bị đơn trả lại tiền cọc cho bà B là 400.000.000 đồng vì hiện tài sản căn nhà đã bị thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 và sẽ phát mãi khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Ngoài yêu cầu kháng cáo này, bà B không còn yêu cầu nào khác.
-
-Bị đơn và các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo và có đơn xin vắng mặt.
-
-Đại diện nguyên đơn tại phiên tòa không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bà B, đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H phát biểu ý kiến:
-
+ Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử tuyên bố nghị án, Thẩm phán chủ tọa, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Những người tham gia tố tụng đã được thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
-
+ Về nội dung: Xét thấy yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị B là không có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-
-Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị B làm trong hạn luật định. Các thủ tục về kháng cáo được thực hiện đúng và đầy đủ, vì vậy căn cứ theo Điều 273, 276 Bộ Luật Tố tụng Dân sự được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
-Về sự có mặt, vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và người kháng cáo bà Trịnh Thị B (có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Đình T1) có mặt.
Bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt, đồng thời đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, do đó căn cứ theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt.
[2] Xét kháng cáo của đương sự:
Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và lời trình bày, đối chất công khai các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của Viện kiểm sát, xét thấy:
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-
-Ông Nguyễn Đình T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Trịnh Thị B kháng cáo bản án, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 phải có nghĩa vụ liên đới cùng bị đơn Huỳnh Trọng D, Trương Thị N phải trả số tiền cọc là 400.000.000 đồng theo hợp đồng đặt cọc ngày 25/3/2019 ký giữa bà B và ông D, bà N. Ngoài yêu cầu này bà B không còn yêu cầu kháng cáo khác.
-
-Đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 không đồng ý kháng cáo của bà B vì cho rằng đây là quan hệ pháp luật khác, là sự tranh chấp giữa bà B và ông D bà N, còn phía Ngân hàng không có liên quan. Toàn bộ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 với bị đơn ông D, bà N là đúng quy định. Hơn nữa, việc người liên quan bà B vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm, do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của bà B, bà B kháng cáo yêu cầu ngân hàng có trách nhiệm liên đới là không có căn cứ. Đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.
-
-Bị đơn không có yêu cầu kháng cáo và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Xét thấy:
Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của ông Hoàng Văn D1 là bà Trịnh Thị B và người đại diện hợp pháp của bà Trịnh Thị B là ông Nguyễn Đình T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của bà B về tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa bà B và ông D bà N là có cơ sở.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà B có người đại diện theo ủy quyền thừa nhận việc vắng mặt tại phiên tòa cấp sơ thẩm vì vậy mà Tòa án đã đình chỉ yêu cầu khởi kiện. Nay bà B không kháng cáo về việc đình chỉ yêu cầu khởi kiện này mà chỉ kháng cáo yêu cầu trách nhiệm liên đới trả nợ của Ngân hàng với ông D bà N đối với số tiền cọc.
Xét thấy, căn cứ lời thừa nhận của người đại diện bà B cũng như xem xét việc tống đạt tham gia phiên tòa sơ thẩm của các đương sự là đúng quy định, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ yêu cầu độc lập của bà B là có căn cứ. Nên việc bà B kháng cáo bản án yêu cầu Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 có
nghĩa vụ liên đới cùng bị đơn ông D, bà N trả lại tiền cọc 400.000.000 đồng cho bà B là không có cơ sở chấp nhận. Bà B kháng cáo nhưng không cung cấp được lý do chính đáng vắng mặt tại phiên tòa cấp sơ thẩm để được xem xét, đồng thời cũng không có chứng cứ gì chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình, nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo nên không xem xét. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Án phí phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên người kháng cáo bà B phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
-
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
-
-Không chấp nhận kháng cáo của bà Trịnh Thị Bích.
-
-Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2024/DS-ST ngày 10/4/2024 của Tòa án nhân dân quận G, Thành phố H:
I. Đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S
1. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 và ông Huỳnh Trọng D, bà Trương Thị N.
Sự tự nguyện thỏa thuận cụ thể như sau:
1.1. Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 tính đến hết ngày 10/4/2024, tổng cộng: 4.968.238.905 (Bốn tỷ, chín trăm sáu mươi tám triệu, hai trăm ba mươi tám ngàn, chín trăm lẻ năm) đồng, gồm:
-
Nợ gốc: 3.443.997.526 đồng;
-
Nợ lãi trong hạn: 275.266.551 đồng;
-
Nợ lãi quá hạn: 1.248.974.828 đồng;
Theo: Hợp đồng tín dụng số LD1910800180, ngày 18/4/2019; Hợp đồng tín dụng số LD1910800193, ngày 18/04/2019; Hợp đồng cho vay kiêm Giấy nhận nợ số [...] (LD2027400192), ngày 30/09/2020; Thẻ tín dụng của Trương Thị N số thẻ 486265 - 2413, Số hợp đồng: 160HĐTD/2019, ngày 3/05/2019 và Thẻ tín dụng của Huỳnh Trọng D số thẻ 472075 - 5555, Số hợp đồng: 159HĐTD/2019 mở ngày 3/05/2019.
Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Kể từ ngày 11/4/2024, ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N tiếp tục trả tiền lãi theo lãi suất quá hạn đã thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng, thẻ tín dụng đã ký cho đến khi ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N trả xong nợ vay cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1.
1.3. Nếu ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N không trả hoặc trả không đủ nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền được quyền bán tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 061/HĐTC/2019.BT ngày 18/4/2019, tài sản thế chấp là bất động sản toạ lạc tại số E ấp E xã V huyện B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: CS 006314 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 21/6/2017, nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý: Đã chuyển nhượng cho ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N vào ngày 21/11/2017.
2. Khi Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành bản án, những người đang cư trú tại tài sản thế chấp có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 hoặc Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền để bán tài sản đã thế chấp, thu hồi nợ cho Ngân hàng.
II. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Trịnh Thị B về việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà.
III. Án phí dân sự sơ thẩm:
1. Đối với yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 được nhận lại tiền tạm nộp án phí khi khởi kiện là 48.531.624 (Bốn mươi tám triệu, năm trăm ba mươi mốt ngàn, sáu trăm hai mươi bốn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0040320, ngày 21/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B và tiền tạm nộp án phí khởi kiện bổ sung là 7.711.463 (Bảy triệu, bảy trăm mười một ngàn, bốn trăm sáu mươi ba) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0012231, ngày 17/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
Ông Huỳnh Trọng D và bà Trương Thị N phải nộp số tiền 112.940.357 (Một trăm mười hai triệu, chín trăm bốn mươi ngàn, ba trăm năm mươi bảy) đồng.
2. Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà B
Sung quỹ nhà nước số tiền bà B đã tạm nộp án phí là 40.700.000 (Bốn mươi triệu, bảy trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0041287, ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B và 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0041164, ngày 19/5/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
IV. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Trịnh Thị B phải chịu là 300.000 đồng. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013773 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận G, Thành phố H.
V. Trường hợp bản án, quyết định thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
VI. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Kim |
Bản án số 663/2024/DS-PT ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà
- Số bản án: 663/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm
