|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 663/2025/DS-PT
Ngày 16-6-2025
V/v “Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán
nhà; hủy Quyết định hành chính cá
biệt; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và Tranh chấp quyền sử dụng
đất"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phan Văn Yên |
| Các Thẩm phán: | Ông Hoàng Thanh Dũng |
| Ông Phan Tô Ngọc |
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Xuân Lượng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 959/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc: “Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà; hủy Quyết định hành chính cá biệt; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2024/DS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo;
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 265/2025/QĐPT-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần K.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đàm Thế D- Giám đốc
Địa chỉ: B P, phường Q, Tp ., T. Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn D1 – sinh năm 1976.
Địa chỉ: Ấp B, xã X, H. X, T. Đ (có mặt).
- Bị đơn: Bà Lâm Thị Hồng T, sinh năm 1979 (có mặt)
2.1. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị H, sinh năm 1958.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Như N, Chuyên viên phòng quản lý nhà và thị trường bất động sản - Sở xây dựng.
- Bà Lê Thị N1, sinh năm 1941 (có mặt).
- Bà Trần Lê Như M, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số I tổ D, khu A, xã L, h . L, tỉnh Đồng Nai.
Người trợ giúp pháp lý của bà N1: Bà Nguyễn Thị L – sinh năm 1987 - Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Đ.
Địa chỉ: Số B, đường C phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
- Ông Lâm Văn H1, sinh năm 1975.
- Bà Nguyễn Thị Thu O, sinh năm 1975.
- Ông Lâm Nhựt C, sinh năm 2004 (con của ông H1, bà O)
- Cháu Lâm Nguyễn Nhựt H2, sinh năm 2011.
Người đại diện hợp pháp của cháu H2: Ông Lâm Văn H1, bà Nguyễn Thị Thu O (đều vắng mặt)
Cùng địa chỉ: I tổ D, khu A, xã L, H. L, T. Đ
- Ông Ngô Hoàng D2, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền của ông D2: Bà Lê Thị H, sinh năm 1958.
Cùng địa chỉ: I tổ D, khu A, xã L, H. L, T. Đ, (có mặt)
- Bà Lưu Thị M1, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ D, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bà Huỳnh Thị Tuyết M2 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ C, ấp T, xã L, h . L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà M2: Bà Lê Sử Kiều M3, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Thôn S, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa (có mặt);
Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1986; địa chỉ: khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà M2 là ông Trần Viết H3, sinh năm 1990-Luật sư thuộc đoàn Luật sư Thành Phố H
Địa chỉ: 1 N, phường H, thành phố T, Thành Phố Hồ Chí Minh (có mặt)
- Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Mạnh H4 - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (vắng mặt)
- Nông trường cao su L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: xã L - huyện L - tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
- Công ty TNHH MTV K.
Địa chỉ: Đường Q-X, KP T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh T2-Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV K.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Anh D3.
Địa chỉ: Ấp T, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
Địa chỉ: I tổ D, khu A, xã L, H. L, T. Đ (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyênCông ty CP kinh doanh nhà Đ có người đại diện theo ủy quyền ông Ngô Văn D1 trình bày:
Ngày 19/04/2006, Công Ty Cổ phần K đã ký hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số: 1486/HĐ-KDN với bà Lâm Thị Hồng T với diện tích sử dụng nhà: 35.02m² và diện tích đất ở 205.20m². Địa chỉ đất tại số: 98 khu A, đội 1, Nông trường Cao su L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Giá bán được ghi trong hợp đồng là: 7.003.459 đồng (Bảy triệu, không trăm lẻ ba ngàn, bốn trăm năm mươi chín đồng) khi đã trừ đi số tiền được miễn giảm theo các chế độ chính sách được tính như sau: Trong đó: Giá nhà ở: 4.590.307 đồng (Bốn triệu, năm trăm chín mươi ngàn, ba trăm lẻ bảy đồng). Giá đất ở: 2.413.152 đồng (Hai triệu, bốn trăm mười ba ngàn, một trăm năm mươi hai đồng). Trả ngay một lần được giảm 10% theo Nghị định số 61/CP. Tổng cộng số tiền bên mua phải trả là: 6.303.113 đồng (Sáu triệu, ba trăm lẻ ba ngàn, một trăm mười ba đồng).
Trong đó: - Nhà 4.131.276 đồng;
- Đất: 2.171.837 đồng
Nguồn gốc diện tích đất Công ty chuyển nhượng như sau: Từ năm 2004 trở về trước: Thửa đất số 1003, tờ bản đồ địa chính số 6, xã L, diện tích 235 m² được Nhà nước giao cho Nông trường Cao su L quản lý, trên thửa đất có 01 căn nhà dưới cấp 4, diện tích 36 m² do Pháp xây dựng năm 1942, sử dụng làm nhà ở cho công nhân viên; từ năm 1996 trở về trước, Nông trường Cao su L giao nhà cho công nhân Lưu Thị M1 quản lý, sử dụng; năm 1996, bà Lưu Thị M1 đã tự ý chuyển nhượng trái phép diện tích 80 m² đất cho bà Lê Thị N1 cho đến nay và bà N1 đã tự ý xây dựng nhà tạm (nhà vách đất lợp tôn) để ở từ năm 1996 cho đến nay (hiện tại là căn nhà số I); tháng 8/2015, bà Lê Thị N1 được Hội chữ thập đỏ huyện L xây dựng căn nhà Chữ thập đỏ vì hoàn cảnh gia đình bà là hộ nghèo phải nuôi cháu ngoại mồ côi cha mẹ, bản thân bà có tham gia cách mạng và được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất.
Ngày 15/10/1996, Nông trường Cao su L ký Quyết định số 09/QĐ thu hồi căn nhà cấp 4 do bà Lưu Thị M1 đang sử dụng và giao cho công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 quản lý, sử dụng; năm 2000, bà M2 tự ý chuyển nhượng trái phép phần diện tích đất còn lại khoảng 155 m² (235m² trừ 80m²) cho bà Lâm Thị Hồng T, ngụ tại tổ E, khu A, xã L, trên phần đất chuyển nhượng có căn nhà dưới cấp 4, diện tích 36m² do Pháp xây dựng năm 1942 (hiện tại là căn nhà số I).
Từ năm 2004 đến nay: Ngày 06/10/2004, UBND tỉnh ký Quyết định số 4713/QĐ.CT.UBT thu hồi diện tích 1.714.824 m² đất tại xã L, xã T, xã L, huyện L giao cho Công ty K (hiện nay là Công ty CP K) quản lý để lập quy hoạch và thực hiện việc bán nhà cho cán bộ công nhân viên Công ty K theo quy định tại Nghị định số 61/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ. Theo Hợp đồng ký kết với Công ty cổ phần K.
Tháng 7/2004, Công ty TNHH Đ1 tiến hành đo đạc nhà để lập thủ tục bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê theo Hợp đồng ký kết với Công ty cổ phần K; Do sai sót trong quá trình đo đạc và lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất, thửa đất số 1003, Tờ BĐĐC số 6, xã L, diện tích 235 m² (Trong đó: 205 m² đất ở và 30 m² diện tích đất nằm trong quy hoạch đường giao thông) có 01 căn nhà do ông Lâm Văn H1 đang quản lý, sử dụng (căn nhà số I). Thực tế, trên thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 06, xã L có 2 căn nhà tọa lạc, gốm 01 căn nhà cấp 4 do ông Lâm Văn H1 đang quản lý, sử dụng (căn nhà số I) và 01 căn nhà tạm do bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng (căn nhà số I).
Ngày 11/2/2006, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T, bao gồm 30,52 m² nhà dưới cấp 4 và 205,2 đất ở. Tuy nhiên, trong đó có cả phần diện tích đất do bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng.
Như vậy, tại thời điểm UBND tỉnh phê duyệt giá bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T, thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 06 xã L, diện tích đất là 235m², đã được UBND huyện L cấp giấy Chứng nhận QSDĐ số vào sổ H01499 ký ngày 24/6/2009 cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2.
Thực tế, trên đất hiện có 02 đối tượng đang trực tiếp quản lý, sử dụng là ông Lâm Văn H1 trực tiếp sử dụng 147,8m² và một căn nhà cấp 4; bà Lê Thị N1 trực tiếp sử dụng 65,5m² ( được giới hạn các mốc 2,8,4,3,2) và một căn nhà cấp 4 diện tích đất theo trích lục đo vẽ số 5918/2021, ngày 31/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ.
Do đó, việc phê duyệt giá bán nhà thuộc sở hữu nhà nước và diện tích được cấp nhưng vẫn có những người khác đang ở trên đất là không đúng quy định, việc Công ty Cổ phần K ký hợp đồng mua bán nhà với bà Lâm Thị Hồng T là trái quy định, cần phải hủy một phần hợp đồng trên để khắc phục. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
- Hủy một phần hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số: 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/04/2006 của Công ty Cổ phần K đã ký với bà Lâm Thị Hồng T. Đối với diện tích 65,50m² đất có căn nhà cấp 4 hiện bà Lê Thị N1 đang trực tiếp sử dụng.
- Đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của một phần hợp đồng vô hiệu. Buộc bà Lê Thị N1 phải có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà Lâm Thị Hồng T số tiền 134.452.000đ (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi hai ngàn đồng) giá trị đất, theo văn bản số 506/VB-DONAVA ngày 03/8/2022 của Công ty Cổ phần K.
- Hủy Quyết định số 1876/QĐ.CT-UBT ngày 11/02/2006 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê.
Ngày 19/4/2024, người đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần K là ông Đàm Thế D có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Ngô Văn D1 vẫn đề nghị rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Tuyết M2, Công ty CP K có ý kiến như sau:
Căn nhà số I khu A, Đ, NTCS L, xã L, huyện L trước đây là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước do Nông trường cao su L, thuộc Công ty TNHH MTV K quản lý bố trí cho cán bộ công nhân viên sử dụng.
Thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 2709/UBT ngày 01/07/1999 V/v chuyển giao quỹ nhà ở thuộc ngành cao su quản lý sang cho Công ty Kinh doanh nhà Đồng Nai, Tổng công ty K đã bàn giao quỹ nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước tại Nông trường cao su L cho Công ty K để quản lý và bán nhà theo Nghị định số 61/CP. Theo danh sách bàn giao, trường hợp căn nhà số I Đ, NTCS L do bà Lâm Thị Hồng T đứng tên sử dụng.
Trong quá trình tiếp nhận bàn giao, Công ty không có tiếp nhận thông tin liên quan đến bà Huỳnh Thị Tuyết M2 tại căn nhà số I Đ, NTCS L, huyện L.
Từ các cơ sở trên, Công ty không có ý kiến đối với yêu cầu của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Thị Tuyết M2 đối với căn nhà số I Đ, Nông trường cao su L, huyện L nêu trên.
*Theo bản tự khai, bản trình bày ý kiến và tại phiên tòa bị đơn bà Lâm Thị Hồng T, người đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị H trình bày:
Trước năm 2006 bà Lâm Thị Hồng T là công nhân cạo mủ cao su thuộc Đội 1 của Nông trường cao su L tại xã L, huyện L nên được ưu tiên thuê đất có diện tích là 205,20m² có sẵn căn nhà diện tích 35,02m² để ở. Tiền thuê nhà đất hàng tháng được khấu trừ trực tiếp vào tiền lương làm việc của bà T tại Nông trường cao su.
Sau thời gian sinh sống trong căn nhà thuê của Nông trường cao su L thì đến năm 2006 nhà nước có chủ trương giao cho Công ty cổ phần K bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho công nhân cạo mủ cao su của Nông trường nên bà Lâm Thị Hồng T đã được mua lại phần đất và căn nhà mà bà T cùng ông D2 là chồng bà T đang thuê của Nông trường để sinh sống. Ngày 11/02/2006, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND về việc phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê đối với căn nhà số I khu A, Đội 1, Nông trường cao su L - xã L, huyện L cho bên mua nhà là bà Lâm Thị Hồng T có hiện trạng nhà trệt, cột tường gạch, mái tôn fibrôximăng, nền xi măng, nhà cấp 4, hạng 2, diện tích nhà sử dụng là 35,02m² và diện tích đất ở nhà 205, 20m². Giá nhà ở sau khi đã trừ đi số tiền được miễn giảm theo các chế độ chính sách là 7.003.459 đồng trong đó giá nhà ở nhà 4.590.307 đồng và giá đất ở là 2.413.152 đồng. Sau khi nhận được quyết định phê duyệt số 1876 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ thì vợ chồng bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và đã ký hợp đồng mua bán nhà với Công ty Cổ phần K. Sau khi hoàn tất các thủ tục tài chính và ký hợp đồng với Công ty CP K thì bà T, ông D2 đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 đối với diện tích đất 235m².
Ngày 27/3/2014, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quyết định số 802/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê (thay thế cho Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006) theo đó quyết định 802 đã điều chỉnh diện tích đất ở để bán cho bà Lâm Thị Hồng T từ 205,2m² thành 147,20m² và tiến hành thoái thu lại cho bà Lâm Thị Hồng T 682.080 đồng. Sau đó, căn cứ vào quyết định số 802 Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành Quyết định số 2475/QĐ-UBND ngày 13/6/2014 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 của bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 tại xã L, huyện L. Hiện nay Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2 đã thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2.
Sau khi bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 đã khởi kiện vụ án hành chính đối với Quyết định số 802 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Sau đó, ngày 20/01/2015 Ủy ban nhân dân tỉnh Đ đã ban hành quyết định số 134/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 802 của chủ tịch UBND tỉnh Đ nên bà Lâm Thị Hồng T đã rút đơn khởi kiện.
Như vậy, hiện nay đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 đất đối với diện tích đất 235m² do Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 vẫn còn giá trị sử dụng, chưa bị thu hồi hay hủy bỏ bằng văn bản hay quyết định nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và việc mua bán, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của bà Lâm Thị Hồng T là hoàn toàn đúng theo quy định và trình tự do Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành.
Nay Công ty CP K khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa công ty CP K và bà Lâm Thị Hồng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Huỳnh Thị Tuyết M2 cũng có yêu cầu độc lập về việc hủy hợp đồng mua bán nhà số 1486/HD-KDN ngày 19/4/2006 thì bà T không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì quá trình bà T thuê nhà tại Đ Nông trường cao su L - xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đã được sự công nhận của Nông trường cao su K, có thanh toán tiền thuê nhà đầy đủ và sau đó đã được ưu tiên mua nhà ở theo Quyết định số 1876 ngày 11/02/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bà Lâm Thị Hồng T là công nhân cạo mủ cao su của Nông trường nên được ưu tiên thuê nhà ở và được nhà nước bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là đúng quy trình và thủ tục. Đồng thời, tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhà ở với Công ty cổ phần K thì các bên đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Công ty cổ phần K ở Đồng Nai xác lập hợp đồng bán nhà ở theo đúng chính sách chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ và thẩm quyền của công ty được Nhà nước giao. Bên cạnh đó bà Lâm Thị Hồng T đã thanh toán đầy đủ nghĩa vụ tài chính sau khi mua nhà ở của Công ty CP K. Đồng thời tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 14/2018/QÐST-DS ngày 09/5/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần K ở Đồng Nai vì nguyên đơn không có quyền khởi kiện đối với việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006. Nên việc nguyên đơn công ty CP K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Huỳnh Thị Tuyết M2 yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa công ty CP K và bà Lâm Thị Hồng T là không có cơ sở nên đề nghị Tòa án bác yêu cầu của nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đối với việc nguyên đơn yêu cầu hủy Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ thì bà Lâm Thị Hồng T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì việc Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006 là đúng trình tự, thủ tục và đúng đối tượng.
Đối với việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1, bà Huỳnh Thị Tuyết M2 có yêu cầu độc lập về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 do UBND huyện L cấp ngày 14/6/2009 số vào sổ HO 1499 thì bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 không đồng ý với các yêu cầu độc lập này vì việc bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 đối với diện tích đất 235m² là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật và đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước, Công ty CP K.
Việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N1 có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 65,5m² thuộc thửa 226, tờ bản đồ số 19 tại xã L, huyện L và công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215 ngày 14/11/2014 do UBND huyện L cấp cho bà Lê Thị N1 thì bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 không đồng ý vì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên của bà Lê Thị N1 được cấp sau khi bà T, ông D2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này và đã bị Nhà nước thu hồi do cấp sai quy định. Đồng thời bà Lê Thị N1 không có cơ sở chứng minh quyền sở hữu đối với phần đất này. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N1 với lý do là nhà đất này bà T đã mua theo hợp đồng thuộc sở hữu của nhà nước thuộc quyền Công Ty CP K số 1468 HĐ KDN ký ngày 19/04/2006 giữa Công Ty K với bà Lâm Thị Hồng T.
Việc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Tuyết M2 có đơn khởi kiện yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 147,8m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thuộc thửa số 102, tờ bản đồ số 19 tại khu A, xã L, huyện L thì bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Huỳnh Thị Tuyết M2 vì phần đất này đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2, hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 đất đối với diện tích đất 235m² của bà T, ông D2 vẫn còn giá trị, chỉ tạm thời đang bị thu hồi bởi Ủy ban nhân dân huyện L. Vợ chồng bà T, ông D2 đã sinh sống, quản lý phần đất này từ trước năm 2006 ổn định cho đến nay có trải qua có quá trình từ thuê đất của Nông trường cao su K và mua lại nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước thông qua Công ty CP K và đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của Nhà nước. Nay bà Huỳnh Thị Tuyết M2 khởi kiện đòi lại đất và yêu cầu được công nhận quyền ở hữu là hoàn toàn không có cơ sở. Bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 xác định từ thời điểm bà T và ông D2 thuê phần đất này của Nông trường để ở cho đến khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này thì bà Huỳnh Thị Tuyết M2 không có mặt và sinh sống trên phần đất này và bà M2 cũng không có chứng cứ gì thể hiện quyền sở hữu đối với phần đất này.
Đồng thời theo bảng cam kết của bà: Lê Thị N1 ở trên đất đó là không phải quyền sở hữu của bà. Và bà đập nhà trả lại đất cho bà T, bà T không có yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập. Vì vậy đề nghị Tòa án xem xét giải quyết buộc bà N1 trả lại đất cho bà T ông D2.
Đối với bản trích lục đo vẽ của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, chứng thư thẩm định giá, bà T đồng ý không có ý kiến gì.
*Theo bản tự khai, quá trình làm việc và tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Lê Thị N1 có trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị L trình bày:
Năm 1996, bà N1 có nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị M1 là công nhân của Nông trường Cao su L một mảnh đất có diện tích là 80m² (chiều ngang 08m, chiều dài 10m) với giá 02 chỉ vàng 24K. Năm 1997, do hoàn cảnh khó khăn nên bà có dựng tạm 01 cái chòi để ở trên thửa đất này.
Năm 2014, thửa đất của bà N1 được UBND Long Thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215, ngày 14/11/2014, với diện tích đất 65,5m² thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ số I, tổ D, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì năm 2015, bà N1 được Nhà nước hỗ trợ xây nhà tình thương và bà Nguyên sinh S ổn định, không có tranh chấp trên thửa đất này từ đó cho đến nay. Bà Lâm Thị Hồng T nhận hóa giá mua bán đất năm bao nhiêu bà không được biết do gia đình bà T không ở trên thửa đất này.
Qua nội dung sự việc như trên bà N1 yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét, giải quyết như sau:
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ 06 xã L, huyện L, có diện tích 235m²; số vào sổ HO 1499 ngày 24/6/2009 cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2.
- Yêu cầu Tòa án hủy một phần hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 của Công ty Cổ phần K đã ký với bà Lâm Thị Hồng T.
- Yêu cầu Tòa án công nhận diện tích đất 65,5m² thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 (hiện nay) tại địa chỉ số I, tổ D, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai Thuộc quyền sử dụng của bà N1 và công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215 do U cấp ngày 14/11/2014 cho bà N1.
Đối với việc thẩm định giá thửa đất: Bà N1 đề nghị thẩm định giá đất theo giá Nhà nước. Do việc bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 1003, tờ bản đồ 06 (cũ) xã L, huyện L, có diện tích 235m²; số vào số HO 1499 ngày 24/6/2009 cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 thuộc về lỗi của Công ty cổ phần K nên bà N1 yêu cầu Công ty cổ phần K phải có trách nhiệm chịu chi phí thẩm định giá đất và tài sản trên đất và hậu quả của Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước do Công ty cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 ký ngày 19/4/2006 thì hai bên tự giải quyết với nhau. Bản thân bà không liên quan cũng như không có lỗi về việc này.
Bà đồng ý với kết quả chứng thư, ý kiến trả lời của Công ty thẩm định giá, Bản Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 5918/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ. Hiện nay, thửa đất của bà còn diện tích 65,5m².
*Theo bản tự khai, biên bản làm việc và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Huỳnh Thị Tuyết M2 có bà Lê Sử Kiều M3 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 15/10/1996, bà được cấp quyền sử dụng và bảo quản nhà ở đối với một phần thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 06, có diện tích: 213,3m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai do Giám đốc Nông trường cao su K cấp theo Quyết định thu hồi và bố trí nhà ở công nhân số 09/QĐ96. Quyết định được N1 Giám đốc Nông trường L từ 1986 đến năm 1997, ông Trương Văn N2 xác nhận là giấy tờ gốc, đúng sự thật vào ngày 31/7/2023.
Tháng 5 năm 2000, bà có vay mượn ông Nguyễn Hoàng H5 và bà Lê Thị T3 số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng) để chuẩn bị đám cưới cho con gái là Nguyễn Thị Ngọc T4. Sau khi đám cưới vài tháng, con gái lớn về nhà chồng bên L ở. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, bà và con trai đi vào ấp T, xã L, chăn bò thuê và ở lại nhà chủ bò, con gái út quá nhỏ cũng theo bà vào nhà chủ bò ở nhờ, căn nhà ngoài L bà khóa cửa và thỉnh thoảng về chăm nom, vào một hôm của năm 2000. Vợ chồng ông H5 bà T3 đã đến chỗ bà ở nhờ để thả bò tìm, nhưng không có bà ở nhà, chỉ có con gái út ở nhà một mình, vợ chồng họ quấy phá, thậm chí đánh đập con gái út của bà là cháu Nguyễn Thị Ngọc T1, lúc đó cháu mới 9 tuổi, hù dọa, ép con gái bà ký vào giấy tờ theo ý muốn ông H5, bà T3. Cháu T1 sợ hãi và ảnh hưởng tâm lý nặng nề sau sự việc đó.
Sau đó ông H5 bà T3 đã phá cửa và chiếm nơi ở của bà. Từ khi được cấp quyền sử dụng và bảo quản nhà ở, bà không thực hiện bất kì thủ tục chuyển nhượng, mua bán nào, bà đã thực hiện nghiêm túc thực hiện đúng Điều 3 của Quyết định số 09/QĐ96 do Giám đốc Nông trường L ban hành ngày 15/6/1996. Vì vậy, bà không chuyển nhượng thửa đất trên như lời khai của bà M1. Mà chính là vợ chồng ông H5, bà T3 tự ý phá cửa nhà chiếm đoạt và bán lại cho bà T (bà T là cháu ruột của 2 vợ chồng ông H5, bà T3).
Vào năm 2006, khi đó con gái út của bà muốn làm giấy tờ chứng minh nhân dân để chuẩn bị thi đại học, lúc đó cháu có nghe kêu gọi người dân làm giấy tờ đất, cháu có tìm ông D1 thuộc cán bộ nông Trường L, lúc đó ông D1 là người làm giấy tờ ra sổ đỏ, cháu hỏi, ông D1 căn nhà đó của Má con, vậy ra sổ cho Má con hay ra cho vợ chồng ông H5, bà T3, vì bao che cho 2 vợ chồng ông H5, bà T3, ông D1 không giúp đỡ, còn chửi mắng, xem thường, xúc phạm con bà, làm tâm lý cháu sợ hãi 1 lần nữa.
Qua những điều trình bày trên đây, bà có yêu cầu độc lập và kính đề nghị quý tòa xem xét giải quyết như sau:
- Thứ nhất, bà không chuyển nhượng, mua bán cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, vì vậy yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước số 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/4/2006 giữa Công ty CP K với bà Lâm Thị Hồng T.
- Thứ hai, hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 do UBND huyện L cấp ngày 24/6/2009 số vào sổ HO 1499.
- Thứ ba, công nhận quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 06, có diện tích: 213,3m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (hiện nay là thửa đất số 102, tờ bản đồ số 19, diện tích: 147,8m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai).
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bà M2 rút yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 do UBND huyện L cấp ngày 24/6/2009 số vào sổ HO 1499 do UBND huyện L đã thu hồi; các yêu cầu còn lại bà vẫn giữ nguyên.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện L có người đại diện theo ủy quyền ông Hoàng Mạnh H4 - Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường văn bản trình bày ý kiến:
Theo Văn bản số 529/CV-TA ngày 01/06/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Theo đó thể hiện nội dung yêu cầu có ý kiến đối với việc trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự trình bày hiện tại UBND huyện L đã thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ngày 24/6/2009 cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 đối với thửa đất số 1003 tờ bản đồ số 6 xã L và BO 253215 ngày 14/11/2014 cho bà Lê Thị N1 đối với thửa đất số 226 tờ bản đồ số 19, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Đối với nội dung yêu cầu trên, Phòng T có ý kiến như sau:
- Quyết định số 2475/QĐ-UBND ngày 13/6/2014 của UBND huyện L về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T tại xã L, huyện L.
- Ngày 09/07/2014, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ Chi nhánh-L điều chỉnh trang tư giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T, có nội dung: căn cứ Quyết định số 2475/QĐ UBND ngày 13/6/2014 của UBND huyện L về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T tại xã L, huyện L.
- Căn cứ hồ sơ rà soát nêu trên, thì hiện nay Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T đã được UBND huyện L thu hồi theo Quyết định số 2475/QĐ-UBND ngày 13/6/2014 và được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 xác nhận tại trang tư Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215 cấp ngày 14/11/2014 cho bà Lê Thị N1, thì căn cứ hồ sơ rà soát nêu trên chưa thể hiện UBND huyện ban hành quyết định thu hồi và chưa thể hiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 xác nhận tại trang tư giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này chưa được thu hồi.
Trên đây là ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện L. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xác minh thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án theo đúng quy định.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có ông Nguyễn Như Nghĩa L1 đại diện theo ủy quyền có văn bản trình bày ý kiến như sau:
- Nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất
- Từ năm 2004 trở về trước: Thửa đất số 1003, tờ bản đồ địa chính số 6, xã L, diện tích 235 m² được Nhà nước giao cho Nông trường cao su L quản lý, trên thửa đất có 01 căn nhà dưới cấp 4, diện tích 36m² do Pháp xây dựng năm 1942, sử dụng làm nhà ở cho công nhân viên; từ năm 1996 trở về trước, Nông trường cao su L giao nhà cho công nhân Lưu Thị M1 quản lý, sử dụng; năm 1996, bà Lưu Thị M1 đã tự ý chuyển nhượng trái phép diện tích 80m² đất cho bà Lê Thị N1 và bà N1 đã tự ý xây dựng nhà tạm (nhà vách đất lợp tôn) để ở từ năm 1996 cho đến nay (hiện tại là căn nhà số I); Đến tháng 8/2015, bà Lê Thị N1 được Hội chữ thập đỏ huyện L xây dựng căn nhà Chữ thập đỏ vì hoàn cảnh gia đình bà là hộ nghèo phải nuôi cháu ngoại mồ côi cha mẹ, bản thân bà có tham gia cách mạng và được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất.
- Ngày 15/10/1996, Nông trường cao su K ký Quyết định số 09/QĐ thu hồi căn nhà cấp 4 do bà Lưu Thị M1 đang sử dụng và giao cho công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 quản lý, sử dụng; năm 2000, bà M2 tự ý chuyển nhượng trái phép diện tích đất còn lại khoảng 155 m² (235m² trừ 80m²), cho bà Lâm Thị Hồng T, ngụ tại tổ E, khu A, xã L, trên phần đất chuyển nhượng có căn nhà dưới cấp 4, diện tích 36m² do Pháp xây dựng năm 1942 (hiện tại là căn nhà số I); tại thời điểm năm 2000, bà T chưa làm công nhân Nông trường. Từ khi nhận chuyển nhượng nhà từ bà M2 cho đến nay, bà T không đăng ký hộ khẩu thường trú và cũng không sinh sống trên căn nhà số I, khu A, xã L; người đăng ký hộ khẩu thường trú và trực tiếp sinh sống trên căn nhà số I, khu A, xã L từ năm 2000 đến nay là ông Lâm Văn H1 cùng mẹ, vợ, con ông H1 (ông H1 là anh ruột bà Lâm Thị Hồng T).
Như vậy, từ năm 2004 trở về trước, Nông trường cao su L được Nhà nước giao quản lý thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 6, xã L, diện tích 235 m², trên thửa đất có căn nhà dưới cấp 4, diện tích 36m² sử dụng làm nhà ở cho công nhân. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý Nông trường cao su K đã buông lỏng quản lý, để cho công nhân Lưu Thị M1 và công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 tự ý chuyển nhượng trái phép diện tích nhà của nhà nước cho người khác.
- Từ năm 2004 đến nay:
Ngày 06/10/2004, UBND tỉnh ký Quyết định số 4713/QĐ.CT.UBT thu hồi diện tích 1.714.824m² đất tại xã L, xã T, xã L, huyện L giao cho Công ty K (hiện nay là Công ty cổ phần K) quản lý để lập quy hoạch và thực hiện việc bán nhà cho cán bộ công nhân viên Công ty K theo quy định tại Nghị định 61/CP ngày 05/07/1994 của Chính phủ.
Theo hợp đồng ký kết với Công ty K, tháng 7/2004, Công ty TNHH Đ1 tiến hành đo đạc nhà để lập thủ tục bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê; tại thời điểm đo đạc trên thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 06, xã L có 2 căn nhà, gồm 01 căn nhà cấp 4 do ông Lâm Văn H1 quản lý, sử dụng (căn nhà số I) và 01 căn nhà tạm do bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng (căn nhà số I). Tuy nhiên, tại bản trích đo Hồ sơ kỹ thuật thửa đất tỷ lệ 1:400, thửa đất số 1003, Tờ BĐĐC số 6, xã L, diện tích 235 m² (trong đó: 205m² đất ở và 30m² diện tích đất nằm trong quy hoạch đường giao thông) do Công ty TNHH Đ1 lập ngày 10/8/2005, không thể hiện ranh giới sử dụng đất giữa 2 căn nhà do ông Lâm Văn H1 và Lê Thị N1 đang sử dụng.
Ngày 11/2/2006, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T, bao gồm 35,02 m² nhà dưới cấp 4 và 205,2m² đất ở. Tuy nhiên, trong đó có cả diện tích nhà do bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng.
Như vậy, tại thời điểm Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T trên thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 06 xã L, diện tích đất là 235 m² có 2 đối tượng đang quản lý, sử dụng nhà là ông Lâm Văn H1 và bà Lê Thị N1.
- Về việc bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê:
- Về thủ tục bán căn nhà số I, khu A, xã L:
- Về xử lý các sai sót khi lập thủ tục bán căn nhà số I, khu A, xã L:
Thực hiện Văn bản số 2709/UBT ngày 01/7/1999 của UBND tỉnh V chuyển giao nhà ở công nhân viên chức do ngành cao su quản lý cho Công ty kinh doanh nhà quản lý; ngày 02/12/2003, Công ty K biên bản bàn giao nhà ở và đất ở, Khi nhận bàn giao không kiểm tra hiện trạng thực tế sử dụng mà chỉ nhận bàn giao nhà theo danh sách do Nông trường cao su lập, trong đó có căn nhà số I, khu A do bà Lâm Thị Hồng T đang đứng tên thuê.
Ngày 01/4/2004, Công ty K ký Hợp đồng số 133/HĐ cho bà Lâm Thị Hồng T thuê căn nhà số I, Khu A, Đ, Nông trường cao su L. Tuy nhiên, qua làm việc với T5 khu 14, xã L và Công an xã L xác định bà Lâm Thị Hồng T không đăng ký hộ khẩu thường trú (tạm trú) và cũng không sinh sống trên căn nhà số I, tổ D, khu A, xã L từ năm 2000 đến nay.
Căn cứ hồ sơ kỹ thuật thửa đất và hợp đồng cho thuê nhà, Công ty cổ phần K lập danh sách nhà, đất đủ điều kiện bán nhà cho người đang thuê, trong đó có trường hợp của bà Lâm Thị Hồng T là công nhân Nông trường từ năm 2003 đang đứng tên thuê căn nhà số I, khu A, xã L, trình UBND tỉnh và thường trực Hội đồng bán nhà của tỉnh phê duyệt. Ngày 11/2/2006, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1876/QĐ.CT.UBND phê duyệt giá bán căn nhà số I, khu A, đội A, Nông trường Cao su L, xã L, huyện L cho bên mua nhà là bà Lâm Thị Hồng T, diện tích 205,2m² đất ở và 35,02m² nhà dưới cấp 4, hạng 2. Ngày 19/4/2006, Công ty cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T ký Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước số 1486/HĐ-KDN với tổng giá trị là 7.003.459 đồng, trong đó: Giá nhà ở là 4.590.307 đồng, giá trị đất ở là 2.413.152 đồng (giá trị đất tính bằng 40% giá đất của UBND tỉnh quy định). Ngày 19/4/2006, bà Lâm Thị Hồng T đã nộp đủ tiền mua nhà vào ngân sách nhà nước
Như vậy, qua thẩm tra, xác minh tổ công tác nhận thấy bà Lâm Thị Hồng T không có nhu cầu về nhà ở, nhưng năm 2004 vẫn ký hợp đồng thuê nhà ở với Công ty cổ phần K và năm 2006 vẫn đăng ký mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê, được Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt bán căn nhà số I, khu A, xã L, huyện L cho bà; theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ quy định: “...Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở”. Tuy nhiên, bà Lâm Thị Hồng T đã có chỗ ở nơi khác và thực tế bà cũng không có nhu cầu sử dụng căn nhà số I nêu trên, do đó theo quy định thì bà không thuộc đối tượng được mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.
Mặt khác, khi nhận được quyết định bán nhà của Chủ tịch UBND tỉnh, diện tích đất ghi trên quyết định không đúng hiện trạng sử dụng đất, bà không thông báo cho Chủ tịch UBND tỉnh biết để xử lý theo quy định, mà vẫn ký hợp đồng mua bán nhà với Công ty Cổ phần K.
Ngày 24/6/2009, UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 397082 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T (Trong đó bao gồm 01 căn nhà cấp 4 và phần diện tích 65,5m² nhà do bà Lê Thị N1 đang quản lý sử dụng từ năm 1996
Ngày 08/6/2010, bà Lê Thị N1 có đơn gửi UBND huyện L phản ánh diện tích 80m² đất bà đang sử dụng, nhưng UBND huyện L đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là Giấy CNQSD đất) cho bà Lâm Thị Hồng T; ngày 24/11/2011, Chủ tịch UBND huyện L ban hành Quyết định số 6125/QĐ-UBND giải quyết bác đơn của bà Lê Thị Nguyên D4 không có cơ sở xem xét giải quyết. Không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND huyện L, bà N1 tiếp tục có đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND tỉnh. Ngày 17/01/2012, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 248/QĐ-UBND huỷ bỏ Quyết định số 6125/QĐ-UBND ngày 24/11/2011 của Chủ tịch UBND huyện L, lý do: Việc giải quyết đơn không đúng quy định pháp luật về khiếu nại.
Trên cơ sở kiến nghị của UBND huyện L, ngày 25/12/2012, UBND tỉnh ký Văn bản số 10348/UBND-TCD giao Thanh tra tỉnh chủ trì, phối hợp với Sở T7, Sở Xây dựng thống nhất ý kiến đề xuất UBND tỉnh xử lý dứt điểm vụ việc liên quan đến việc sử dụng đất của bà Lê Thị N1; ngày 07/2/2013, Thanh tra tỉnh có Văn bản số 106/TT-NV1 V/v liên quan đến việc sử dụng đất của bà Lê Thị N1, trong đó kiến nghị đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, xử lý: Giao Sở Xây dựng chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu UBND tỉnh điều chỉnh giảm diện tích 80m² đất tại Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 11/02/2006 phê duyệt giá bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T để làm cơ sở cho UBND huyện L thu hồi Giấy CNQSD đất đã cấp cho bà Lâm Thị Hồng T; căn cứ quyết định điều chỉnh Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 11/02/2006, UBND huyện L tiến hành thực hiện thủ tục thu hồi Giấy CNQSD đất số AO 397082 ngày 24/06/2009 đã cấp cho bà Lâm Thị Hồng T để xét cấp lại cho đúng diện tích thực tế sử dụng.
Ngày 28/02/2013, UBND tỉnh ký Văn bản số 1607/UBND-TCD giao Sở Xây dựng tham mưu UBND tỉnh xử lý điều chỉnh giảm 80m² đất tại Quyết định số 1876/QĐ-UBT; xét Tờ trình số 53/TTr-SXD ngày 17/3/2013 của Sở Xây dựng, UBND tỉnh ký Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 phê duyệt lại giá bán nhà đất căn nhà số I, khu A, xã L cho bà Lâm Thị Hồng T (thay thế cho Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBT ngày 11/02/2006), trong đó điều chỉnh giảm diện tích đất từ 205,2m² xuống còn 147,2m², giảm 58m² đất.
Sau khi nhận được Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh, bà Lâm Thị Hồng T đã khởi kiện quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh đến Toà án nhân dân tỉnh; ngày 22/10/2014, Tòa án tỉnh có Thông báo số 11/TB-TL thông báo về việc thụ lý vụ án; ngày 31/10/2014, UBND tỉnh có Văn bản số 10308/UBND-NC v/v uỷ quyền tham gia tố tụng vụ án hành chính sơ thẩm do ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T khởi kiện, trong đó UBND tỉnh uỷ quyền cho ông Chu Việt H6 (Trưởng phòng quản lý nhà và thị trường bất động sản - Sở X) đại diện Chủ tịch UBND tỉnh tham gia tại Tòa án. Trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, Sở Xây dựng đã có Tờ trình số 08/TTr-SXD ngày 14/01/2015 đề xuất, kiến nghị UBND tỉnh ban hành quyết định thu hồi Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 phê duyệt lại giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T.Ngày 20/1/2015, Chủ tịch UBND tỉnh ký Quyết định số 134/QĐ-UBND thu hồi Quyết định số 802/QĐ- UBND ngày 27/3/2014, giữ nguyên nội dung Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBT ngày 11/02/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh.
Bà Lê Thị N1 có đơn khiếu nại đề ngày 22/4/2015 gửi Chủ tịch UBND tỉnh với nội dung không đồng ý với quyết định số 134/QĐ-UBND ngày 20/1/2015 của UBND tỉnh.
- Về trình tự, thủ tục cấp và thu hồi Giấy CNQSD đất
- Đối với trường hợp của bà Lâm Thị Hồng T:
- Đối với trường hợp của bà Lê Thị N1:
- Về quá trình quản lý, sử dụng đất và thực hiện trình tự, thủ tục bán nhà thuộc sở hữu nhà nước:
- Về trình tự xét cấp Giấy CNQSD đất
- Đối với trường hợp bà Lâm Thị Hồng T:
- Đối với trường hợp bà Lê Thị N1
- Về việc điều chỉnh sửa đổi quyết định phê duyệt giá bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T:
a) Về trình tự, thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2:
Qua kết quả xác minh và kiểm tra, rà soát lại toàn bộ hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T, thể hiện:
Căn cứ Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006 phê duyệt giá bán căn nhà số I, khu A, đội A, Nông trường Cao su L, xã L huyện L với diện tích nhà sử dụng 35,02m²; diện tích đất ở 205,20m² cho người đang thuê là bà Lâm Thị Hồng T. Công ty cổ phần K ký kết hợp đồng mua bán nhà với bà Lâm Thị Hồng T theo quy định.
Ngày 24/1/2009, bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 (chồng bà T) ký Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được UBND xã L xác nhận ngày 25/2/2009 với nội dung: Đất nằm trong quy hoạch đất ở nông thôn, kèm theo danh sách công khai các trường hợp đủ điều kiện cấp Giấy CNQSDĐ tại xã L, thời gian công khai từ ngày 10/2/2009 đến ngày 25/2/2009; ngày 25/02/2009 UBND xã L có Tờ trình số 76/TT.UB về việc cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T, nội dung kết luận đủ điều kiện cấp Giấy CNQSD đất, đề nghị Phòng T, UBND huyện L xem xét cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T tại thửa đất 1003, tờ bản đồ địa chính số 6, xã L, diện tích 235m²; Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất huyện xác nhận ngày 25/3/2009 là hồ sơ lập đúng quy định, kính trình Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện xem xét, giải quyết; ngày 14/4/2009, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện trình và được UBND huyện L cấp Giấy CNQSDĐ số A0 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T (trong đó bao gồm phần diện tích 65,5m² nhà và đất do bà Lê Thị N1 đang quản lý, sử dụng từ năm 1996).
b) Về trình tự, thủ tục thu hồi Giấy CNQSDĐ ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T:
Ngày 19/3/2012, UBND huyện L ký Văn bản số 248/UBND-NC về việc thực hiện Quyết định số 248/QĐ-UBND ngày 17/01/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh, trong đó giao Thanh tra huyện thẩm tra việc cấp Giấy CNQSDĐ cho ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T. Ngày 28/4/2012, Thanh tra huyện có Báo số 145/BC-TTr với nội dung báo cáo đề xuất UBND huyện kiến nghị UBND tỉnh điều chỉnh Quyết định 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006 của UBND tỉnh; ngày 25/4/2012, Thanh tra huyện có Báo số 92/BC-TTr về việc thẩm tra việc cấp Giấy CNQSD đất cho bà Lâm Thị Hồng T, trong đó kiến nghị UBND huyện thu hồi Giấy CNQSDĐ số A0 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T.
Ngày 27/3/2014, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 802/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước đối với căn nhà số I, khu A, Đ, Nông trường Cao su L, xã L, huyện L cho bên mua là bà Lâm Thị Hồng T với diện tích nhà sử dụng 35,02m²; diện tích đất ở 147,20m² (thay thế cho Quyết định 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006).
Để triển khai thực hiện, UBND huyện L giao Thanh tra huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện và UBND xã L cập nhật hồ sơ, theo dõi thực hiện; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện rà soát tham mưu UBND huyện thu hồi Giấy CNQSDĐ đã cấp cho ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T tại Văn bản số 1957/UBND-NC ngày 23/4/2014 về việc thực hiện Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/03/2014.
Sau khi thẩm tra, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện có Tờ trình số 181/TTr-TNMT ngày 28/5/2014, kiến nghị UBND huyện L xem xét, ban hành quyết định thu hồi Giấy CNQSD đất số A0 397082 cấp ngày 24/6/2009 ghi tên ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T tại xã L; xét cấp lại giấy CNQSD đất cho ông Ngô Hoàng D2 và bà Lâm Thị Hồng T theo Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/03/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh.
Trên cơ sở kết quả thẩm tra việc cấp Giấy CNQSD đất cho bà T của Thanh tra huyện và tờ trình đề nghị thu hồi giấy CNQSD đất đã cấp cho bà T của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, UBND huyện L ký Quyết định số 2475/QĐ-UBND ngày 13/6/2014 thu hồi Giấy CNQSD đất số A0 397082 ngày 24/06/2009 cấp cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2, lý do thu hồi: Theo Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt lại giá bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê (thay thế cho Quyết định số 1876/QĐ-CT.UBND ngày 11/02/2006); đồng thời hướng dẫn hộ bà T kê khai đăng ký cấp lại Giấy CNQSD đất cho đúng với hiện trạng thực tế sử dụng.
Căn cứ Điều 101, Luật Đất đai năm 2013 quy định về Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất; sau khi tiếp nhận đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận tài sản trên đất của bà Lê Thị N1 ký ngày 10/7/2014, UBND xã L Xác nhận ngày 19/8/2014 không tranh chấp đất kèm theo gồm: đất, tài sản gắn liền với đất; hồ sơ Bản đo tách thửa đất bản đồ địa chính số 271/2014, tỷ lệ 1/200, người yêu cầu: Bà Lê Thị N1, diện tích sử dụng 65,5m² do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L2 thực hiện ngày 21/7/2014.
Danh sách công khai số 51/DSTB ngày 01/8/2014 của UBND xã L về kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại xã L; tên người dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là bà Lê Thị N1; thời gian công khai là 15 ngày, kể từ ngày 01/8/2014 đến ngày 18/8/2014; địa điểm tại UBND xã L.
Tờ trình số 284/TTr.UBND ngày 19/8/2014 của UBND xã L về việc cấp Giấy CNQSD đất cho bà Lê Thị N1 xác nhận hồ sơ đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Phiếu lấy ý kiến của Khu dân cư lập ngày 21/8/2014 của UBND xã L về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 226, tờ bản đồ số 19, khu 14 xã L chủ sử dụng đất là bà Lê Thị N1 với nội dung: Đất có nguồn gốc do Nông trường Cao su L cấp cho bà Lưu Thị M1 vào năm 1985, đến năm 1996 bà M1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N1 sử dụng để làm nhà ở (nhà tự xây dựng năm 1996) ổn định cho đến nay.
Xét Tờ trình số 3748/TTr-TNMT ngày 17/10/2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, nội dung kiến nghị UBND huyện L xem xét cấp giấy CNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà Lê Thị N1, tại xã L. Ngày 14/11/2014, UBND huyện L đã ký cấp Giấy CNQSD đất số B0 235215 cho bà Lê Thị N1, diện tích sử dụng là 65,5m².
Ngày 22/10/2014, Tòa án nhân dân tỉnh có Thông báo số 11/TB-TL về việc thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 09/2014/TLST-HC về: “khởi kiện Quyết định hành chính về việc phê duyệt lại giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê”. Nội dung khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt lại giá bán nhà thuộc sở hữu nhà nước cho người đang thuê. Trong thời gian UBND huyện L các thủ tục xét cấp Giấy CNQSD đất cho bà Lê Thị N1 là dựa trên cơ sở Quyết định số 802/QĐ- UBND ngày 27/3/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh với nội dung phê duyệt giảm diện tích 58m² đất ở bán cho bà Lâm Thị Hồng T. Tuy nhiên, tại thời điểm đó bà T đang khởi kiện Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/3/2014 của UBND tỉnh tại Tòa án nhân dân tỉnh.
Như vậy:
Từ năm 2004 trở về trước, Nông trường cao su L được Nhà nước giao quản lý thửa đất số 1003, tờ bản đồ địa chính số 6, xã L, diện tích 235 m², trên thửa đất có căn nhà dưới cấp 4 do P xây dựng năm 1942 có diện tích 36m² sử dụng làm nhà ở cho công nhân. Nhưng Nông trường cao su Long T6 đã buông lỏng quản lý để cho công nhân Lưu Thị M1 sang nhượng trái phép diện tích 80m² đất cho bà Lê Thị N1 vào năm 1996 và để cho công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 sang nhượng trái phép diện tích đất còn lại của thửa đất (khoảng 155 m²) cho bà Lâm Thị Hồng T vào năm 2000.
Do quy trình tạo lập hồ sơ bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước có những sai sót như đã nêu ở phần trên, dẫn đến Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh bán nhà cho bà T không đúng với diện tích đất thực tế sử dụng; hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty Cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T không đúng hiện trạng sử dụng đất.
Trách nhiệm để xảy ra các thiếu sót trên thuộc về Nông trường cao Su L và Công ty Cổ phần K trong quá trình tham mưu UBND tỉnh bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho bà T đã thiếu kiểm tra hiện trạng thực tế sử dụng, dẫn đến quyết định bán nhà của UBND tỉnh và hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước không đúng thực tế sử dụng nhà.
Do việc tạo lập hồ sơ bán nhà thuộc sở hữu nhà nước không đúng với hiện trạng thực tế sử dụng đất của bà Lâm Thị Hồng T (trên diện tích đất được UBND tỉnh bán cho bà T có diện tích nhà của bà Lê Thị N1 đang sử dụng), dẫn đến việc xét cấp Giấy CNQSDĐ cho bà T có sai sót; UBND huyện L đã ban hành Quyết định thu hồi lại giấy CNQSDĐ đã cấp cho bà Lâm Thị Hồng T theo quy định tại Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
UBND huyện L căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều 101 Luật đất đai số 22/2013/L-CTN ngày 09 tháng 12 năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất để xét cấp Giấy CNQSDĐ cho bà Lê Thị N1. Tuy nhiên, trước đó bà Lâm Thị Hồng T có đơn khởi kiện Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/03/2014 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt lại giá bán nhà cho bà tại Tòa án nhân dân tỉnh và diện tích đất bà N1 xin cấp giấy CNQSDĐ vẫn thuộc Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty Cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T. Do đó, việc UBND huyện L xét cấp Giấy CNQSDĐ số BO 235215 ngày 14/11/2014 cho bà Lê Thị N1 là chưa phù hợp với quy định pháp luật.
Ngày 11/02/2006, Chủ tịch UBND ban hành Quyết định số 1876/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng Thuỷ và sau đó ngày 20/01/2015, Chủ tịch UBND ký Quyết định 134/QĐ-UBND về việc thu hồi Quyết định số 802/QĐ-UBND ngày 27/03/2014, giữ nguyên nội dung Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 11/02/2006. Tuy nhiên Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 11/02/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh là có sai sót vì Chủ tịch UBND tỉnh phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho bà Lâm Thị Hồng T, bao gồm 35,02m² nhà dưới cấp 4 và 205,2m² đất ở, nhưng trong đó có cả phần diện tích 65,5m² đất do bà Lê Thị N1 đang sử dụng và 01 căn nhà cấp 4 thuộc quyền sở hữu của bà N1 (Hiện tại căn nhà số I của bà Lê Thị N1 được Hội chữ thập đỏ huyện L xây dựng do hoàn cảnh gia đình bà là hộ nghèo, bản thân bà có tham gia cách mạng và được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất). Mặt khác qua thẩm tra, xác minh, thế hiện bà Lâm Thị Hồng T đã có chỗ ở nơi khác, không có nhu cầu về nhà ở, nhưng năm 2004 vẫn ký hợp đồng thuê nhà ở với Công ty Cổ phần K, được UBND tỉnh phê duyệt bán căn nhà số I, khu A, xã L, huyện L cho bà là không phù hợp theo quy định tại Điều 5, Nghị định số 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ quy định: “...Nhà nước thực hiện bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê phần diện tích đang được thuê để người mua nhà ở có điều kiện cải thiện chỗ ở”. Theo quy định của pháp luật hành chính thì Chủ tịch UBND có thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh quyết định hành chính do mình ban hành có sai sót để khắc phục. Tuy nhiên, Công ty cổ phần K đã căn cứ Quyết định số 1876/QĐ-UBND ngày 11/02/2006 của Chủ tịch UBND tỉnh để ký Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 với bà Lâm Thị Hồng T. Đây là hợp đồng dân sự và là cơ sở làm phát sinh quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở của bà Lâm Thị Hồng T. Việc xem xét giải quyết các hợp đồng về dân sự phải được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Vì vậy để giải quyết khắc phục triệt để sai sót nêu trên thì phải xử lý hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 theo đúng quy định pháp luật.
Qua các nội dung nêu trên, để giải quyết vụ việc cần xem xét giải quyết Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T. Đối với vấn đề này, ngày 03/6/2016 Công ty cổ phần K và các đơn vị liên quan đã làm việc với bà Lê Thị H (người được bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 uỷ quyền) để thương lượng, thỏa thuận bồi thường hợp đồng đối với phần chênh lệch diện tích đất bà T đã nộp tiền sử dụng đất trước đây. Tại buổi làm việc bà Lê Thị H (người được bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 uỷ quyền) không đồng ý thương lượng, thoả thuận mà đề nghị Công ty cổ phần K khởi kiện tại Toà án để giải quyết dứt điểm vụ việc theo quy định.
Do việc thương lượng, thỏa thuận bồi thường Hợp đồng giữa hai bên không thành. Do đó, để xử lý dứt điểm Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T phải được thực hiện bằng bản án hoặc quyết định của Toà án.
Nông trường cao su L được Nhà nước giao quản lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, nhưng đã buông lỏng quản lý để cho công nhân sang nhượng trái phép; nên quy trình tạo lập hồ sơ bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước bị sai sót. Dẫn đến Quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh bán nhà cho bà Lâm Thị Hồng T không đúng với diện tích đất thực tế sử dụng; hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty Cổ phần K và bà Lâm Thị Hồng T không đúng hiện trạng sử dụng đất.
Trách nhiệm để xảy ra các thiếu sót trên thuộc về Nông trường cao Su L và Công ty Cổ phần K trong quá trình tham mưu UBND tỉnh bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước cho bà T đã thiếu kiểm tra hiện trạng thực tế sử dụng, dẫn đến quyết định bán nhà của UBND tỉnh và hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước không đúng thực tế sử dụng nhà.
Từ các nội dung trên kính đề nghị Toà án nhân dân tỉnh xem xét đối với nội dung khởi kiện của Công ty cổ phần K về việc “Yêu cầu huỷ hợp đồng mua bán nhà và huỷ Quyết định hành chính cá biệt”.
*Công ty TNHH MTV K có ý kiến:
Nông trường cao su L là đơn vị không có tư cách pháp nhân, trực thuộc Tổng Công ty K. Hiện nay, tại Tổng Công ty K không có Quyết định 09/QĐ ngày 15/10/1996 của nông trường L. Do đó, Tổng Công ty K không xác định được Quyết định 09/QĐ ngày 15/10/1996 do nông trường L ban hành hay không.
Theo danh sách do nông trường Long Thành lập vào ngày 04/11/1997, Tổng Công ty K có thông tin bà Huỳnh Thị Tuyết M2 sử dụng nhà cấp 4 – nhà Pháp của đội 1 nông trường L (STT 139 – Huỳnh Thị Tuyết M2 - Số nhà 65f - Năm xây dựng 1942 - Diện tích 36 m² – Khu 14). Danh sách nhà ở công nhân viên chức nông trường cao su L bàn giao cho Công ty K chỉ có tên bà Lâm Thị Hồng T (STT 133 – trang 5), không có tên bà Huỳnh Thị Tuyết M2. Nội dung này, Tổng Công ty K không có thông tin.
Tại Bảng tổng hợp diện tích đất thổ cư Đội 1 nông trường L (trang 8) có tên bà Nguyễn Thị Tuyết M4 đang sử dụng đất với diện tích 220m² tại thửa đất 182, tờ bản đồ số 6.
Ngày 06/10/2004, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4713/QĐ.CT.UBT thu hồi 1.714.824 m² đất tại xã L, T và Long An do nông trường L (thuộc Công ty K) đang sử dụng.
Ngày 07/4/2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành Quyết định 849/QĐ-UBND điều chỉnh Điều 1 Quyết định số 4713/QĐ.CT.UBT thu hồi 1.688.241 m² đất tại xã L, T và Long An do nông trường L (thuộc Công ty K) đang sử dụng.
Ngày 16/3/2007, Tổng Công ty K đã ký Biên bản bàn giao đất theo đúng quyết định nêu trên của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Do đó, hiện nay Tổng Công ty K không còn quản lý, sử dụng diện tích đất nêu trên và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Tuyết M2.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lưu Thị M1 có ý kiến:
Bà M1 xác định về nguồn gốc của diện tích đất bà Lê Thị N1 và bà Lâm Thị Hồng T đang quản lý sử dụng như sau:
Bà M1 là công nhân của Nông trường Cao su L. Năm 1993, bà M1 được Nông trường cấp cho một phần diện tích đất tương ứng với thửa 266, tờ bản đồ 19, tổ D, khu A, xã L huyện L, tỉnh Đồng Nai hiện tại.
Năm 1996 bà M1 chuyển nhượng một phần diện tích khoảng 80m² thuộc một phần diện tích đất nói trên cho bà Lê Thị N1 với giá 02 chỉ vàng 24k. Bà M1 đã nhận đủ 02 chỉ vàng và hai bên có lập Giấy chuyển nhượng ngày 07/6/1996, bà M1 xác định Giấy chuyển nhượng ngày 07/6/1996 mà bà N1 cung cấp trong hồ sơ là đúng sự thật.
Năm 1997, bà M1 được cấp diện tích đất khác nên Nông trường cao su cấp lại diện tích đất này cho bà Nguyễn Thị M4. Do bà M1 đã chuyển nhượng 80m² cho bà N1 nên có gặp bà M4 và bà N1 để thoả thuận. Nội dung thỏa thuận là bà M4 nhận lại 02 chỉ vàng của bà N1 và đồng ý chuyển nhượng cho bà N1 sử dụng diện tích 80m² nói trên. Sau này bà M4 chuyển nhượng phần diện tích còn lại cho bà T như thế nào thì bà không rõ.
Bà xác định phần diện tích bà N1 đang quản lý sử dụng hiện tại đúng với phần diện tích bà đã chuyển nhượng cho bà N1 trước đây. Do đó, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N1, công nhận quyền sử dụng đất cho bà N1.
Hiện bà đã lớn tuổi, không có yêu cầu gì trong vụ án này và bà cũng không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào nên bà đề nghị Toà án không đưa bà tham gia tố tụng và xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lâm Văn H1, ông Lâm Nhật C1, bà Nguyễn Thị Thu A có bản tự khai:
Vào năm 2006 bà Lâm Thị Hồng T ký hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước mà đại diện bên mua bán là công ty cổ phần K ở Đồng Nai hợp đồng số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006, bà T đồng ý mua căn nhà số I khu A đội A nông trường cao su L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai với diện tích sử dụng là 205,20m², diện tích đất ở là 35,02m² giá trị là 7.003.459 đồng, sau khi mua xong bà T đã thanh toán đầy đủ, hằng năm bà T đóng tiền thuế đất đầy đủ đến năm 2007 bà T theo chồng đến nơi khác sinh sống và để đất và nhà cho mẹ là bà Lê Thị H sinh năm 1958 và ông Lâm Văn H1, bà Nguyễn Thị Thu A ở đến nay trên phần đất của bà T đang sử dụng là 205, 20m², có nhà ở của bà Lê Thị N1 ở trước nhà khiến việc sinh hoạt gia đình ông bà gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy ông bà yêu cầu tòa án tỉnh xem xét giải quyết phần đất của bà N1 cho gia đình ông bà sinh hoạt được thuận lợi và được lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà T đã mua.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DSST ngày 25-4-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định:
Căn cứ vào các Điều 34, 37, 147 Điều 227 và 228 của Bộ luật Tốtụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 122, 127, 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 124; 132; Điều 166 Bộ luật Dânnăm 2015; điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015; Pháp lệnh số: 10/2009/UBTVQH12 ngày 27 tháng 02 năm 2009 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án để giải quyết.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần K về việc yêu cầu hủy một phần hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số: 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/04/2006 của Công ty Cổ phần K đã ký với bà Lâm Thị Hồng T; Yêu cầu hủy Quyết định số 1876/QĐ.CT-UBT ngày 11/02/2006 của UBND tỉnh Đ về việc phê duyệt giá bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Tuyết M2 về việc:
- Công nhận quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 1003, tờ bản đồ số 06, có diện tích: 235,3m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai (hiện nay là thửa đất số 102, tờ bản đồ số 19, diện tích: 147,8m² tọa lạc tại xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Tuyết M2 về việc yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước số 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/4/2006 giữa Công ty CP K với bà Lâm Thị Hồng T.
- Đình chỉ về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HO 1499 ngày 24/6/2009 của UBND huyện L cấp cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2 của bà Huỳnh Thị Tuyết M2.
- Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1 về việc:
- Hủy một phần hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước số: 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/04/2006 của Công ty Cổ phần K đã ký với bà Lâm Thị Hồng T.
- Công nhận diện tích đất 65,5m² (được giới hạn các mốc 2,8,4,3,2) và một căn nhà cấp 4 diện tích đất theo trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất số 5918/2021, ngày 31/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 (hiện nay) tại địa chỉ số I, tổ D, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai thuộc quyền sử dụng của bà Lê Thị N1 và công nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215 do U cấp ngày 14/11/2014 cho bà Lê Thị N1 có giá trị pháp lý.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Lê Thị N1 về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HO 1499 ngày 24/6/2009 của UBND huyện L cấp cho bà Lâm Thị Hồng T và ông Ngô Hoàng D2, do đã bị thu hồi.
- Bà Lâm Thị Hồng T được quyền sử dụng, sở hữu căn nhà trên diện tích đất 147.8m² (được giới hạn các mốc 2,8,4,3,2) theo trích lục đo vẽ số 5918/2021, ngày 31/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ, thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Buộc bà Lê Thị N1 thanh toán cho bà Lâm Thị Hồng T số tiền là: 134.452.000đ (Một trăm ba mươi tư triệu bốn trăm năm mươi hai ngàn đồng).
Bà Lâm Thị Hồng T liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền (Văn phòng đăng ký đất đai, Phòng T, các cơ quan...) để làm các thủ tục chỉnh lý, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02- 4-2024, bị đơn bà Lâm Thị Hồng T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Ngày 08-5-2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Tuyết M2 có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của những người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; các bên đương sự không thỏa thuận, thương lượng được với nhau.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà, hủy quyết định hành chính cá biệt, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về hình thức, đơn kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Ngày 02/4/2024, bà Lâm Thị Hồng T (bị đơn) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Ngày 08/5/2024 bà Huỳnh Thị Tuyết M2 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) kháng cáo yêu cầu hủy một phần bản án sơ thẩm, hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước giữa công ty cổ phần K với bà Lâm Thị Hồng T và công nhận 147,8m² đất tạo lạc tại xã L huyện L tỉnh đồng Nai cho bà M2.
- Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền.
- Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng.
- Về quan hệ tranh chấp: cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.
- Nội dung: Năm 1996 bà Lê Thị N1 có nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị M1 là công nhân của nông trường cao su Long Thành một mảnh đất có diện tích 80m² (chiều ngang 8m chiều dài 10m) với giá 02 chỉ vàng 24k. Năm 1997, do hoàn cảnh khó khăn nên bà có dựng tạm một cái chòi để ở trên thửa đất này. Tuy việc mua bán giữa bà M1 và bà N1 bằng giấy tờ tay, trong khi đó quyền sử dụng đất thuộc quyền quản lý của nhà nước. Sau khi nhận chuyển nhượng thì bà N1 làm nhà và sử dụng từ năm 1996 cho đến nay. Năm 2014, thửa đất của bà N1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215, ngày 14/112014, với diện tích đất 65,5m² thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ số I, tổ D, khu A, xã L huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Sau đó bà N1 được Nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà tình thương và bà Nguyên sinh S ổn định, không có tranh chấp trên thửa đất này từ đó cho đến nay. Bà Lâm Thị Hồng T nhận hóa giá mua bán đất năm bao nhiêu bà không được biết do gia đình bà T không có ở trên thửa đất này. Bà N1 có yêu cầu độc lập là hủy hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa công ty cổ phần K với bà Lâm Thị Hồng T. Hủy giấy chứng nhận QSDĐ số HO 1499 ngày 24/6/2009 do UBND huyện L cấp cho vợ chồng bà T ông D2. Công nhận quyền sử dụng đất có diện tích 65,5m² thuộc thửa 226 tờ bản đồ số 19 xã L huyện L cho bà N1. Quá trình giải quyết vụ án bà N1 rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSDĐ HO số 1499 ngày 24/6/2009 cấp cho vợ chồng bà T ông D2 do giấy chứng nhận QSDĐ này đã bị thu hồi.
Xét hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ngày 19/4/2006 giữa Công ty cổ phần K với bà Lâm Thị Hồng T, thể hiện: căn nhà số I, khu A, xã L thuộc dãy nhà liên kết có diện tích đất theo sổ sách là 220m², trên đó có 01 căn nhà 36m², Nhà nước tiếp quản của Pháp và giao cho nông trường L, trực thuộc Tổng công ty K quản lý, sử dụng. Nông trường giao cho công nhân Lưu Thị M1 thuộc đội 1 Nông trường quản lý, sử dụng để phục vụ sản xuất, đến 15/10/1996, căn cứ quyết định số 09/QĐ V/v thu hồi nhà đất của công nhân Lưu Thị M1 đang sử dụng để bàn giao nhà đất lại cho công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 sử dụng và bảo quản. Nông trường cao su Long Thành nghiêm cấm công nhân không được sang nhượng, mua bán bất kỳ lý do nào. Đến năm 2000, công nhân Huỳnh Thị Tuyết M2 thôi việc và giao trả nhà đất cho nông trường. Ban chỉ huy đội 1 đã giao lại cho công nhân Lâm Thị Hồng T sử dụng cho đến thời điểm lập thủ tục mua bán nhà theo NĐ 61/CP. Nhà ở, đất đai là sở hữu nhà Nhà nước giao cho nông trường quản lý, Nông trường giao lại cho công nhân đang làm việc để ổn định đời sống phục vụ cho sản xuất, do vậy Nông trường vẫn thường xuyên thông báo phổ biến rộng rãi đến từng hộ công nhân là không được mua bán, sang nhượng nhà cửa và đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước mà nông trường đang quản lý.
Ngày 06/10/2004, UBND tỉnh ký Quyết định số 4713/QĐ.CT.UBT thu hồi diện tích 1.714.824m² đất tại xã L, xã T, xã L, huyện L giao cho Công ty K (hiện nay là công ty CP K) quản lý để lập quy hoạch và thực hiện việc bán nhà cho cán bộ công nhân viên Công ty K theo quy định tại NĐ 61/CP.
Tháng 7/2004, Công ty TNHH Đ1 tiến hành đo đạc nhà để lập thủ tục bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho người đang thuê theo Hợp đồng ký kết với công ty CP K. Do sai sót trong quá trình đo đạc và lập hồ sơ kỹ thuật thửa đất thể hiện: thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 6 xã L, diện tích 235m² (trong đó: 205m² đất ở và 30m2 diện tích đất nằm trong quy hoạch giao thông) 01 căn nhà do ông Lâm Văn H1 đang quản lý, sử dụng (căn số 98). Thực tế trên thửa đất số 1003, tờ BĐĐC số 06, xã L có 02 căn nhà tọa lạc gồm: 01 căn do ông Lâm Văn H1 quản lý sử dụng (căn số 98) và 01 căn nhà tạm do bà Lê Thị N1 đang quản lý sử dụng (căn số 99). Như vậy khi công ty cổ phần K thực hiện ký hợp đồng bán nhà và đất cho bà T, trong khi trên đất có nhà tạm của bà N1 đang sinh sống là không đúng quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật Hợp đồng mua bán nhà thuộc sở hữu nhà nước số 1486/HĐ-KDN ký ngày 19/4/2006 giữa công ty CP K với bà Lâm Thị Hồng T là không đúng quy định, cần hủy toàn bộ, nhưng xét thấy sau khi ký hợp đồng bà T và bà N1 đều sinh sống ổn định, xây nhà trên đất nên chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà N1 về công nhận diện tích bà N1 đã làm nhà và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về hậu quả của Hợp đồng: các bên thống nhất tổng giá trị tài sản thẩm định là 425.577.000 đồng. Bà N1 đồng ý nộp cho bà T số tiền 134.452.000 đồng. Cho nên cấp sơ thẩm đồng ý yêu cầu độc lập của bà N1 là hủy một phần hợp đồng mua bán nhà giữa công ty CP K với bà Lâm Thị Hồng T và công nhận diện tích đất ở của bà N1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.
Bà T không đồng ý nhận giá trị quyền sử dụng đất là 134.452.000 đồng nên kháng cáo yêu cầu bà N1 trả lại diện tích 65,5 m² đất cho bà T.
Xét thấy: bà N1 đã sinh sống ổn định trên mảnh đất này từ năm 1996 đến nay và đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 235215, ngày 14/11/2014, với diện tích đất 65,5m² thuộc thửa đất số 266, tờ bản đồ số 19 tại địa chỉ số I, tổ D, khu A xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai và hiện tại bà N1 cũng không có chỗ ở nào khác nên cấp sơ thẩm buộc bà N1 phải trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà T là phù hợp. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà T về việc buộc bà N1 phải trả lại 65,5m² đất đã được cấp giấy chứng nhận.
Đối với yêu cầu độc lập của bà Huỳnh Thị Tuyết M2: bà M2 trước đây là công nhân nông trường cao su L, được nông trường giao nhà cho sử dụng và bảo quản. Nông trường nghiêm cấm công nhân không được sang nhượng, mua bán bất kỳ lý do nào. Năm 2000 bà Huỳnh Thị Tuyết M2 thôi việc và giao trả nhà đất cho Nông trường, sau đó Nông trường đã giao lại cho bà Lâm Thị Hồng T sử dụng cho đến thời điểm lập thủ tục mua bán nhà theo Nghị định 61/CP. Như vậy, quá trình sử dụng nhà của bà M2 đã chấm dứt từ khi bà M2 nghỉ làm ở Nông trường cao su L nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà M2 là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Nhận định của Hội đồng xét xử: Xét thấy, cấp sơ thẩm đã xét xử phù hợp theo quy định của pháp luật và tại phiên tòa hôm nay bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan kháng cáo nhưng không đưa ra được những chứng cứ khác ngoài những chứng cứ đã thu thập ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Do kháng cáo của bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không được chấp nhận nên phải chịu tiền án phí phúc thẩm. Tuy nhiên bà Huỳnh Thị Tuyết M2 (người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm do thuộc trường hợp người cao tuổi.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Lâm Thị Hồng T;
- Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị Tuyết M2.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà, hủy quyết định hành chính cá biệt, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Huỳnh Thị Tuyết M2 được miễn;
Bà Lâm Thị Hồng T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0000355 ngày 11-6-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Văn Yên |
Bản án số 663/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà; hủy quyết định hành chính cá biệt; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 663/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà; hủy Quyết định hành chính cá biệt; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn bà Lâm Thị Hồng T; Không chấp nhận đơn kháng cáo của bà Huỳnh Thị Tuyết M2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 15/2024/DS-ST ngày 25/4/2024 về việc “Yêu cầu hủy hợp đồng mua bán nhà, hủy quyết định hành chính cá biệt, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tranh chấp quyền sử dụng đất” của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
