Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc


Bản án số: 662/2025/DS-PT
Ngày: 12-6-2025
V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Các Thẩm phán:Bà Phan Thị Út
Bà Lê Thị Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Giản Thị Dung– Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Hòa-Kiểm sát viên

Trong các ngày 21 tháng 5 và ngày 12 tháng 6 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 348/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp chia thừa kế và chia tài sản chung”,

Do bản án dân sự sơ thẩm số 730/2024/DS-ST ngày 19/09/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1725/2025/QĐ-PT ngày 31 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 5812/2025/QĐPT-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 7001/2025/QĐPT-DS ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Bà Võ Thị Ngọc D, sinh năm: 1963 (có mặt)
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thùy Song T, sinh năm: 2000, (có mặt).
    Địa chỉ: A N, khu phố E, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 30/08/2024)
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị Ngọc D là Luật sư Nguyễn Văn T1- Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).
  2. Bà Lại Thị X, sinh năm: 1938 (chết năm 2021)
    Địa chỉ: 7 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà X:
    1. Bà Lê Thị H, sinh năm: 1959
      Địa chỉ: I Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    2. Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1962
      Địa chỉ: G Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Ông Lê Văn T3, sinh năm: 1964
      Địa chỉ: 7 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Ông Lê Văn N, sinh năm: 1966
      Địa chỉ: 2 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    5. Bà Lê Thị N1, sinh năm: 1970
      Địa chỉ: 2 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    6. Bà Lê Thị D1, sinh năm: 1974
      Địa chỉ: 2 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà H, T2, N1, D1, T3: Ông Lê Văn N, sinh năm: 1966, (có mặt).
    Địa chỉ: 2 Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 09/12/2022)
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lê Văn Nghĩa L Luật sư Nguyễn Văn T1- Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).
  3. Bà Lại Thị X1, sinh năm: 1945, (có mặt).
    Địa chỉ: C tổ A, Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lại Thị X1 là Luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).
    Người đại diện theo ủy quyền của bà X1: Ông Lại Hoàng V, sinh năm: 1982 (có mặt).
    Địa chỉ: B Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 15/03/2024)
  4. Ông Lại Hoàng V, sinh năm: 1982, (có mặt).
    Địa chỉ: B Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lại Hoàng V là Luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025, vắng mặt ngày 11/6/2025).

2. Bị đơn:

  1. Bà Lại Thị X2, sinh năm: 1946.
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền bà X2: Ông Lại Hoàng A, sinh năm: 1968, (có mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 28/10/2022).

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lại Hoàng A, sinh năm: 1968
  2. Bà Lại Thị Kim H1, sinh năm: 1975
  3. Bà Nguyễn Thị R, sinh năm: 1971
  4. Ông Lại Hoàng S, sinh năm: 1988
  5. Ông Lại Hoàng C, sinh năm: 1991
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà H1, R, S, C: Ông Lại Hoàng A, sinh năm: 1968 (có mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 27/02/2024).
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lại Hoàng A là Luật sư Trần Trung K – Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
  6. Ông Lại Hoàn M, sinh năm: 1978, (chết năm 2021).
    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông M:
    1. Bà Nguyễn Thị Thanh T4, sinh năm: 1979
    2. Bà Lại Nguyễn Như Q, sinh năm: 2002
    3. Bà Lại Nguyễn Phương N2, sinh năm: 2004
      Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
    4. Bà Lại Thị X2, sinh năm: 1946
      Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh
    Người đại diện theo ủy quyền của các bà T4, Q, N2, X2: Ông Lại Hoàng A, sinh năm: 1968 (có mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 28/10/2022; 29/02/2024).
  7. Ông Lại Văn T5, sinh năm: 1958
    Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  8. Bà Lại Thị M1, sinh năm: 1968
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  9. Bà Lại Thị C1, sinh năm: 1956
    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  10. Ông Lê Văn B, sinh năm: 1960
    Địa chỉ: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
  11. Bà Lại Thị Đ, sinh năm: 1956, (có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: I khu phố G, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà T5, M1, C1, B: Ông Lại Hoàng A, sinh năm: 1968 (có mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 16/05/2023).
  12. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1946
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  13. Bà Lại Thị Minh A1, sinh năm: 1971
    Địa chỉ: B đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  14. Ông Lại Hoàng M2, sinh năm: 1973
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  15. Bà Lại Thị Minh T6, sinh năm: 1975
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  16. Bà Lại Thị Diễm T7, sinh năm: 1977
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  17. Bà Lại Thị Mộng K1, sinh năm: 1980
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  18. Bà Lại Thị T8, sinh năm: 1984
    Địa chỉ: B tổ C, ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện theo ủy quyền của các ông bà G, A, M2, T6, T7, K1, T8: Ông Lại Hoàng V, sinh năm: 1982 (có mặt).
    Địa chỉ: B Ấp B, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (văn bản ủy quyền lập ngày 13/06/2020).
  19. Bà Nguyễn Thị C2, sinh năm: 1934, (có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  20. Bà Lại Thị T10, sinh năm: 1970, (có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  21. Bà Lại Thị T9, sinh năm: 1965, (có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: C Ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  22. Bà Lại Thị P, sinh năm: 1961, (có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).
    Địa chỉ: 2 G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  23. Bà Lại Thị Hồng T10, sinh năm: 1980
  24. Bà Lại Thị Huỳnh N3, sinh năm: 1982
  25. Bà Lại Thị Hồng N4, sinh năm: 1989
    Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh.
    Người đại diện theo ủy quyền của bà T10, bà N3: Bà Lại Thị Hồng N4, sinh năm: 1989, (có mặt ngày 21/5/2025, có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).
    Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh, (văn bản ủy quyền lập ngày 20/02/2024).
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Lại Thị Hồng N4 là Luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).
  26. Ông Lại Hoàng L1, sinh năm: 1964, (có mặt).
    Địa chỉ: C ấp C, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Lại Hoàng L1 là Luật sư Nguyễn Văn T1 – Văn Phòng L4 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt ngày 21/5/2025 và có đơn xin vắng mặt ngày 12/6/2025).

Do có kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lại Thị X1 trình bày:

Ông Lại Hoàng P1 (chết thời kỳ chống Pháp) (sinh năm 1912 - chết năm 1948) và bà Nguyễn Thị N5 (sinh năm 1913 - chết năm 1998) có 07 người con là:

  • Lại Văn K2 (sinh năm 1932 - chết năm 2015)
  • Lại Văn T11 (sinh năm 1935 - chết năm 2005)
  • Lại Thị X (sinh năm 1936 - chết ngày 27/09/2021)
  • Lại Văn S1 (sinh năm 1938 - chết năm 1965)
  • Lại Văn L2 (sinh năm 1942 - chết năm 1965, không có vợ con)
  • Lại Thị X1 (sinh năm 1945)
  • Lại Thị X2 (sinh năm 1946)

Ngoài ra, cha mẹ bà X1 không có người con riêng nào khác.

Sau khi bà N5 chết, các anh em trong gia đình đã nhiều lần thỏa thuận chia đều di sản thừa kế là phần đất có diện tích khoảng 13.950,2m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 (tương ứng phần số (1) 9.506m² theo bản đồ ngày 16/11/2020, TL 02: 18-1 + 19-1 = 9.518,1m², TL 2005: 40-1 + 39 + 38-1 = 9.569,5m²) và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (tương ứng phần (1) + (2) + (3) – (275-1) – (12-1) = 3.174,9m²) bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu 02/CT-UB, tài liệu năm 2006) do bà Nguyễn Thị N5 để lại nhưng bà Lại Thị X2 không đồng ý.

Bà Nguyễn Thị N5 chết không để lại di chúc nên bà X1 khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bà N5 theo quy định pháp luật. Theo kết quả đo vẽ gần nhất thì phần đất tranh chấp hiện nay có tổng diện tích còn lại là 9.506m² + 3.174,9m² = 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (theo tài liệu 02/CT-UB)

Nay bà yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho 06 người gồm: Lại Văn K2, Lại Văn T11, Lại Thị X, Lại Văn S1, Lại Thị X1, Lại Thị X2 thành 06 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 12.680,9m² : 6 = 2.113,48m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V. Do ông Lại Văn L2 chết không có vợ con nên không chia, ai chết thì vợ con người đó được hưởng. Bà thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024. Đối với yêu cầu phản tố của Lại Thị Hồng T10, Lại Thị Huỳnh N3, Lại Thị Hồng N4 thì bà đồng ý vì phần này là của ông Lại Văn S1 để lại cho cháu.

Tại đơn khởi kiện ngày 31/05/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/8/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là bà Võ Thị Ngọc D trình bày:

Bà thống nhất ý kiến về quan hệ nhân thân của gia đình và di sản của bà N5 để lại như lời trình bày của bà Lại Thị X1, bà là vợ của ông Lại Văn K2 (chết năm 2015), ông Lại Văn K2 có những người con riêng gồm: Lại Thị Đ, sinh năm: 1956; Lại Văn T5, sinh năm: 1958; Lại Thị M1, sinh năm: 1968; Lại Thị C1, sinh năm: 1956; Lê Văn B, sinh năm: 1960

Nay bà yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho 06 người gồm: Lại Văn K2, Lại Văn T11, Lại Thị X, Lại Văn S1, Lại Thị X1, Lại Thị X2 thành 06 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 12.680,9m² : 6 = 2.113,48m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V. Do ông Lại Văn L2 chết không có vợ con nên không chia, ai chết thì vợ con người đó được hưởng.

Phần của ông K2 được hưởng chia đều cho bà và 05 người con của ông K2, bà yêu cầu được hưởng 2.113,48m²: 6 = 352,25m². Bà thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024. Đối với yêu cầu phản tố của Lại Thị Hồng T10, Lại Thị Huỳnh N3, Lại Thị Hồng N4 thì bà đồng ý vì phần này là của ông Lại Văn S1 để lại cho cháu.

Tại phiên tòa bà Nguyễn Thùy Song T vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến như trên.

Tại đơn khởi kiện ngày 31/05/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/8/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử sơ thẩm, nguyên đơn là ông Lại Hoàng V trình bày:

Ông thống nhất ý kiến về quan hệ nhân thân của gia đình và di sản của bà N5 để lại như lời trình bày của bà Lại Thị X1, ông là con của ông Lại Văn T11 (chết năm 2005), ông Lại Văn T11 và bà Nguyễn Thị G có những người con gồm: Lại Thị N6 (chết năm 2015, không có chồng con), Lại Thị Minh A1, Lại Hoàng M2, Lại Thị Minh T6, Lại Thị Diễm T7, Lại Thị Mộng K1, Lại Thị T8.

Ngoài ra trước khi ở với mẹ ông thì ba ông có vợ dòng trước là bà Nguyễn Thị C2, sinh năm: 1934 gồm các người con như sau: Lại Thị P, sinh năm: 1961; Lại Thị T9, sinh năm: 1965; Lại Thị T10, sinh năm: 1970; Lại Hoàng L1, sinh năm: 1964.

Nay ông đại diện cho gia đình yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho 06 người gồm: Lại Văn K2, Lại Văn T11, Lại Thị X, Lại Văn S1, Lại Thị X1, Lại Thị X2 thành 06 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 12.680,9m²: 6 = 2.113,48m²/12 x 8 = 1.409m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V. Do ông Lại Văn L2 chết không có vợ con nên không chia, ai chết thì vợ con người đó được hưởng. Phần của gia đình ông yêu cầu được hưởng 2.113,48m²/12 x 8 = 1.409m². Ông thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024.

Đối với yêu cầu phản tố của Lại Thị Hồng T10, Lại Thị Huỳnh N3, Lại Thị Hồng N4 thì ông đồng ý vì phần này là của ông Lại Văn S1 để lại cho cháu.

Tại phiên tòa sơ thẩm, do ông L1 mới tìm ra được nên ông yêu cầu phần của gia đình ông được hưởng 12.680,9m²:6 = 2.113,48m²/13 x 8 = 1.300m².

Tại đơn khởi kiện ngày 31/05/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 13/8/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông Lê Văn N trình bày:

Ông thống nhất ý kiến về quan hệ nhân thân của gia đình và di sản của bà N5 để lại như lời trình bày của bà Lại Thị X1, ông là con của bà Lại Thị X (bà X chết ngày 27/9/2021) và chồng bà X là ông Lại Phước A2 (chết ngày 28/8/2021) có những người con gồm: Lê Thị H, Lê Văn T2, Lê Văn T3, Lê Văn N, Lê Thị N1, Lê Thị Diệu .

Nay ông đại diện cho gia đình yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho 06 người gồm: Lại Văn K2, Lại Văn T11, Lại Thị X, Lại Văn S1, Lại Thị X1, Lại Thị X2 thành 06 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 12.680,9m² : 6 = 2.113,48m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V. Do ông Lại Văn L2 chết không có vợ con nên không chia, ai chết thì vợ con người đó được hưởng. Phần của gia đình ông được hưởng 2.113,48m². Ông thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024.

Đối với yêu cầu phản tố của Lại Thị Hồng T10, Lại Thị Huỳnh N3, Lại Thị Hồng N4 thì ông đồng ý vì phần này là của ông Lại Văn S1 để lại cho cháu.

Tại bản tự khai ngày 08/11/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Lại Thị X2 có ông Lại Hoàng A đại diện trình bày:

Bà X2 thống nhất ý kiến về quan hệ nhân thân của gia đình như lời trình bày của bà Lại Thị X1, bà Võ Thị Ngọc D, ông Lại Hoàng V, ông Lê Văn N. Riêng phần di sản của mẹ bà là bà Nguyễn Thị N5 để lại là không đúng như vậy.

Sau khi tập đoàn T15 thì phần đất diện tích 13.950,2m² nay đo vẽ còn 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh được giao lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5. Bà X2 cưới chồng sau và không ở củng với bà N5 nữa, các con của bà X2 vẫn ở chung với bà ngoại từ xưa đế nay, canh tác sử dụng chung phần đất này cùng với bà N5, trong đó có Lại Hoàng A là người trực tiếp canh tác sử dụng, đóng thuế từ trước giờ đến nay và có công nhất đối với phần đất này vì mẹ bà Nguyễn Thị N5 lúc này đã già yếu không canh tác được và vì trong hộ bà N5 có các con của bà là Lại Thị Kim H1, Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C và Lại Hoàng A nên nhà nước mới giao đất cho hộ bà N5 như vậy.

Phần đất thuộc một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V do bà đăng ký thì bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi, một phần thửa 273, 274 còn lại của hộ bà Nguyễn Thị N5 canh tác từ xưa đến giờ. Bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp sử dụng trước năm 1975, đến năm 1977 đưa vào Tập đoàn sản xuất, đấn năm 1988 tập đoàn T15 bà N5 lấy lại canh tác cùng với các con của bà X2 có trong hộ khẩu. Khi đăng ký theo chỉ thị 02/CT-UB thì bà đăng ký giùm phần đất này cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5 đối với một phần thửa 273, 274 vì mẹ bà già đi lại khó khăn và lúc này là cùng một phần đất lớn chưa phân ra, bà đã có đất rồi. Gia đình các anh chị em của bà ai cũng đều có đất hết rồi, cụ thể như sau: Bà Lại Thị X diện tích 5.000m², bà Lại Thị X1 diện tích 5.000m², bà Lại Thị X2 diện tích 16.226m², ông Lại Văn T11 diện tích 20.989m², ông Lại Văn K2 diện tích 11.202m².

Do phần đất này là của hộ gia đình của bà N5 nên bà đồng ý chia thừa kế phần của bà N5 chết để lại theo quy định của pháp luật chứ không đồng ý chia như đơn khởi kiện và đơn yêu cầu độc lập, bà N5 chỉ có một phần, phần còn lại là của hộ gia đình bà N5 gồm các thành viên ở chung với bà N5. Ông Lại Hoàng A thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024.

Ông Lại Hoàng A có ý kiến giống như bà X2 trình bày và với tư cách là đại diện cho Lại Thị Kim H1, Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C, Nguyễn Thị Thanh T4, Lại Nguyễn Như Q, Lại Nguyễn Phương N2, Lại Văn T5. Lại Thị M1, Lại Thị C1, Lê Văn B ông vẫn giữ nguyên ý kiến như trên.

Tại bản tự khai ngày 23/02/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Hồng N4 trình bày:

Bà thống nhất ý kiến về quan hệ nhân thân của gia đình và di sản của bà N5 để lại như lời trình bày của bà Lại Thị X1, bà Võ Thị Ngọc D, ông Lại Hoàng V, ông Lê Văn N. Bà là cháu ngoại của ông Lại Văn S1 (chết năm 1965), ông Lại Văn S1 (chết năm 1965) và vợ là Huỳnh Thị T12 có 01 người con duy nhất là bà Lại Thị S2 (chết năm 1992), bà Lại Thị S2 (chết năm 1992) và chồng Lại Văn T13 có 03 người con: Lại Thị Hồng T10, sinh năm: 1980; Lại Thị Huỳnh N3, sinh năm: 1982; Lại Thị Hồng N4, sinh năm: 1989.

Nay bà đại diện cho gia đình yêu cầu chia thừa kế đối với phần diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cho 06 người gồm: Lại Văn K2, Lại Văn T11, Lại Thị X, Lại Văn S1, Lại Thị X1, Lại Thị X2 thành 06 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng 12.680,9m² : 6 = 2.113,48m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V. Do ông Lại Văn L2 chết không có vợ con nên không chia, ai chết thì vợ con người đó được hưởng. Bà thống nhất với biên bản định giá ngày 03/05/2024. Phần của ba chị em bà được hưởng 2.113,48m².

Tại bản tự khai ngày 11/09/2024, tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lại Hoàng L1 trình bày:

Ông là con của bà Nguyễn Thị C2 và ông Lại Văn T11 (chết năm 2005), cha mẹ ông có 04 người con gồm: Lại Thị P, sinh năm: 1969, Lại Hoàng L1, sinh năm: 1964, Lại Thị T9, sinh năm: 1965, Lại Thị T10, sinh năm: 1970. Ông Lại Văn T11 là con của bà Nguyễn Thị N5 và ông Lại Hoàng P1. Nay bà N5 chết để lại tài sản cho ông Lại Văn T11, ông T11 chết để lại tài sản cho vợ và các con, di sản thừa kế là phần đất diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, ông yêu cầu Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật, phần của ông được hưởng giao cho gia đình của em ông là Lại Hoàng V, từ trước giờ ông đi làm ăn xa mất liên lạc với gia đình, ông mới về gia đình và lên Tòa án trình bày lời khai của mình.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà D phát biểu ý kiến: căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc đất là của bà N5, theo công văn số 1462 ngày 15/8/2008 và công văn số 2510 ngày 29/9/2017 của UBND huyện B, biên bản hòa giải tại Tòa án là không có cơ sở giao đất cho hộ bà N5, từ đó các phần đất tranh chấp là tài sản riêng của bà N5. Do đó, di sản thừa kế của bà N5 được chia theo pháp luật cho 06 người con của bà N5. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 610; 611; 613; 614; 649; 650; 651; 652 BLDS 2015 để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lại Hoàng A phát biểu ý kiến: theo Công văn số 1101 ngày 26/09/2005 của Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện B, tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/08/2006 của UBND xã V, biên bản về việc họp xét cấp giấy chứng nhận của UBND xã V ngày 12/01/2006 thì đều cấp cho hộ ông Lại Hoàng A. Các nguyên đơn không biết vị trí đất các bên tranh chấp và các con của bà N5 đều được chia đất. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 209 BLDS 2015 để xác định tài sản chung của hộ gia đình bà N5 và chia thừa kế của phần bà N5 theo quy định của pháp luật, yêu cầu chia giá trị quyền sử dụng đất.

Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc D, bà Lại Thị X, bà Lại Thị X1, ông Lại Hoàng V, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 về việc chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB) bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Buộc các thành viên trong hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5 bao gồm: ông Lại Hoàng A, bà Lại Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S, ông Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) có trách nhiệm liên đới thanh toán cho:
    1. Bà Lại Thị X1 số tiền 432.320.867 đồng (bốn trăm ba mươi hai triệu ba trăm hai mươi ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
    2. Bà Võ Thị Ngọc D số tiền 72.053.477 đồng (bảy mươi hai triệu không trăm năm mươi ba ngàn bốn trăm bảy mươi bảy đồng).
    3. Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8 số tiền 299.299.062 đồng (hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm chín mươi chín ngàn không trăm sáu mươi hai đồng)
    4. Bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị D1 số tiền 432.320.867 đồng (bốn trăm ba mươi hai triệu ba trăm hai mươi ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
    5. Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 số tiền 432.320.867 đồng (bốn trăm ba mươi hai triệu ba trăm hai mươi ngàn tám trăm sáu mươi bảy đồng).
  3. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán như trên thì ông Lại Hoàng A, bà Lại Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S, ông Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB) bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí phần đất được thể hiện tại khu (1) + (2) + (3) – (275-1) – (12-1) = 3.174,9m² thuộc một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 và vị trí (1) = 9.506m² thuộc một phần thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 tại bảng thống kê diện tích theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 16/11/2020 của Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, số hợp đồng: 129134/TTĐĐBĐ-VPTT (1/2) và (2/2) theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên án phí, lãi suất thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 23/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh có Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 78/2024/QĐ-SCBSQĐ.

Ngày 24/9/2024 bà D kháng cáo toàn bộ nội dung của bản án sơ thẩm do nhận thấy phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là không đảm bảo tính vô tư, khách quan và sai lầm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D là bà Nguyễn Thùy Song T: Thống nhất ý kiến của bà D và ý kiến của luật sư T1 tại bản trình bày ý kiến ngày 13/5/2025 và bản luận cứ đề ngày 26/5/2025, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà D.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Võ Thị Ngọc D là Luật sư Nguyễn Văn T1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa ngày 12/6/2026 và gửi bản trình bày ý kiến ngày 13/5/2025 và bản luận cứ đề ngày 26/5/2025 nội dung như sau: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhận thấy yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, bởi vì:

Tài sản mà các bên đương sự tranh chấp trong vụ án này là quyền sử dụng đất có diện tích 12.680,9 m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 - Bộ địa chính xã V, huyện B, Tp . (theo bản đồ hiện trạng vị trí số 129134/TTĐĐB-VPTT ngày 12/11/2020).

Theo lời trình bày của các bên đương sự và nội dung thể hiện tại các công văn số 1462/UBND ngày 15/8/2008; số 1496/UBND ngày 16/7/2009, số 2510/UBND ngày 29/9/2017 của UBND huyện B và số 2653/UBND ngày 25/7/2024 của UBND xã V, có thể xác định quyền sử dụng đất mà các bên tranh chấp có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp quản lý, sử dụng từ trước năm 1975. Năm 1977 theo chủ trương của Nhà nước, bà Nguyễn Thị N5 đã đưa phần đất này vào Tập đoàn sản xuất. Đến năm 1988, do Tập đoàn T15 nên giao lại cho bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp canh tác cho đến khi chết, năm 1998 (BL số 178, 384, 441). Theo nội dung Công văn số 1544/UBND ngày 26/4/2023 của UBND huyện B, thì: “Thửa đất số 18, 19 tờ bản đồ số 15 (tài liệu 02/CT-UB), sổ mục kê đất đai do bà Nguyễn Thị N5 kê khai đăng ký” (BL 342).

Sau khi bà Nguyễn Thị N5 được giao lại đất từ Tập đoàn (năm 1988) cho đến khi chết (năm 1998), không có bất cứ tài liệu nào cho thấy bà Nguyễn Thị N5 đồng ý chuyển giao phần đất này từ cá nhân sang hộ gia đình nên mặc nhiên quyền sử dụng đất vẫn thuộc về cá nhân bà Nguyễn Thị N5 chứ không phải thuộc về hộ gia đình.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Công văn số 1101/UB-TN&MT ngày 26/09/2005 của UBND huyện B và Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/08/2006 của UBND xã V để cho rằng đất thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình là chưa phù hợp, bởi lẽ tại Công văn số 1462/UBND ngày 15/8/2008 của UBND huyện B đã xác định nội dung ghi tại Tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/08/2006 của UBND xã V là “không chính xác” do đang tranh chấp.

Mặt khác, tại khoản 29 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất. " Căn cứ Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 098510 tháng 08/1975 (trước khi đất được đưa vào Tập đoàn) thì hộ bà Nguyễn Thị N5 có 05 người gồm: bà Nguyễn Thị N5, bà Lại Thị M3, ông Lại Hoàng A, ông Lại Hoàng M2 và bà Lại Thị Kim H1, không có tên bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S và ông Lại Hoảng C3. Căn cứ Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 874494 tháng 03/1982 thì hộ khẩu bà Nguyễn Thị N5 chỉ có 04 người gồm: bà Nguyễn Thị N5, ông Lại Hoàng A, ông Lại Hoàng M2 và bà Lại Thị Kim H1. Các ông bà gồm Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C chỉ được nhập hộ khẩu năm 1993, tức là sau thời điểm bà N5 được giao lại đất từ Tập đoàn nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xác định những người này là thành viên hộ gia đình sử dụng đất là trái với quy định viện dẫn trên.

Như vậy, có cơ sở xác định thửa đất tranh chấp trong vụ án này thuộc quyền sử dụng của cá nhân bà Nguyễn Thị N5. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất này thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5 là chưa phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Theo trình bày của các bên đương sự trong vụ án, sau khi bà Nguyễn Thị N5 chết, anh chị em không thống nhất được việc chia tài sản nên xảy ra tranh chấp. Trong khi tổ chức hòa giải vào ngày 23/5/2002 thì Ủy ban xã V đã đề nghị rằng: “Trong thời gian chờ đợi cấp trên giải quyết...ai canh tác thì tiếp tục canh tác, không bỏ hoang; nếu hộ nào vi phạm sẽ bị xử lý trước pháp luật”. Đó là lý do vì sao cho đến nay, ông Lại Hoàng A tiếp tục canh tác cho đến nay.

Dù vậy, căn cứ vào các Biên bản hòa giải tranh chấp đất đai ngày 23/5/2002, ngày 28/4/2009, ngày 13/3/2014, 20/5/2015, ngày 30/6/2015 và ngày 14/9/2016 và các Công văn số 1101, 2510, 2653, 1462, 1496 của UBND huyện B, Thanh tra huyện B và UBND xã V thì có thể thấy rằng, kể từ khi bà Nguyễn Thị N5 chết cho đến nay các bên vẫn tranh chấp liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau và hiện chưa được giải quyết xong. Theo Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP thì một trong các giấy tờ để xác định thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định là có “Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành”. Vì thế, việc Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đất của hộ gia đình sử dụng đất ổn định, đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5 (nay là hộ ông Lại Hoàng A) là hoàn toàn trái với quy định tại nói trên và trái với Điều 100 Luật đất đai 2013.

Từ những căn cứ trên đây có cơ sở xác định phần đất tranh chấp trong vụ án này là thuộc quyền sử dụng của cá nhân bà Nguyễn Thị N5. Bà N5 chết không để lại di chúc nên di sản này được chia theo pháp luật, lẽ ra các yêu cầu của nguyên đơn cần được chấp nhận toàn bộ nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần là chưa đúng. Chính vì thế, đề nghị Tòa án căn cứ Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 610, 611, 613, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015 để xem xét chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 730/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D.

Ông Lại Hoàng A trình bày: Với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Lại Thị X2 và là người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S, ông Lại Hoàng C, bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương N2, bà Lại Thị X2, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, bà Lại Thị C1, ông Lê Văn B: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà D, đề nghị xem xét công sức đóng góp chăm sóc và giữ gìn tài sản của ông Lại Hoàng A đối với di sản của bà N5 vì thời gian từ khi đất được Tập đoàn giao trả lại cho hộ bà N5 thì do bà N5 đã già, không còn sức lao động nên ông Lại Hoàng A là người nuôi dưỡng, trực tiếp canh tác sản xuất để giữ gìn đất nông nghiệp cho hộ gia đình bà N5. Phần của bà Đ và bà X2 cho ông L3 Hoàng A thì ông Lại Hoàng A không nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chia phần di sản cho bà Đ, bà X2 theo quy định pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lại Hoàng A có luật sư Trần Trung K trình bày: Thống nhất như lời trình bày của ông Lại Hoàng A.

Nguyên đơn bà Lại Thị X1 trình bày: Bà không kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng bà thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Văn T1 không có ý kiến bổ sung.

Ông Lê Văn N trình bày: Với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Lại Thị X đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà X là Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị D1: các ông bà không kháng cáo bản án sơ thẩm. Về yêu cầu kháng cáo của bà D, ông không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Lại Hoàng V trình bày: Với tư cách là nguyên đơn đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, bà Lại Thị T8 thì các ông bà không kháng cáo bản án sơ thẩm. Ông Lại Hoàng V là con của ông T11, ông T11 là con của bà N5, lúc gia đình ông T11 đưa đất vào Tập đoàn và sau đó được Tập đoàn giao trả lại thì đất cấp cho hộ gia đình ông T11 chứ không đứng tên một mình ông T11. Về yêu cầu kháng cáo của bà D, ông Lại Hoàng V không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông Lại Hoàng L1 nhường phần hưởng di sản của ông L1 cho gia đình ông thì ông đồng ý nhận.

Bà Lại Thị Hồng N4 trình bày: Với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đồng thời là đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3: Bà không kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng bà thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Văn T1 và không có ý kiến bổ sung.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lại Hoàng L1 trình bày: Ông không kháng cáo bản án sơ thẩm nhưng ông thống nhất ý kiến của ông Nguyễn Văn T1 và không có ý kiến bổ sung.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lại Thị X1, ông Lê Văn N, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị Hồng N4, ông Lại Hoàng L1 có Luật sư Nguyễn Văn T1, trình bày: Thống nhất ý kiến của phía nguyên đơn bà D trình bày và không bổ sung thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý giải quyết vụ án đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo: Kháng cáo của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D còn trong thời hạn luật định.

Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, án sơ thẩm bác yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Ngọc D. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm chia lại phần thừa kế mà án sơ thẩm có sai sót: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bà Võ Thị Ngọc D được hưởng giá trị tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lại Văn K2 theo pháp luật là 72.053.477 đồng là còn thiếu sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi của 5 người con của ông K2 và án sơ thẩm tuyên thiếu về hàng thừa kế của ông Lại Văn K2 gồm bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên còn thiếu về hàng thừa kế của ông Lại Văn T11 gồm vợ Nguyễn Thị C2 và 04 người con (bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P, riêng phần ông Lại Hoàng L1 cho gia đình Lại Hoàng V), thiếu phần thừa kế của bà Lại Thị X2 được hưởng và phần công sức đóng góp chăm sóc và giữ gìn tài sản của bà N5 của ông Lại Hoàng A. Do vậy nên sửa án sơ thẩm theo hướng trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D là đương sự trong vụ án nên có quyền kháng cáo. Đơn kháng cáo của bà Võ Thị Ngọc D còn trong thời hạn luật định.
  2. Về nội dung:
    Xét yêu cầu kháng cáo và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Ngọc D, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

    Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các Giấy khai sinh, Giấy khai tử, Giấy đăng ký kết hôn và các lời khai của đương sự cung cấp, các tình tiết đã được các đương sự thống nhất, không cần phải chứng minh, cụ thể:

    Về nhân thân và hàng thừa kế: Ông Lại Hoàng P1 (chết năm 1948) và bà Nguyễn Thị N5 (chết năm 1998) có 07 người con gồm:

    1. Lại Văn K2 (chết năm 2015): có vợ là bà Võ Thị Ngọc D và 05 người con: Lại Thị C4, Lại Thị Đ, Lại Văn T5, Lại Thị M1, Lại Văn B1.
    2. Lại Văn T11 (chết năm 2005): có vợ trước là bà Nguyễn Thị C2 và 04 người con: Lại Thị T10, sinh năm: 1970, Lại Thị T9, sinh năm: 1965, Lại Thị P, sinh năm: 1961, Lại Hoàng L1, sinh năm: 1964. Vợ thứ hai là Nguyễn Thị G cùng 08 người con: Lại Thị N6, sinh năm: 1968 (chết năm 2015, không có chồng con), Lại Thị Minh A1, sinh năm: 1971, Lại Hoàng M2, sinh năm: 1973, Lại Thị Minh T6, sỉnh năm: 1975, Lại Thị Diễm T7, sinh năm: 1977, Lại Thị Mộng K1, sinh năm: 1980, Lại Hoàng V, sinh năm: 1982, Lại Thị T8, sinh năm: 1984.
    3. Lại Thị X (chết ngày 27/09/2021): có chồng là Lại Phước A2 (chết ngày 28/8/2021) có 06 người con: Lê Thị H, sinh năm: 1959, Lê Văn T2, sinh năm: 1962, Lê Văn T3, sinh năm: 1964, Lê Văn N, sinh năm: 1966, Lê Thị N1, sinh năm: 1970, Lê Thị D1, sinh năm: 1974.
    4. Lại Văn S1 (chết năm 1965): có vợ là Huỳnh Thị T12 có 01 người con là bà Lại Thị S2 (chết năm 1992), bà Lại Thị S2 và chồng Lại Văn T13 có 03 người con: Lại Thị Hồng T10, sinh năm: 1980, Lại Thị Huỳnh N3, sinh năm: 1982, Lại Thị Hồng N4, sinh năm: 1989.
    5. Lại Văn L2 (sinh năm 1942 - chết năm 1966, không có vợ con)
    6. Lại Thị X1, sinh năm: 1945;
    7. Lại Thị X2, sinh năm: 1946.

    Xác định hàng thừa kế thứ nhất của bà Nguyễn Thị N5 gồm: ông Lại Văn K2, ông Lại Văn T11, bà Lại Thị X, bà Lại Thị X1, bà Lại Thị X2, ông Lại Văn S1.

    Hàng thừa kế thứ nhất của ông Lại Văn K2 gồm: bà Võ Thị Ngọc D, bà Lại Thị C4, bà Lại Thị M1, bà Lại Thị Đ, ông Lại Văn T5, ông Lại Văn B1.

    Hàng thừa kế thứ nhất của ông Lại Văn T11 gồm: bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8, bà Nguyễn Thị C2, bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P, ông Lại Hoàng L1.

    Hàng thừa kế thứ nhất của bà Lại Thị X gồm: bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Diệu .

    Hàng thừa kế của ông Lại Văn S1 là bà Huỳnh Thị T12 và thừa kế thế vị của bà Lại Thị S2 là bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4.

    Về định giá: các đương sự đều thống nhất với kết quả định giá tài sản của Hội đồng định giá ngày 03/05/2024, theo biên bản định giá tài sản ngày 03/05/2024 thì giá đất thuộc thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 có đơn giá 1.755.136 đồng/m², giá đất thuộc thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 có đơn giá 464.000 đồng/m².

    - Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7:

    Di sản thừa kế của bà N5:

    Về nguồn gốc:

    Theo Công văn số 2510/UBND ngày 29/9/2017 về việc trả lời đơn của bà Võ Thị Ngọc D, bà Lại Thị X, bà Lại Thị X1, ông Lại Hoàng V của UBND huyện B thì: Phần đất thuộc các thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (tài liệu 02/CT-UB) bộ địa chính xã V, huyện B do bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp quản lý sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1977 theo chủ trương của Nhà nước, bà N5 đưa phần đất này vào Tập đoàn B2, xã V để sản xuất. Năm 1988, Tập đoàn A3, Tập đoàn B2 và Hợp tác xã T16, bà Nguyễn Thị N5 được giao lại đất.

    Về công tác kê khai, đăng ký đất đai trong sổ bộ địa chính theo các nền tài liệu bản đồ qua các thời kỳ: Theo sổ mục kê ruộng đất (bộ S3) lập theo tài liệu 299/TTg: Thuộc một phần thửa 1481, tờ bản đồ số 8 (diện tích 3.950,2m²) và một phần thửa 191 tờ bản đồ số 9 (10.361,2m²), xã V, lại đất Mùa, do Tập đoàn B2 và Tập đoàn A3 đăng ký; Theo sổ mục kê ruộng đất (bộ S4) lập theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB: phần đất thuộc thửa 273 (diện tích 1.335m²), thửa 274 (4.375m²) tờ bản đồ số 7 do bà Lại Thị X2 đăng ký, thửa 18, 19 (diện tích 10.020m²) tờ bản đồ số 15 do bà Nguyễn Thị N5 đăng ký.

    Theo Công văn số 1544/UBND ngày 26/04/2023 của UBND huyện B thì:

    Vị trí khu đất hiện đang tranh chấp thuộc một phần các thửa đất số 18, 19, tờ bản đồ số 15 tài liệu 02 CT-UB thuộc bộ địa chính xã V, hiện chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Về quá trình đăng ký, kê khai đất đai:

    • Thửa đất số 18, 19, tờ bản đồ số 15 (tài liệu 02/CT-UB), sổ mục kê đất đai do bà Nguyễn Thị N5 kê khai đăng ký.
    • Tương ứng thuộc thửa 191, tờ 09 (tài liệu 299 TTg), do Tập đoàn A3 kê khai đăng ký.
    • Tương ứng thuộc thửa 38, 39, 40, tờ 174 (tài liệu BĐĐC) bỏ trống, không có tổ chức, cá nhân kê khai đăng ký.

    Về hiện trạng sử dụng đất và giao đất sau khi tập đoàn tan rã:

    • Vị trí khu đất hiện đang tranh chấp thuộc một phần các thửa đất số 18, 19, tờ bản đồ số 15 tài liệu 02 CT-UB thuộc bộ địa chính xã V có hiện trạng là đất trống: do hiện nay đang có tranh chấp nên ủy ban nhân dân xã V không rõ ai là người đang trực tiếp sử dụng.
    • Qua rà soát hồ sơ lưu trữ, ủy ban nhân dân xã V xác định không có tài liệu ghi nhận việc giao đất của Tập đoàn sau khi tan rã đã giao đất lại cho những ai nên không có cơ sở để cung cấp thông tin.

    Theo Công văn số 3248/UBND ngày 08/08/2024 của UBND huyện B thì:

    • Quá trình kê khai đăng ký qua các thời kỳ đối với phần đất thuộc phần thửa 273-1, 274-1, tờ bản đồ số 07 (tài liệu 02/CT-UB) tương ứng thửa 13, tờ bản đồ số 95 (BĐĐC), thuộc bộ địa chính xã V, huyện B
    • Theo tài liệu BĐĐC: Thửa đất số 13, tờ bản đồ số 95, diện tích 3619,2m², loại đất: 1L, không thể hiện thông tin đăng ký.
    • Theo tài liệu 02/CT-UB:
      • Thửa đất số 273, tờ bản đồ số 7, diện tích: 1755m², loại đất: Ao theo sổ mục kê ghi nhận kê khai cộng hữu do ông Thái Văn X3 kê khai 400/1735m² và bà Lại Thị X2 kê khai 1335/1735m².
      • Thửa đất số 274, tờ bản đồ số 7, diện tích: 5915m², loại đất: L theo sổ mục kê ghi nhận kê khai cộng hữu do ông Thái Văn X3 kê khai 1540/5915m² và bà Lại Thị X2 kê khai 4375/5915m².
    • Theo tài liệu 299/TTg: Thuộc thửa đất số 1481, tờ bản đồ số 8, diện tích: 9433m², loại đất: Mùa do tập đoàn B2 đăng ký.

    Về Quá trình sử dụng đất

    Khu đất do bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp quản lý và sử dụng từ trước năm 1975, đến năm 1977 theo chủ trương bà N5 đưa đất vào Tập đoàn sản xuất. Đến năm 1988 tập đoàn T15, bà N5 lấy lại đất canh tác. Năm 1998 bà N5 chết, ông Lại Hoàng A ở chung hộ khẩu với bà N7 kê khai đăng ký dụng đất thì phát sinh tranh chấp.

    Phần đất này ông Lại Hoàng A canh tác từ năm 1998 đến nay và có đóng thuế sử dụng đất năm 2000 và 2002

    Theo sự thừa nhận của bà Lại Thị X2 thì phần đất thuộc một phần thửa số 273, 274 tờ bản đồ số 7 bộ địa chính xã V do bà đăng ký thì bà đã được cấp Giấy chứng nhận, một phần thửa 273 còn lại, bà N5 canh tác từ xưa đến giờ. Bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp sử dụng trước năm 1975, đến năm 1977 đưa vào Tập đoàn sản xuất, đấn năm 1988 tập đoàn tan rã bà N5 lấy lại canh tác cùng các con bà X2 có trong hộ khẩu. Khi đăng ký theo chỉ thị số 02/CTUB thì bà đăng ký giùm phần đất này cho hộ gia đình bà N5 đối với một phần thửa 273,274 vì mẹ bà già đi lại khó khăn.

    Như vậy sau khi Tập đoàn, hợp tác xã T16 thì bà Nguyễn Thị N5 được giao lại hai phần đất trên và hộ gia đình bà trực tiếp canh tác sử dụng từ xưa đến nay. Bà Nguyễn Thị N5 có tên trong sổ mục kê lập trước ngày 15/10/1993 đối với thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 (tài liệu 02/CT-UB) và bà Nguyễn Thị X4 đăng ký giúp cho hộ bà Nguyễn Thị N5 đối với một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB). Hộ bà Nguyễn Thị N5 trực tiếp canh tác, sử dụng đối với hai phần đất này, đang sử dụng ổn nên là đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

    Theo biên bản về việc họp xét cấp giấy chứng nhận của UBND xã V ngày 12/01/2006 thì cũng thuận cấp cho hộ ông Lại Hoàng A.

    Theo tờ trình về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 25/08/2006 của UBND xã V thì cấp cho hộ ông Lại Hoàng A

    Theo Công văn số 1101/UB-TN&MT ngày 26/09/2005 của UBND huyện B: "Phần đất các ông bà dang tranh chấp trước đây do hộ bà Nguyễn Thị N5 quản lý, sử dụng. Bà N5 qua đời không để lại di chúc.

    Ông Lại Hoàng A cùng chung hộ khẩu với bà N5. Sau khi bà Nguyễn Thị N5 chết, ông Lại Hoàng A đại diện hộ đăng ký theo tinh thần chỉ thị 02/CT-UB thì các ông bà phát sinh tranh chấp đòi ông Lại Hoàng A phân chia thừa kế đất đai làm 6 phần bằng nhau cho các con bà Nguyễn Thị N5”.

    Theo Công văn số 4673/CV-QLĐĐ ngày 14 tháng 4 năm 2000 của Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố về việc xác định người đứng tên trên giấy cấp GCNQSDĐ nông nghiệp cá nhân hay đại diện hộ gia đình, trong đó có nội dung: “... Như vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố vừa qua là đã cấp cho hộ gia đĩnh, người chủ hộ là người đứng tên đại diện..."

    Xác định, quyền sử dụng đất có diện tích 12.680,9m² thuộc thửa số 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là của hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5.

    Điều này cũng phù hợp với lời trình bày của ông Lại Hoàng V thì ông T11 là con của bà N5, lúc đưa đất của gia đình ông T11 vào Tập đoàn và sau đó được Tập đoàn giao trả lại thì đất cấp cho hộ gia đình ông T11 chứ không đứng tên một mình ông T11.

    Về hộ gia đình bà N5:

    Căn cứ theo trích lục Giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú trong hộ ngoại thành số 098510 tháng 08/1975 và Giấy chứng nhận hộ khẩu thường trú số 874494 ngày 10/03/1982 và sổ hộ khẩu gia đình số [...] của Công an huyện B thì hộ bà Nguyễn Thị N5 tại địa chỉ C ấp C, xã V, huyện B gồm các thành viên như sau: Nguyễn Thị N5, sinh năm: 1913; Lại Hoàng A, sinh năm: 1968; Lại Hoàn M, sinh năm: 1978; Lại Thị Kim H1, sinh năm: 1975; Nguyễn Thị R, sinh năm: 1971; Lại Hoàng S, sinh năm: 1988; Lại Hoàng C, sinh năm: 1991. Trong đó, ông Lại Hoàn M chết năm 2021 – giấy chứng tử số 714 ngày 28/5/2024. Người kế thừa tố tụng của ông M gồm: mẹ là bà Lại Thị X2, vợ là Nguyễn Thị Thanh T4, các con là Lại Nguyễn Như Q, Lại Nguyễn Phương U.

    Theo Công văn số 1299/CABC-QLHC năm 2023 thì tại địa chỉ C ấp C, xã V, huyện B gồm các thành viên như sau: Nguyễn Thị N5, Lại Hoàng A, Lại Hoàn M, Lại Thị Kim H1, Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C.

    Tại khoản 29 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất ”.

    Như vậy, xác định quyền sử dụng đất có diện tích 12.680,9m² thuộc thửa số 18, 19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (tài liệu 02/CT-UB), bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là của hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5.

    Bà Nguyễn Thị N5 là một thành viên của hộ gia đình, khi bà N5 chết thì phần quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị N5 là di sản thừa kế.

    Xác định, di sản của bà Nguyễn Thị N5 đối với thửa 18, 19 là 9.506m²: 7 = 1.358m², đối với thửa 273, 274 là 3.174,9m²: 7 = 453,56m². Tổng cộng 1.811,56m².

    Bà N5 chết không để lại di chúc; Căn cứ quy định tại Điều 650 BLDS thì di sản của bà N5 được chia theo pháp luật.

    Như phân tích trên, bà N5 có 07 người con, trong đó ông Lại Văn L2 (sinh năm 1942 - chết năm 1966, không có vợ con) nên di sản của bà N5 sẽ được chia đều cho cho 06 người con còn lại gồm: (K2, Trụ, X, X1, X, S1). Mỗi người được hưởng: 1.81 1,56m²: 6 = 301,926m².

    Ông Lại Văn K2 chết năm 2015, nên phần di sản là quyền sử dụng đất của ông K2 sẽ chia thừa kế theo pháp luật cho vợ (bà D) và năm người con (Lại Thị C4, Lại Thị Đ, Lại Văn T5, Lại Thị M1, Lại Văn B1). Mỗi người được hưởng 301,926m² : 6 =50,321 m²; Bà Đ tự nguyện nhường phần của mình cho ông Lại Hoàng A.

    Ông Lại Văn T11 chết năm 2005, nên phần di sản là quyền sử dụng đất của ông Lại Văn T11 sẽ chia thừa kế theo pháp luật cho vợ (bà G, bà C2) và mười một người con (Lại Thị Minh A1, Lại Hoàng M2, Lại Thị Minh T6, Lại Thị Diễm T7, Lại Thị Mộng K1, Lại Hoàng V, Lại Thị T8, Lại Thị T10, Lại Thị T9, Lại Thị P, Lại Hoàng L1. Mỗi người được hưởng 301,926m² : 13 = 23,22m². ông Lại Hoàng L1 nhường phần cho gia đình ông Lại Hoàng V nên gia đình của ông Lại Hoàng V được hưởng 23,22m² x 9 = 209m².

    Bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị D1 được hưởng phần di sản là quyền sử dụng đất của bà X chia thừa kế theo pháp luật là 301,926m².

    Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 được hưởng tài sản là quyền sử dụng đất của bà N5 theo thừa kế thế vị là 301,926m².

    Bà Lại Thị X2 yêu cầu không nhận phần thừa kế của mình mà nhường phần này cho ông Lại Hoàng A vì ông Lại Hoàng A có công nuôi dưỡng, chăm sóc bà Nguyễn Thị N5.

    Xét thấy, tại phiên tòa ngày 21/5/2025, ông Lại Hoàng A là đại diện theo ủy quyền của bà X2, xác định: về phần giá trị thừa kế của bà X2 do ông Lại Hoàng A và bà X2 có mối quan hệ mẹ con, nên bà X2 có cho ông Lại Hoàng A phần giá trị thừa kế bà được hưởng, nhưng mẹ con sẽ thỏa thuận riêng. Tại phiên tòa ngày 12/6/2025, ông Lại Hoàng A từ chối nhận phần giá trị thừa kế của bà X2 vì cho rằng bà X2 đã già không có thu nhập nên để phần thừa kế này cho bà X2 được hưởng.

    Về phía bà Đ: do bà Đ ở xa không thuận tiện tham gia phiên tòa, bà Đ nhường phần thừa kế được hưởng cho ông Lại Hoàng A. Tại phiên tòa ngày 12/6/2025, ông Hoàng A từ chối nhận phần giá trị di sản của bà Đ nên phần thừa kế này bà Đ được hưởng.

    Về công sức đóng góp của ông Lại Hoàng A: Tại phiên tòa, ông Lại Hoàng A xác định, ông là người trực tiếp canh tác trên diện tích đất tranh chấp từ sau khi Tập đoàn tan rã năm 1988 và cũng là người trực tiếp chăm sóc, phụng dưỡng bà N5. Từ sau khi bà N5 chết, ông Lại Hoàng A và gia đình là người trực tiếp quản lý, sử dụng cho đến nay. Về công sức đóng góp, ông đề nghị được hưởng theo quy định của pháp luật.

    Ông Lại Hoàng A có công sức đóng góp trong việc giữ gìn tài sản và chăm sóc bà N5. Vì vậy, để giải quyết triệt để vụ án, cần xem xét đến công sức đóng góp của ông Lại Hoàng A. Do đó, ông Lại Hoàng A cần phải được hưởng một suất thừa kế trong khối di sản thừa kế của bà N5.

    Tuy nhiên, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 5 Quyết định số 60/2017/QD-UBND ngày 05/12/2017 của UBND Thành phố H quy định về điểu kiện tách thửa như sau: “Trường hợp thửa đất thuộc khu vực quy hoạch, để sản xuất nông nghiệp: được phép tách thửa, thửa đất mới hình thành và thửa đất còn lại phải đảm bảo diện tích tối thiểu là 500m² đổi với đất trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp khác và 1.000m² đối với đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối”. Như vậy phần diện tích được nhận thừa kế không đủ diện tích tách thửa theo quy định trên. Do đó, ông Lại Hoàng A và các thành viên trong hộ gia đình gồm Lại Thị Kim T14, Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền tương đương với giá trị phần đất được chia.

    Cụ thể theo biên bản định giá tài sản ngày 03/05/2024 thì giá đất thuộc thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 có đơn giá 1.755.136 đồng/m2, giá đất thuộc thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 có đơn giá 464.000 đồng/m².

    Như vậy giá trị tài sản là quyền sử dụng đất mà các thừa kế, thừa kế kế vị được hưởng như sau: (9.506m² : 7 : 6) x 1.755.136 đồng/m² + (3.174,9m² : 7 : 6) x 464.000 đồng/m² = 432.320.867 đồng.

    Xét thấy, như phân tích trên, Di sản của bà N5, đối với thửa 18, 19 là 9.506m² : 7 = 1.358m², đối với thửa 273, 274 là 3.174,9m²: 7 = 453,56m². Tổng cộng 1.811,56m².

    Về hàng thừa kế của bà N5, bà N5 có 07 người con, trong đó, có Lại Văn L2 (chết năm 1966, không có vợ con). Di sản của bà N5 sẽ được chia 07 phần: cho 06 người con còn lại và ông Hoàng A. Mỗi người được hưởng: 1.811,56m² : 7 = 258,794m²

    Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản Điều 5 Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của UBND Thành phố H quy định về điều kiện tách thửa, thì diện tích trên không đủ điều kiện tách thửa.

    Do đó, ông Lại Hoàng A và các thành viên trong hộ gia đình gồm Lại Thị Kim T14, Nguyễn Thị R, Lại Hoàng S, Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền tương đương với giá trị phần đất được chia.

    Cụ thể: theo biên bản định giá tài sản ngày 03/05/2024 thì giá đất thuộc thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 có đơn giá 1.755.136 đồng/m2, giá đất thuộc thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 có đơn giá 464.000 đồng/m².

    Như vậy giá trị tài sản là quyền sử dụng đất mà các thừa kế, thừa kế kế vị được hưởng như sau: (9.506m² : 7: 7 ) x 1.755.136 đồng/m² + (3.174,9m² : 7: 7) x 464.000 đồng/m² = 370.560.743 đồng.

    Tuy nhiên, tòa án cấp sơ thẩm tuyên bà Võ Thị Ngọc D được hưởng giá trị tài sản là quyền sử dụng đất của ông Lại Văn K2 theo pháp luật là 72.053.477 đồng là còn thiếu sót làm ảnh hưởng đến quyền lợi của 5 người con của ông K2 và án sơ thẩm tuyên thiếu về hàng thừa kế của ông Lại Văn K2 gồm bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1.

    Ngoài ra, bản án sơ thẩm tuyên còn thiếu về hàng thừa kế của ông Lại Văn T11 gồm vợ Nguyễn Thị C2 và 04 người con (bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P, riêng phần ông Lại Hoàng L1 cho gia đình Lại Hoàng V), thiếu phần thừa kế của bà Lại Thị X2 được hưởng và phần công sức đóng góp chăm sóc và giữ gìn tài sản của bà N5 của ông Lại Hoàng A. Do vậy nên sửa án sơ thẩm theo hướng trên.

    Từ phân tích trên, do phát sinh tình tiết mới nên sửa án sơ thẩm.

    Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị Ngọc D.

    - Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 730/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh:

    • Bà Lại Thị X1 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng.
    • Hàng thừa kế của ông Lại Văn K2 gồm bà D + 05 người con của ông K2 (Lại Thị C4, Lại Thị Đ, Lại Văn T5, Lại Thị M1, Lại Văn B1).

    Bà Võ Thị Ngọc D, bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1 được hưởng phần giá trị di sản mỗi người là 370.560.743 đồng/6 = 61.760.123 đồng. Bà Đ tự nguyện nhường phần của mình cho ông L3 Hoàng A nhưng ông Lại Hoàng A không nhận nên bà Lại Thị Đ được nhận phần di sản này.

    Do đó:

    • Bà Võ Thị Ngọc D được số tiền 61.760.123 đồng.
    • Bà Lại Thị C4, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1, bà Lại Thị Đ là 61.760.123 đồng x 5 = 308.800.615 đồng.
    • Bà Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị C2 và mười một người con (Lại Thị Minh A1, Lại Hoàng M2, Lại Thị Minh T6, Lại Thị Diễm T7, Lại Thị Mộng K1, Lại Hoàng V, Lại Thị T8, Lại Thị T10, Lại Thị T9, Lại Thị P, Lại Hoàng L1 mỗi người được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng/13= 28.504.672 đồng.

    Do ông L1 nhường lại cho gia đình ông V nên gia đình bà Nguyễn Thị C2, bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P được nhận là 28.504.672 đồng x 4 = 114.018.688 đồng.

    Như vậy gia đình ông Lại Hoàng V gồm: Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, bà Lại Thị T8, ông Lại Hoàng V nhận là 28.504.672 đồng x 9 = 256.542.048 đồng.

    Bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị D1 được hưởng phần di sản được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng.

    Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng.

    Bà Lại Thị X2 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng.

    Ông Lại Hoàng A được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng.

    Ý kiến của luật sư Nguyễn Văn T1 không phù hợp nên không được chấp nhận. Ý kiến của luật sư Trần Trung K phù hợp nên được chấp nhận.

    Từ những nhận định trên, nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Ngọc D. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở pháp luật nên chấp nhận.

  3. Về chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá:

    Nguyên đơn đã tạm nộp 2.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo phiếu thu ngày 27/07/2020; tạm nộp 30.952.659 đồng chi phí đo vẽ theo hợp đồng số 129134/TTĐĐBĐ-VPTT ngày 21/07/2020, tạm nộp 3.000.000 đồng chi phí định giá tài sản theo phiếu thu ngày 16/04/2024. Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn chịu chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận một phần nên nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được hưởng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    • Bà Lại Thị X1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X1 được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • Bà Lại Thị X là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Lại Thị X chết nên bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Diệu C5 tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà X. Do đó, bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Diệu K3 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Lại Thị X2 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X2 được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    • Bà Võ Thị Ngọc D là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Võ Thị Ngọc D được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và bà D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0002982 ngày 26/09/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
    • Bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1 chịu 15.440.031 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8 chịu 12.827.102 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Lại Hoàng V đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0002981 ngày 26/09/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8 phải nộp thêm 10.327.102 đồng.
    • Bà Nguyễn Thị C2, bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P chịu 5.700.934 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 chịu 18.528.037 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số 0033246 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 phải nộp thêm 16.028.037 đồng (mười sáu triệu lẻ hai mươi tám ngàn lẻ ba mươi bảy đồng).
    • Ông Lại Hoàng A chịu 18.528.037 đồng (mười tám triệu năm trăm hai mươi tám ngàn lẻ ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn chịu chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá.
    • Án phí dân sự phúc thẩm: Bà D không phải chịu.
  5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 và khoản 3 Điều 296, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 29 Điều 3, Điều 100, Điều 101, Điều 179 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 209, Điều 612, Điều 623, Điều 651, Điều 652, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội khóa 10;

Căn cứ Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Điều 18, Điều 91 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;

Căn cứ Quyết định số 60/2017/QĐ-UBND ngày 05/12/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Ngọc D.
  2. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 730/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh:
    1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Ngọc D, bà Lại Thị X, bà Lại Thị X1, ông Lại Hoàng V, chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 về việc chia thừa kế tài sản là quyền sử dụng đất đối với phần đất diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB) bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Xác định di sản của bà Nguyễn Thị N5, đối với thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 là 9.506m² : 7 = 1.358m², đối với thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 là 3.174,9m²: 7 = 453,56m². Tổng cộng 1.811,56m².

    2. Buộc các thành viên trong hộ gia đình bà Nguyễn Thị N5 bao gồm: ông Lại Hoàng A, bà Lại Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S, ông Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) có trách nhiệm liên đới thanh toán cho:
    3. Bà Lại Thị X1 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng (ba trăm bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
    4. Bà Võ Thị Ngọc D được hưởng phần giá trị di sản là 61.760.123 đồng (sáu mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi ngàn một trăm hai mươi ba đồng).
    5. Bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1 là được hưởng phần giá trị di sản là 308.800.615 đồng (ba trăm lẻ tám triệu tám trăm ngàn sáu trăm mười lăm đồng).
    6. Bà Nguyễn Thị C2, bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P được hưởng phần giá trị di sản là 114.018.688 đồng (một trăm mười bốn triệu lẻ mười tám ngàn sáu trăm tám mươi tám đồng).
    7. Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, bà Lại Hoàng V được hưởng phần giá trị di sản là 256.542.048 đồng (hai trăm năm mươi sáu triệu năm trăm bốn mươi hai ngàn lẻ bốn mươi tám đồng).
    8. Bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị D1 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng (ba trăm bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
    9. Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng (ba trăm bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
    10. Bà Lại Thị X2 được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng (ba trăm bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
    11. Ông Lại Hoàng A được hưởng phần giá trị di sản là 370.560.743 đồng (ba trăm bảy mươi triệu năm trăm sáu mươi ngàn bảy trăm bốn mươi ba đồng).
  3. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán như trên thì ông Lại Hoàng A, bà Lại Thị Kim H1, bà Nguyễn Thị R, ông Lại Hoàng S, ông Lại Hoàng C, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng ông Lại Hoàn M (bà Nguyễn Thị Thanh T4, bà Lại Nguyễn Như Q, bà Lại Nguyễn Phương U, bà Lại Thị X2) được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 12.680,9m² thuộc các thửa 18,19 tờ bản đồ số 15 và một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB) bộ địa chính xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vị trí phần đất được thể hiện tại khu (1) + (2) + (3) – (275-1) – (12-1) = 3.174,9m² thuộc một phần thửa 273, 274 tờ bản đồ số 7 và vị trí (1) = 9.506m² thuộc một phần thửa 18, 19 tờ bản đồ số 15 tại bảng thống kê diện tích theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 16/11/2020 của Trung tâm đo đạc Bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, số hợp đồng: 129134/TTĐĐBĐ-VPTT (1/2) và (2/2) theo quy định của pháp luật.
  4. Về án phí, chi phí tố tụng:
    1. Bà Lại Thị X1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X1 được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    2. Bà Lại Thị X là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà Lại Thị X chết nên bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Diệu C5 tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà X. Do đó, bà Lê Thị H, ông Lê Văn T2, ông Lê Văn T3, ông Lê Văn N, bà Lê Thị N1, bà Lê Thị Diệu K3 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
    3. Bà Lại Thị X2 là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Lại Thị X2 được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
    4. Bà Võ Thị Ngọc D là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí nên bà Võ Thị Ngọc D được miễn nộp án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và bà D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0002982 ngày 26/09/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh.
    5. Bà Lại Thị C4, bà Lại Thị Đ, ông Lại Văn T5, bà Lại Thị M1, ông Lại Văn B1 chịu 15.440.031 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    6. Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8 chịu 12.827.102 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông Lại Hoàng V đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số AA/2019/0002981 ngày 26/09/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Nguyễn Thị G, bà Lại Thị Minh A1, ông Lại Hoàng M2, bà Lại Thị Minh T6, bà Lại Thị Diễm T7, bà Lại Thị Mộng K1, ông Lại Hoàng V, bà Lại Thị T8 phải nộp thêm 10.327.102 đồng (mười triệu ba trăm hai mươi bảy ngàn một trăm lẻ hai đồng).
    7. Bà Nguyễn Thị C2, bà Lại Thị T10, bà Lại Thị T9, bà Lại Thị P chịu 5.700.934 đồng (năm triệu bảy trăm ngàn chín trăm ba mươi bốn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    8. Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 chịu 18.528.037 đồng (mười tám triệu năm trăm hai mươi tám ngàn lẻ ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 đã nộp 2.500.000 đồng theo biên lai số 0033246 ngày 23/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Lại Thị Hồng T10, bà Lại Thị Huỳnh N3, bà Lại Thị Hồng N4 phải nộp thêm 16.028.037 đồng (mười sáu triệu lẻ hai mươi tám ngàn lẻ ba mươi bảy đồng).
    9. Ông Lại Hoàng A chịu 18.528.037 đồng (mười tám triệu năm trăm hai mươi tám ngàn lẻ ba mươi bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    10. Ghi nhận sự tự nguyện của các nguyên đơn chịu chi phí đo vẽ, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá.
    11. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà D không phải chịu.
  5. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TPHCM;
  • - VKSND TPHCM;
  • - Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 662/2025/DS-PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 662/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger