|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 662/2024/DS-PT
Ngày: 25/7/2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thảo
Bà Vũ Thị Thu Hương
Thư ký phiên tòa: Bà An Phương Trang - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 25/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 347/2024/DSPT ngày 10/4/2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 278/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định hoãn phiên tòa số 8225/2024/QĐ-PT ngày 14/6/2024, số 9432/2024/QĐ-PT ngày 03/7/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3564/2024/QĐ-PT ngày 03/7/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hà Nguyên C (chết 17/04/2024)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hà Nguyên C:
1. Bà Nguyễn Ngọc H năm 1952 (xin vắng)
Địa chỉ: A Đường số C, Khu C, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bà Hà Nguyên N năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn E, tỉnh Bình Phước.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Ngọc H và Hà Nguyên N1: Ông Nguyễn Văn X– Luật sư thuộc Đoàn L HVăn phòng L
Bị đơn: Ông Dương Văn H1, sinh năm 1958 (vắng mặt)
Địa chỉ: P, nhà A, số H, đường số G, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Hoài N1sinh năm 1985 (vắng mặt)
Địa chỉ: B, L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người kháng cáo: bị đơn – ông Dương Văn H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn trình bày tại Đơn khởi kiện và tại giai đoạn xét xử sơ thẩm như sau:
Do có mối quan hệ thân quen, ông Hà N2 C cho ông Dương Văn H1 vay một số tiền và ông H1giao cho ông C1 sổ đỏ để làm tin.
Ngày 04/12/2020, ông Dương Văn H2 Giấy mượn tiền (BL.30) nội dung xác nhận có vay ông C2 tiền 4.400.000.000₫ (Bốn tỷ bốn trăm triệu đồng), thời hạn vay là trả trước ngày 30/12/2020. Đồng thời, trong Giấy mượn tiền ngày 04/12/2020, ông H1ghi thêm phần dưới trang giấy nội dung “Tôi đã mượn lại cuốn sổ đỏ mà tôi gởi bác C3 làm tin.”
Theo nguyên đơn trình bày, hai bên có thỏa thuận lãi suất là 2%/tháng nhưng không ghi lãi suất vay trong Giấy mượn tiền.
Tuy nhiên, đến hạn ông H1đã không thanh toán nợ theo đúng thỏa thuận. Ngày 15/01/2021, ông H1đã nhờ ông Ngô Tùng T khoản trả cho ông C2 tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Ngày 30/01/2021, ông H1trả tiếp cho ông C2 tiền 500.000.000đ (Năm trăm triệu đông) rồi ngừng trả tiền cho đến nay.
Ngày 20/03/2023 ông Hà Nguyên C có Đơn khởi kiện, và sau đó có Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 30/6/2023, yêu cầu ông Dương Văn H3 thanh toán cho ông Hà Văn C4:
- - Số tiền gốc là 3.400.000.000 đồng và lãi trong hạn (04/12/2020 đến 31/12/2020) là 63.555.000đ, lãi quá hạn tạm tính đến ngày 30/12/2023 là 2.975.000.000đ, tổng cộng là 6.438.555.000 đồng (Sáu tỷ, bốn trăm ba mươi tám triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng đồng).
- - Không yêu cầu tính tiền lãi quá hạn từ ngày 31/12/2020 đến ngày 30/01/2021 và tiền lãi quá hạn từ ngày 01/01/2024 đến ngày 19/01/2024.
- - Yêu cầu trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Dương Văn H4 ông Đỗ Hoài N3 đại diện trình bày:
Ngày 04/12/2020, ông Hlcó viết giấy mượn tiền với nội dung vay của ông Hà Nguyên C5 tiền 4.400.000.000 đồng (bốn tỷ bốn trăm triệu đồng), thời hạn trả trước ngày 30/12/2020, lãi suất là 2%/tháng (lãi suất không ghi trong giấy nợ). Chữ viết và ký trong giấy mượn tiền ngày 04/12/2020 là của ông H5 viết giấy vay tiền ông Hlcó đưa cho ông C6 chứng nhận Quyền sử dụng đất để làm tin. Sau đó, ông H6 lấy lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất này.
Sở dĩ ông Hlviết giấy vay nợ này là do trước đây ngày 11/6/2018, Ngô Tùng T1 năm 1987, địa chỉ: L.37 - 03 L, V, đường N, Phường B, quận B, Thành phố H người quen của ông Hlcó vay của ông Hà Nguyên C5 tiền nợ gốc là 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng), lãi suất 2,5%/tháng, không có thời hạn vay.
Ngày 12/6/2019, ông H1trả cho ông Hà Nguyên C5 tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng) bằng hình thức chuyến khoản tại Ngân hàng A nội dung: “Chú D cháu T2 trả 1 tỷ vào khoản vay 5 tỷ ngày 11/6/2018 cho ông Hà Nguyên C5 tiền nợ gốc của T3 lại là 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng) được ông H1viết giấy nợ vào ngày 12/6/2019 với nội dung: Ông H1xác nhận vay của ông C5 tiền là 4.000.000.000 đồng (bốn tỷ đồng), lãi suất 2%, thời hạn vay là 03 tháng, tối đa là 06 tháng, ông Hlcó gửi bác Có chứng nhận Quyền sử dụng đất M614704, tọa lạc tại Xa lộ H, thị xã D, tỉnh Bình Dương (Giấy vay nợ này do ông Hlviết nhưng không có chữ ký của ông C7 trong giấy vay tiền không có nội dung xác nhận khoản tiền vay này được chuyển từ khoản vay của T4 cho ông H1
Sau đó, ông T5 trả nợ lãi cho ông C8 ông C9 tiền lãi là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Vì vậy, ngày 16/10/2020, ông Hltiếp tục viết giấy cam kết trả nợ cho ông C10 số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng). Ngày 04/12/2020, ông Hlviết giấy mượn tiền của ông C10 số tiền là 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm triệu đồng) bao gồm số tiền nợ gốc là 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng) và tiền lãi là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng). Tất cả các giấy vay nợ này và cam kết trả nợ là do ông H1 viết và không có nội dung xác nhận từ ông C11 khoản nợ này được chuyển tiếp từ khoản nợ của ông Ngô Tùng T6 cho ông H1
Ngày 15/01/2021, T7 trả cho ông C5 tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) qua tài khoản của ông CNgày 30/01/2021, ông H1có chuyển khoản trả cho ông C5 tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng). Đối với nội dung trên giấy không đề ngày có ghi: “Đến hôm nay ông H1nợ 4.400.000.000 đồng (Bốn tỷ, bốn trăm triệu đông). Yêu cầu phải trả hết ngay” không cam kết và sai là dòng chữ do ông Hà Nguyên C12 cho ông H1nhưng sau đó ông H1cầm giấy này về đưa cho ông Ngô Tùng T8 thêm nội dung phía dưới “Số tiền này là chú H1nhận nợ giúp Tin, Dự định trả trước ngày 12/12/2020, phía dưới ký và viết tên Ngô Tùng T9 Tin viết dòng chữ này thì không có sự đồng ý và chứng kiến của ông C13 tại Tòa, ông H1không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông C14 ông H1không nhận bất cứ khoản tiền nào của ông C
Ngày 10/5/2023 ông Dương Văn H7 Đơn phản tố (BL.43-45) yêu cầu:
- - Tuyên hợp đồng vay tiền giữa ông H1và ông C15 vô hiệu
- - Triệu tập ông Ngô Tùng T10 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa vụ án ra xét xử và quyết định tại Bản án sơ thẩm số 278/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 như sau:
“1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H C
Buộc ông Dương Văn H3 trả cho ông Hà Nguyên C5 tiền 6.438.555.000 đồng (Sáu tỷ, bốn trăm ba mươi tám triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng) bao gồm số tiền nợ gốc là 3.400.000.000 đồng, lãi trong hạn 63.555.000 đồng, lãi quá hạn là 2.975.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Hà Nguyên C16 yêu cầu ông Dương Văn H8 toán tiền lãi trên nợ lãi chưa trả và tiền lãi quá hạn từ ngày 31/12/2020 đến 7 ngày 30/01/2021, tiền lãi quá hạn từ ngày 01/01/2024 đến ngày 19/01/2024 đối với số tiền nợ nói trên.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.”
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, nghĩa vụ khi chậm thi hành án, quyền và nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/01/2024, bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người kháng cáo – ông Dương Văn H9 đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt.
Phía nguyên đơn có người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà Nguyễn N4 N2trình bày: Đồng ý bản án sơ thẩm, không đồng ý kháng cáo của bị đơn. Ông Hà Nguyên C17 ngày 17/04/2024 nên bà Nguyễn Ngọc H10 vợ và bà Nguyễn N4 N2là con gái xin kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hà N2 CĐề nghị Tòa án cho bà H11 bà N2được nhận số tiền mà bị đơn phải trả cho ông Hà N2 C
Luật sư Nguyễn Văn X có Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc H12 vắng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm và trước khi nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung kháng cáo: Bị đơn kháng cáo vắng mặt không lý do đến lần thứ hai, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm, bản án sơ thẩm có hiệu lực. Tuy nhiên, do ông Hà Nguyên C18 đơn đã chết nên cần điều chỉnh lại tên người được thi hành án là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn để đảm bảo thi hành án, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm nhưng có điều chỉnh tên những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hà N2 C
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Kháng cáo của bị đơn trong thời hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định nên được chấp nhận để xem xét lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Sau khi có bản án sơ thẩm và bị đơn kháng cáo, trong giai đoạn chờ xét xử phúc thẩm thì ông Hà Nguyên Cát m(chết ngày 17/04/2024 Theo Trích lục khai tử số 352/2024/TLKT-BS ngày 20/05/2024 của Ủy ban nhân dân phường B thủ Đ
Lúc sinh thời ông Hà Nguyên C19 trình bày ông C19 vợ tên Nguyễn Ngọc H13 tường trình của bà Nguyễn Ngọc H14, bà H là vợ của ông C19 đăng ký kết hôn, có một con chung là Hà Nguyên N5 đơn tường trình bà H15 trình bản sao y có thị thực Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn và Giấy khai sinh của bà Lê N6 N3
Dựa vào các chứng cứ trên, xác định những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Hà Nguyên C20 bà Nguyễn Ngọc H16 bà Hà Nguyên N1
[3] Về nội dung kháng cáo, bị đơn cho rằng bản án sơ thẩm chưa xem xét đến chứng cứ về về ông Ngô Tùng T11 người vay tiền của ông Hà Nguyên C21 không đưa ông Ngô Tùng T12 tham gia tố tụng là thiếu sót.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp đòi nợ theo hợp đồng vay tài sản – Giấy mượn tiền viết tay ngày 04/12/2020 (BL.30)
Bị đơn xác nhận có ký Giấy mượn tiền viết tay ngày 04/12/2020 nhưng trình bày rằng bị đơn ký thay cho người vay tiền là Ngô Tùng T13 thân bị đơn không nhận tiền từ ông Hà N2 C
Yêu cầu phản tố của bị đơn thực chất là ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn cho rằng Giấy mượn tiền trên là vô hiệu vì ông H1mượn dùm cho ông Ngô Tùng T10
Các tài liệu chứng cứ có tại Hồ sơ vụ án cho thấy, ông Dương Văn H17 tiền của ông Hà Nguyên C22 số tiền tính đến ngày 04/12/2020 là 4,4 tỷ đồng. Ông Dương Văn H7 sử dụng số tiền vay này hay chuyển lại/ vay dùm cho Ngô Tùng T14 không lại quan hệ tranh chấp khác. Giữa ông Hà Nguyên C21 ông Ngô Tùng T15 có chứng cứ vay mượn trực tiếp với nhau nên không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu phản đối của bị đơn. Việc giải quyết vụ án không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của ông Lê T16 T1nên không cần đưa ông T1vào tham gia tố tụng theo đề nghị của ông H1
Bản án sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không xuất trình tài liệu chứng cứ nào chứng minh cho kháng cáo của mình.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ người đại diện của bị đơn/ bị đơn đến lần thứ hai nhưng bị đơn kháng cáo vẫn vắng mặt không có lý do.
Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ.
Căn cứ Khoản 5 Điều 308, Khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, do phát sinh tình tiết mới về người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Hà Nguyên C23 cần điều chỉnh bản án sơ thẩm cho phù hợp.
Tiền tạm ứng án phí do người kháng cáo nộp được sung công quỹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 218, Điều 271, 272, 273, 276, Khoản 5 Điều 308, Khoản 2 Điều 312 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo của bị đơn – ông Dương Văn H1.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 278/2024/DS-ST ngày 19/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh nhưng có điều chỉnh như sau:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông H C
Buộc ông Dương Văn H3 trả cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Hà Nguyên C5 tiền 6.438.555.000 đồng (Sáu tỷ, bốn trăm ba mươi tám triệu, năm trăm năm mươi lăm nghìn đồng) bao gồm số tiền nợ gốc là 3.400.000.000 đồng, lãi trong hạn 63.555.000 đồng, lãi quá hạn là 2.975.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật để chấm dứt nghĩa vụ trả nợ theo Giấy mượn tiền ngày 04/12/2020.
Các bên thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày những người thừa kế của ông Hà Nguyên C19 đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Dương Văn H18 thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả số tiền nói trên thì hàng tháng ông H1còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền tính trên nghĩa vụ chi trả. Nếu các bên không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Dương Văn H3 chịu án phí sơ thẩm là 114.438.555 đồng (Một trăm mười bốn triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm năm mươi lăm đồng).Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Tiền tạm nộp án phí dân sự phúc thẩm: sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí ông Dương Văn H19 nộp theo biên lai số 0025124 ngày 02/02/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiền |
|
THẨM PHÁN Phạm Thị Thảo |
THẨM PHÁN Vũ Thị Thu Hương |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hiền |
Bản án số 662/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 662/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm kháng cáo của bị đơn - Chấp nhận yêu cầu khời kiện của nguyên đơn.
