|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 842/2024/HC-PT Ngày 12 – 8 – 2024 V/v Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh
Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Tấn Cường – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 07 và 12 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 384/2024/TLPT-HC ngày 20 tháng 4 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2381/2024/QĐ-PT ngày 23/7/2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1948 (vắng mặt);
- Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
- Ông Nguyễn Trung S, sinh năm 1957 (có mặt);
- Bà Trần Thị H2, sinh năm 1957 (có mặt);
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Địa chỉ: Số I đường B, phường D, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số A đường số A, khu phố D, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt) và ông Nguyễn Phước H1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số I đường B, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Nguyễn Phương B, Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số A đường T, khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tấn C, Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Đ (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau
Cùng địa chỉ: Số nhà A đường D, khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện là bà Nguyễn Kim H trình bày:
Trước năm 1975, gia đình bà H có quản lý và sử dụng một phần đất tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Đầu năm 1975, gia đình bà H tiến hành chia phần đất này cho con cháu, trong đó có phân chia phần đất cho bà H. Đến năm 1984, do có chủ trương làm tuyến lộ từ thị trấn Đ đến H, lực lượng nhân công có đào phần đất của gia đình bà H để đắp lên con lộ cũ. Phần đất đào có chiều rộng khoảng 03m, chiều ngang hết phần đất của gia đình bà H. Đến năm 1987-1989, khi T cấp 2 được chuyển từ ngã ba cây D về đây thì chính quyền địa phương có vận động gia đình bà H cho thầy cô giáo mượn đất ở để yên tâm công tác. Người trực tiếp mượn lúc đó là ông Nguyễn Văn D1 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) thị trấn Đ và ông Nguyễn Chiến Đ - Chi hội trưởng Chi hội phụ huynh. Khi đó, ông Nguyễn Trung S được Đảng ủy, UBND thị trấn Đ giải quyết cho cất nhà ở trong phần đất bà H cho UBND thị trấn Đ mượn là 49m².
Ngày 28/3/2003, ông S chặt dừa lấn chiếm đất của bà H. Đến ngày 11/4/2003, UBND thị trấn Đ tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai giữa gia đình bà H và ông S. Tại biên bản hòa giải này và theo bản đề nghị số 12/ĐN- UBND của UBND thị trấn vào năm 2004, thì phần đất ông S lấn chiếm thêm là 62,9m² và phần đất mượn trước đây là 49m². Theo biên bản hòa giải thì buộc ông S phải bồi thường cây dừa đã chặt và tháo dỡ phần nhà cất lấn thêm. Tuy nhiên, ông S đã phớt lờ và không chấp hành theo biên bản hòa giải trên.
Năm 2019, bà H tiếp tục gửi đơn đến UBND huyện Đ yêu cầu giải quyết tranh chấp đất với ông S. Phần đất tranh chấp tại thửa số 78, tờ bản đồ số 09 (bản đồ 2001) có diện tích 150,9m², tọa lạc tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ với lý do nguồn gốc đất ông bà để lại và sử dụng từ đầu năm 1975 cho đến nay, buộc ông S phải tháo dỡ trả lại phần diện tích do địa phương mượn để cho ông S cất nhà tạm là 49m² và phần đất lấn chiếm thêm là 62,9m². UBND huyện Đ tiếp nhận thông báo số 257/TB-UBND ngày 26/12/2019. Tuy nhiên, ngày 06/3/2020, Chủ tịch UBND huyện Đ đã ra Quyết định số 01/QĐ-UBND bác đơn tranh chấp đất đai của bà H với ông S và quyết định giữ nguyên hiện trạng sử dụng đất cho ông S với diện tích 106,77m² (theo biên bản đo đạc ngày 06/02/2020 do tổ xác minh thực hiện) với lý do phần đất trên của bà H đã được ông S kê khai đăng ký năm 2001, tại thửa 78, tờ bản đồ số 09, bản đồ năm 2005 và bản đồ chỉnh lý năm 2012, ông S kê khai đăng ký tại thừa số 56, tờ bản đồ số 27, diện tích 124,2m².
Phần đất của bà H có nguồn gốc rõ ràng đã được gia đình quản lý và sử dụng từ lâu. Ngày 05/9/2003, UBND huyện Đ còn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X900279 theo Quyết định số 1450/QĐ-UBND ngày 05/9/2003 với diện tích 984,55m². Ông S chỉ là người được chính quyền địa phương thay mặt mượn đất của bà H để có đất tạm cư trú theo chính sách của địa phương. Đến nay khi đã ổn định cuộc sống, ông nên trả lại phần đất đó cho bà H. Đến khi bà H gửi đơn khiếu nại yêu cầu ông S trả đất mượn và đất lấn chiếm, thì bị UBND huyện Đ bác bỏ, không công nhận phần diện tích đó là thuộc về bà H.
Trong thời gian bà H khởi kiện quyết định hành chính số 01/QĐ-UBND ngày 06/3/2020 của UBND huyện Đ, thì ngày 17/8/2020, UBND huyện Đ đã ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 814085 cho ông S.
Nay bà H yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy bỏ Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 06/3/2020 về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H và ông S, phần đất tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 814085 ngày 17/8/2020.
Tại Văn bản số 3811/UBND-VP ngày 20/10/2020, Chủ tịch UBND huyện Đ trình bày:
Năm 2019, bà Nguyễn Kim H (do ông Nguyễn Hữu P đại diện theo ủy quyền) gửi đơn đến UBND thị trấn Đ yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai với ông Nguyễn Trung S và bà Mai Thi V. Phần đất tranh chấp tọa lạc tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. UBND thị trấn Đ tiến hành hòa giải 02 lần (ngày 14 và ngày 26/6/2019).
Đến ngày 21/11/2019, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 178/QĐ-UBND về việc thành lập tổ rà soát, thẩm tra, xác minh đơn tranh chấp đất đại của bà H. Sau đó, bà H gửi đơn tranh chấp đất đai đến UBND huyện Đ và được UBND huyện Đ tiếp nhận tại Thông báo số 257/TB-UBND và 259/TB-UBND cùng ngày 26/12/2019.
Quá trình thẩm tra, xác minh và rà soát các hồ sơ liên quan, Tổ xác minh có Báo cáo số 01/BC-TXM ngày 25/02/2020 kết quả rà soát, thẩm tra xác minh đơn tranh chấp đất đai giữa bà H và ông S. Ngày 06/3/2020, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 01/QĐ-UBND về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà H và ông S.
Tổ rà soát, xác minh 178 tổ chức triển khai quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đến các bên liên quan, nhưng ông P vắng mặt không có lý do. Sau đó, Tổ 178 đã gửi quyết định nêu trên đến ông P (thư bảo đảm qua đường B), đồng thời niêm yết quyết định giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND thị trấn Đ đúng quy định.
Tóm lại, về trình tự, thủ tục giải quyết đơn yêu cầu tranh chấp đất đai giữa bà H (do ông P đại diện theo ủy quyền của bà H) và ông S đã được Chủ tịch UBND huyện Đ giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.
Đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn Đ trình bày: Thống nhất với lời trình bày của Ủy ban nhân dân huyện Đ, phần đất bà H yêu cầu thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S trình bày:
Phần đất bà H tranh chấp với ông có nguồn gốc của Nhà nước và Nhà nước đã giao cho ông ở ổn định từ năm 1989 đến nay, ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 814085 nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, đã quyết định:
Căn cứ: Điều 29, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 116; Điểm b khoản 2 Điều 193; Khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 7 của Luật Khiếu nại; các điều 105, 170, 203 của Luật Đất đai; các điều 21, 89, 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; khoản 58 Điều 2 Nghị định số 01/2017 ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H về việc yêu cầu hủy 02 Quyết định, gồm:
- Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 06/3/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Nguyễn Kim H với ông Nguyễn Trung S, phần đất tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 814085 ngày 17/8/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Trung S tại thửa số 56, tờ bản đồ số 27, diện tích 98m² tọa lạc tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 18/9/2023, ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, đề nghị phúc xử theo hướng hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý quyết định án sơ thẩm, đề nghị xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện bà Nguyễn Kim H thống nhất với quyết định án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận gì với nhau, chỉ yêu cầu Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
- - Về thủ tục tố tụng: Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Luật tố tụng Hành chính và tuân thủ đúng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát cũng phân tích các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2, đại diện Viện kiểm sát cho rằng không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính, xử bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2, giữ nguyên quyết định bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 trong hạn luật định hợp lệ được Hội đồng xét xử giải quyết theo tình tự phúc thẩm.
- [2] Về nội dung vụ án và xét yêu cầu kháng cáo của có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- [2.1] Bà Nguyễn Kim H và ông Nguyễn Trung S tranh chấp phần đất tọa lạc tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
- [2.2] Ngày 05/9/2003, bà H được UBND huyện Đ cấp Giấy CNQSD đất số X 900279 tại thửa số 79 với diện tích 984,55m². Theo Kết luận số 01/KL-UBND ngày 05/01/2009 của UBND huyện Đ, thì Giấy CNQSD đất cấp cho bà H trùng lên 06 thửa đất của 06 hộ dân đang quản lý, sử dụng, trong đó có hộ của gia đình ông S sử dụng tại thửa số 78. Do Giấy CNQSD đất cấp cho bà H quy trình không đảm bảo theo quy định của pháp luật; cụ thể biên bản xác minh mốc giới thửa đất thiếu chính xác, làm sai lệch diện tích và không có tứ cận giáp ranh ký tên. Nên ngày 07/6/2016, UBND huyện Đ ban hành Quyết định số 22/QĐ-UBND thu hồi Giấy CNQSD đất đã cấp cho bà H (bút lục số 46).
- [2.3] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp giữa bà H và vợ chồng ông S, theo phía Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện xác nhận tại phiên tòa sơ thẩm ngày gia đình bà H ở trên đất vào năm 1976 (BL 585). Quá trình sử dụng thì ông S có chặt cây dừa của gia đình bà H trồng và đã giải quyết tại biên bản vào năm 2003 buộc ông S phải bồi thường cho bà H về cây dừa bị chặt (BL 257). Ủy ban cho rằng phần đất kênh đào do Nhà nước đào từ năm 1980 để lấy đất làm lộ giao thông, thuộc phần đất do Nhà nước quản lý, tuy nhiên theo xác nhận của ông Nguyễn Văn D1 có nội dung vào năm 1989 do có nhu cầu cho giáo viên có chổ ở nên ông D1 đã mượn đất của một số hộ dân trong đó có hộ của bà H, lời trình bày của ông D1 phù hợp với biên bản họp hội đồng tư vấn vào năm 1995 có thể hiện nội dung ông D1 mượn đất của gia đình ông N và đã giải quyết buộc hộ ông H3 phải trả đất cho hộ ông N và ngoài ra còn phù hợp với lời trình bày của ông N là gia đình bà H có cho UBND thị trấn mượn đất cho giáo viên làm nhà tạm để ở, một số hộ cho mượn đất đã trả đất cho gia đình ông gồm các thầy Đ, H3, Đ1, S1, T1 (BL 2112), phù hợp với lời trình bày của ông S là vào năm 1989 Nhà nước cho mượn đất để giáo viên ở trong đó có gia đình ông (BL 441).
- [2.4] Gia đình bà H có đăng ký kê khai mục kê vào năm 1998 diện tích 484m², và thể hiện trên bản đồ thành lập năm 2000 diện tích là 948,6m². Trong quá trình xác minh của UBND thị trấn Đ đều có nội dung đất của gia đình bà H, cho UBND thị trấn Đ mượn năm 1989, đến năm 2017 vẫn còn giải quyết khiếu nại số 174 ngày 14/7/2017 của ông S về nội dung ông S cho rằng đất tranh chấp không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông, trong quyết định này không chấp nhận đơn khiếu nại của ông S.
- [2.5] Với nguồn gốc và quá trình sử dụng đất nói trên, cho thấy có cơ sở xác định phần đất tranh chấp giữa bà H và ông S có nguồn gốc là của gia đình bà H đã quản lý, sử dụng từ năm 1976 cho đến nay. Căn cứ Điều 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà H và ông S, Chủ tịch UBND huyện Đ đã bác yêu cầu của bà H là chưa có căn cứ.
- [3] Từ đó những căn cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện bà Nguyễn Kim H là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
- [4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận. Phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- [5] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên những người kháng cáo là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định. Ông Nguyễn Trung S, bà Trần Thị H2 là người cao tuổi được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
- [6] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Theo bà H xác định, phần đất tranh chấp có diện tích 111,9m². Theo tờ bản đồ số 09 (bản đồ 2001), thì phần đất thuộc thửa số 78, diện tích 150,9m². Vào thời điểm ban hành Quyết định số 01, phần đất tranh chấp được đo đạc thực tế có diện tích 106,77m² (bút lục số 53). Đến thời điểm cấp Giấy CNQSD đất số CV 814085 cho ông S, phần đất còn diện tích 98m² thuộc thửa số 56, tờ bản đồ số 27. Tuy nhiên, tài liệu có trong hồ sơ (bút lục số 225-227) thể hiện cũng như sự thừa nhận của phía bà H tại phiên tòa thống nhất phần đất tranh chấp có diện tích 98m².
Tại phiên tòa sơ thẩm phía UBND huyện Đ cho rằng theo bản đồ 299 thì toàn bộ phần đất do Nhà nước quản lý là đất hoang hóa, không có người dân ở, không ai đăng ký kê khai thể hiện thửa số 01 quy hoạch khu dân cư diện tích 13.380m², thể hiện qua văn bản số 309/TTKTCNQT-CNTT< ngày 11/10/2022 (BL 851) có nội dung theo hệ thống bản đồ năm 1993 thì phần đất của ông Nguyễn Trung S nằm trong ranh giới của thửa đất khu dân cư QH. Tuy nhiên có lúc thì lại trình bày gia đình bà H ở mé sông, ở từ năm 1976. Trong khi đó tại Quyết định số 01 giải quyết khiếu nại của bà H có nêu nội dung “năm 1983 - 1984... đào con kênh chiều ngang 8m đến 15m đắp nền lộ giao thông..., sau khi chừa hết ranh đất của dân, chừa thêm gần 4m...phần kênh này mặc nhiên là kênh công cộng”. Như vậy theo bản đồ số hóa từ năm 1993 về trước là đất hoang hóa nhưng trong quyết định số 01 nêu trên lại có đất của dân. Đồng thời, khi đào đất để trừ ranh đất của dân thì đất mà Ủy ban đào đó là đất của ai không có tài liệu nào thể hiện, không chứng minh đất này là đất của Nhà nước đang quản lý, trong khi đó chính người của chính quyền địa phương đang công tác tại thời điểm mượn đất là ông Nguyễn Văn D1 và ông Mạch Đồng N1 xác nhận là có mượn đất và khi đào kênh thì đào trên đất của người dân. Tuy nhiên, phía bị kiện cho rằng xác nhận của ông D1 và ông N1 không đúng, do ông D1 bị kỉ luật nên không chấp nhận nội dung xác nhận của ông D1 tuy nhiên cũng chính tại biên bản họp hội đồng tư vấn năm 1995 thừa nhận ông D1 có mượn đất của người dân cho giáo viên ở, thời điểm này hộ bà H chưa tranh chấp và suốt quá trình quản lý sử dụng phía Ủy ban nhân dân huyện Đ vẫn không có ý kiến gì về phần đất mà bà H và các đương sự như ông S, bà V tranh chấp với nhau là đất của Nhà nước quản lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính.
Không chấp nhận kháng cáo của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2023/HC-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Căn cứ: Điều 29, khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32; Điểm a khoản 2 Điều 116; Điểm b khoản 2 Điều 193; Khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 7 của Luật Khiếu nại; các điều 105, 170, 203 của Luật Đất đai; các điều 21, 89, 91 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; khoản 58 Điều 2 Nghị định số 01/2017 ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật đất đai; Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Kim H về việc yêu cầu hủy 02 Quyết định, gồm:
- 1.1. Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 06/3/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ về việc giải quyết tranh chấp đất đai giữa bà Nguyễn Kim H với ông Nguyễn Trung S, phần đất tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau;
- 1.2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 814085 ngày 17/8/2020 của Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho ông Nguyễn Trung S tại thửa số 56, tờ bản đồ số 27, diện tích 98m2 tọa lạc tại khóm D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đ và Ủy ban nhân dân huyện Đ thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Nguyễn Trung S và bà Trần Thị H2 được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Mười |
Bản án số 842/2024/HC-PT ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai
- Số bản án: 842/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong quản lý Nhà nước về đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
