|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 662/2024/HSST Ngày: 06-12-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam
Ông Trần Văn Chánh
- Thư ký phiên tòa: Bà La Nguyễn Minh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 675/2024/HSST ngày 15/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 665/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Tuấn A; Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh năm 1987; Nơi sinh: tỉnh Đồng Nai.
- Đăng ký thường trú tại: Tổ I, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
- Nơi ở hiện nay: Tổ F, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1952 (Còn sống) và bà Nguyễn Thị Tường A1, sinh năm 1961 (Còn sống). Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu, chưa có vợ, con.
Tiền án:
- Ngày 31/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 08 tháng tù theo bản án số 468/2020/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 29/6/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 10 tháng tù theo bản án số 278/2022/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 20/5/2024, đến ngày 28/5/2024 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
- Bị hại:
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn N.
- Anh Phạm Đỗ Huy H, sinh năm 1973
Địa chỉ: B, B, đường số A, khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Krishnakanth Kodukula K, chức danh: Tổng Giám đốc.
Địa chỉ: Tổ G, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Võ Minh T, sinh năm 1972
Địa chỉ: 1, đường V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người làm chứng:
- Anh Trương Kỹ T1, sinh năm 1983.
- Anh Nguyễn Tú A2, sinh năm 1991.
Địa chỉ: A, tổ A, khu phố E, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố H, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Tuấn A, làm bảo vệ cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn N (tên viết tắt là Zamil steel V), địa chỉ: B, B đường số A, khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Là đối tượng đã có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nay lại tiếp tục thực hiện 02 vụ “Trộm cắp tài sản” sau:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 01/5/2024 Tuấn A rủ em trai là Nguyễn Tú A2, sinh năm 1991 trộm cắp tài sản tại Công ty V. Nhưng sau đó Tú A2 không đồng ý tham gia cùng Tuấn A.
Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 11/5/2024, Tuấn A đang trong ca trực tại cổng số 4 của Công ty V. Lúc này Tuấn A đi vào khu hành chính của công ty rồi đi lên hội trường tầng 1 của khu hành chính thì nhìn thấy cửa hội trường khép, không khóa. Tuấn A mở cửa đi vào trong phát hiện chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony màu trắng, model: VPL EX570 để tại hội trường không có người trông coi. Tuấn A sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 của mình chụp hình chiếc máy chiếu và đi xuống cổng trực. Sau đó, Tuấn A lên mạng Google tìm kiếm người mua chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony, model: VPL EX 570. Lúc này, trên trang Google có Zalo “Máy Chiếu Xuân P” do anh Võ Minh T, sinh năm 1972, thường trú: 146/24, K, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh đăng thu mua máy chiếu nên Tuấn A đã đăng nhập và kết bạn. Tuấn A gửi hình ảnh chiếc máy chiếu cho anh T xem và trao đổi qua Zalo với anh T bán chiếc máy chiếu giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) thì anh T đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A đi lên hội trường và lấy trộm chiếc máy chiếu cùng R kèm theo máy đưa ra khu vực quầy lễ tân cất giấu.
Đến 18 giờ cùng ngày hết ca trực, Tuấn A mặc áo mưa, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (Không rõ biển số) đi vào quầy lễ tân lấy chiếc máy chiếu giấu vào trong người và chạy xe ra khỏi công ty, rồi điện thoại bằng Zalo cho anh T hẹn gặp nhau ở công viên T để bán chiếc máy chiếu. Đến khoảng 19 giờ ngày 11/5/2024, anh T đi đến điểm hẹn thì gặp Tuấn A. Tại đây, sau khi xem máy và thỏa thuận anh T đã đồng ý mua chiếc máy chiếu kèm Remote với giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tiền bán tài sản trộm cắp Tuấn A đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 20/5/2024, khi nghe tin chị Đinh Thu H1 (nhân viên phòng nhân sự Công ty V) báo sự việc bị mất trộm tài sản với Cơ quan Công an. Biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Tuấn A đến Đồn Công an Khu công nghiệp B, thành phố B đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Đồn Công an Khu công nghiệp B lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Tuấn A khai nhận hành vi phạm tội như trên.
* Vật chứng vụ án:
- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, số I: 355629112746257 Tuấn A sử dụng vào việc phạm tội, chuyển xử lý cùng vụ án.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (Không rõ biển số) Tuấn A đã trả lại cho người tên T2 (Không rõ lai lịch) là bạn quen biết ngoài xã hội, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
- 01 chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony màu trắng, model: VPL-EX570 kèm theo Remote là tài sản của Công ty V bị chiếm đoạt. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho Công ty V.
Kết luận định giá tài sản số 150/KL-HĐĐGTS, ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony VPL-EX570 có trị giá 13.272.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng); Chiếc Remote đi kèm theo máy có trị giá 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng). Tổng trị giá tài sản định giá là 13.552.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm năm mươi hai nghìn đồng).
* Về dân sự: Chị Đinh Thu H1 đại diện ủy quyền của Công ty V không yêu cầu bồi thường.
Anh Võ Minh T yêu cầu Tuấn A bồi thường số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), hiện Tuấn A chưa bồi thường.
Vụ thứ hai: Khoảng 15 giờ ngày 12/5/2024, Tuấn A đang trong ca trực tại Công ty V. Lúc này, Tuấn A đi lên hội trường tầng 1 của khu hành chính, thì nhìn thấy trên bàn làm việc của hội trường anh Phạm Đỗ Duy H2, sinh năm 1973, thường trú tổ C, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng là nhân viên công ty có để 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Thinkpad Intel Core I7-2820QM bên cạnh chiếc balo không có ai trông coi. Tuấn A đi vào lấy chiếc máy tính rồi cầm trên tay dấu ở sau lưng và đi ra khu vực tường rào của công ty C1 chiếc máy tính ở đây. Đến 18 giờ cùng ngày, hết ca trực Tuấn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade (Không rõ biển số) ra bên ngoài tường rào của công ty lấy chiếc máy tính đưa về nhà cất giấu.
Đến ngày 20/5/2024, khi đi đến Đồn Công an Khu công nghiệp B đầu thú, Tuấn A đã tự nguyện giao nộp chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Lenovo Thinkpad Intel Core I7-2820QM cho Cơ quan Công an.
* Vật chứng vụ án:
- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu L, model: W520 là tài sản của anh Phạm Đỗ Duy H2, Cơ quan điều tra đã thu hồi trả lại cho anh H2.
Kết luận định giá tài sản số 174/KL-HĐĐGTS ngày 06/6/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu L có trị giá: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
* Về dân sự: Anh Phạm Đỗ Duy H2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường.
Tại Bản cáo trạng số 182/CT-VKSBH ngày 22/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 11/5/2024, tại Công ty V thuộc Khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Tuấn A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony màu trắng, model: VPL-EX570, trị giá 13.272.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và 01 chiếc Remote đi kèm theo máy có trị giá 280.000 đồng (Hai trăm tám mươi nghìn đồng) của Công ty V. Sau đó, bị cáo bán tài sản trộm cắp cho anh Võ Minh T được 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Đến khoảng 15 giờ ngày 12/5/2024, tại Công ty V Nguyễn Tuấn A lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu L I7-2820QM của anh Phạm Đỗ Duy H2, trị giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Tổng trị giá tài sản bị cáo Tuấn A trộm cắp của 02 vụ trên là 13.852.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm năm mươi hai nghìn đồng).
Đến ngày 20/5/2024, bị cáo đến Đồn Công an Khu công nghiệp B đầu thú.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Tuấn A đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Tuấn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo trước đó đã nhiều lần phạm tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện ra đầu thú. Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại Công ty V không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
- Bị hại anh Phạm Đỗ Duy H2 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên không đặt ra xem xét.
- Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Võ Minh T số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen, số I: 355629112746257; hai góc màn hình điện thoại bị vỡ; trong màn hình có các vệt, điện thoại đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa)
[9] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[10] Đối với anh Võ Minh T khi mua chiếc máy chiếu nhãn hiệu Sony màu trắng, model: VPL-EX570 của Nguyễn Tuấn A không biết tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý hình sự anh T nên không đặt ra xem xét.
Đối với Nguyễn Tú A2: Tuấn A và Tú A2 đều khai sau khi được Tuấn A rủ trộm cắp tài sản thì Tú A2 đã không đồng ý thực hiện hành vi cùng Tuấn A và sau đó không biết việc Tuấn A trộm cắp vào ngày 11 và 12/5/2024 tại Công ty V. Cơ quan điều tra không chứng minh được Tú A2 đồng phạm với Tuấn A nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với Tú A2. Nên không đặt ra xem xét.
[11] Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; khoản 2 Điều 136; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn A 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 20/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự.
Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu đen, số I: 355629112746257; hai góc màn hình điện thoại bị vỡ; trong màn hình có các vệt, điện thoại đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14; Điều 584, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo bồi thường cho anh Võ Minh T số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Huyền |
Bản án số 662/2024/HSST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 662/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
