Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 663/2025/HS-PT

Ngày: 31 - 10 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu

Các Thẩm phán:

  1. Ông Bùi Đức Nam
  2. Ông Trương Công Huấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 524/2025/TLPT-HS ngày 03/10/2025 đối với bị cáo Dương Quân T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Dương Quân T; giới tính: Nam; sinh năm 1984, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi đăng ký thường trú: H N, phường G, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hữu T1 (đã chết) và bà Dương Thị Thục T2 (đã chết); có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Quân T: Luật sư Nông Minh Đ và Luật sư Huỳnh Vũ Hà T3 - Công ty L, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 40 phút ngày 13/8/2023, bà Trương Thị Bích P đón xe ôtô G biển số 51H-329.85 do Dương Quân T điều khiển đi từ Bến xe miền Đ đến khách sạn N địa chỉ 8 đường H, Phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là 8 đường H, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh). Sau khi rời khỏi xe, phát hiện điện thoại di động Iphone 12 Promax bị rơi trên xe ôtô của T, bà P nhờ bạn là ông Lê Trọng P1 gọi điện thoại báo và nhắn tin cho Dương Quân T biết để lấy lại điện thoại nhưng T không trả lời. Sau đó ông Lê Trọng P1 nhắn tin xin chuộc lại điện thoại thì T yêu cầu muốn chuộc điện thoại phải đưa 10.000.000 đồng (mười triệu đồng), bà P1 xin giảm tiền chuộc xuống còn 9.000.000 đồng (chín triệu đồng), T đồng ý và yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản số 19868674 của Dương Quân T mở tại ngân hàng A để chuộc điện thoại, bà P1 không đồng ý và muốn gặp trực tiếp giao tiền để lấy được điện thoại, T đồng ý và báo địa chỉ gặp nhau tại số B đường V, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số B đường V, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày khi bà P1 đang giao tiền cho T thì Công an P2, quận P bắt quả tang, qua kiểm tra điện thoại của Dương Quân T có ghi nhận nội dung tin nhắn trao đổi đòi tiền chuộc điện thoại.

Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 22/KL-HĐĐGTS, ngày 09/10/2023: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax 512GB, số Imei: 350002265216612, có giá trị 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng).

Bản Cáo trạng số 20/CT-VKSKV5 ngày 24/7/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Dương Quân T về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 Toà án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Dương Quân T 09 (chín) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/8/2025, bị cáo Dương Quân T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự và căn cứ các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Dương Quân T 09 tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 21/8/2025 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51, đủ điều kiện để hưởng án treo nhưng xét thủ đoạn bị cáo thực hiện rất tinh vi nên không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cũng không bổ sung được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 47/2025/HS - ST ngày 15/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bào chữa cho bị cáo Dương Quân T trình bày: Luật sư không có ý kiến về tội danh cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng mức hình phạt 09 tháng tù áp dung cho bị cáo T là quá nghiêm khắc, trong vụ án này bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo còn phạm tội thuộc trường hợp chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự vì tài sản đã được trả lại cho bị hại chưa gây ra thiệt hại cho bị hại. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo được bị hại làm đơn xin giảm hình phạt, bản thân là lao động chính có công việc ổn định nhưng thu nhập thấp, hiểu biết hạn hẹp nên nhận thức pháp luật hạn chế là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị căn cứ Khoản 1, khoản 3 Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức án có lợi và căn cứ điểm d khoản 1 Điều 3; Điều 59; khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP không cần thiết áp dụng hình phạt tù giam, đề nghị giữ nguyên mức hình phạt 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo ấn định thời gian thử thách.

Kiểm sát viên đối đáp: Bị hại báo cơ quan cảnh sát điều tra, bắt quả tang bị cáo, kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội. Bị cáo làm G công nghệ vận chuyển hành khách lại cố ý chiếm đoạt tài sản của khách hàng không trả lại tài sản khi bị hại vô tình làm rơi trên xe của mình bắt bị hại phải có tiền chuộc tài sản. Mặc dù bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nhưng đề nghị áp dụng hình phạt tù để răn đe bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.

Luật sư bào chữa đối đáp: Thống nhất với nội dung bào chữa của luật sư H, đối đáp với Kiểm sát viên một số ý như sau: Hành vi phạm tội là lỗi là của bị cáo, tuy nhiên ý thức chiếm đoạt thụ động, phát sinh khi anh của bị hại P1 nói là muốn chuộc điện thoại. Bị cáo có tình cảnh khó khăn và hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cho bị cáo T chịu hình phạt tù là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ sức răn đe với bị cáo.

Kiểm sát viên đối đáp: Ý thức chiếm đoạt tài sản của bị cáo không thụ động như luật sư nêu, khi bị hại yêu cầu xin nhận lại được tài sản thì bị cáo hoàn toàn có ý thức để xử lý tình huống.

Các luật sư và Kiểm sát viên bảo lưu quan điểm trình bày và không tiếp tục tranh luận.

Bị cáo Dương Quân T đồng ý với lời bào chữa của Luật sư, không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận thức lỗi lầm, rất ăn năn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xin giảm nhẹ hình phạt cho được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Đơn kháng cáo của bị cáo Dương Quân T trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  3. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo Dương Quân T phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Dương Quân T đã có hành vi cố tình không trả lại tài sản là điện thoại di động Iphone 12 Promax trị giá là 16.000.000 đồng cho chủ sở hữu đã để quên trên xe ôtô của T mà chiếm giữ trái phép đồng thời yêu cầu tiền chuộc 9.000.000 đồng mới trả điện thoại. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo T về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan sai.
  4. Hành vi của bị cáo Dương Quân T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an an toàn xã hội, thủ đoạn phạm tội của bị cáo là tinh vi, luôn thay đổi hình thức giao tài sản, nhận tiền để đối phó với với chủ tài sản và cơ quan công an nên cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe, xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là không có căn cứ. Tuy nhiên, xét nội dung xin giảm hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra, truy tố, tại phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu, xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” là có phần nghiêm khắc, bởi lẽ: Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 16.000.000 đồng, tại khoản 1 Điều 176 của Bộ luật Hình sự quy định khung hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm đối với tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hạị, bị hại có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng là lập luận để chấp nhận quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Không chấp nhận quan điểm đề nghị cho bị cáo hưởng án treo của Luật sư bào chữa cho bị cáo.
  5. Do chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Dương Quân T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điêm c khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2025/HS-ST ngày 15/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Dương Quân T như sau:

Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Dương Quân T 06 (sáu) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Bị cáo Dương Quân T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (2)
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM; (3)
  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - P.PV06 - Công an TP.HCM; (1)
  • - Tòa án nhân dân Khu vực 5; (1)
  • - Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5; (1)
  • - Phòng THADS khu vực 5; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu Tòa Hình sự, hồ sơ (17). (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 663/2025/HS-PT ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (phúc thẩm) - chiếm giữ trái phép tài sản

  • Số bản án: 663/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm) - Chiếm giữ trái phép tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa Bản án hình sự sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger