TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 661/2024/HS-ST Ngày 06 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh
Bà Huỳnh Thị Kim Kiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 649/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 636/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 1142/2024/QĐST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Ngọc S, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi đăng ký thường trú: Số B, đường số F, khu phố E, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú hiện nay: Số D, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Q, sinh năm 1965 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1968; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình và bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/03/2024 đến ngày 05/04/2024 huỷ bỏ quyết định tạm giữ và được áp dụng biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Bà Đỗ Thị S1, sinh năm 1974 (có mặt)
Địa chỉ: 4, khu phố F, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Ngọc S, sinh năm 1994, nơi cư trú: Khu phố E, phường L, thành phố B và chị Đỗ Thị S1, sinh năm 1974, nơi cư trú: khu phố F, phường L, thành phố B có mối quan hệ quen biết và cùng làm công nhân tại xưởng nhuộm của Công ty trách nhiệm hữu hạn U tại Khu công nghiệp L thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình làm việc tại công ty, S biết chị S1 thường có mang theo tài sản là vàng để trong túi xách nên nảy sinh ý định trộm cắp. Khoảng 22 giờ ngày 25/03/2024, S và chị S1 đến Công ty làm ca đêm, chị S1 có mang theo 01 túi xách màu đen bên trong cất giữ nhiều tài sản là vàng (Các loại) gồm: 01 nhẫn vàng 24K, 01 nhẫn vàng 23K, 01 lắc khoen vàng 16K, 01 dây chuyền vàng 16K, 01 mặt dây chuyền có gắn móc bằng vàng 16K, khi đến làm việc chị S1 treo túi xách trên máy hút chân không trong xưởng nhuộm (Cách vị trí đứng làm việc khoảng 05m). Đến 01 giờ 40 phút ngày 26/03/2024, vì hết hàng chạy máy nên tất cả các công nhân trong xưởng được tạm nghỉ và ngủ tại nơi làm việc. Khoảng 02 giờ 15 phút cùng ngày, lợi dụng chị S1 đang ngủ, S đã lén lút trộm cắp hết số vàng trong túi xách của chị S1 và mang đi cất giấu dưới nền đất ở khu vực cối ly tâm trong xưởng nhuộm, sau đó mang về nhà tại khu phố E, phường L, thành phố B cất giấu. Khoảng 05 giờ 40 phút cùng ngày, khi chị S1 đến lấy túi xách để ra về thì phát hiện bị mất hết số vàng bên trong. Đến sáng ngày 27/03/2024, chị S1 đến Đồn Công an Khu công nghiệp B, phường A, thành phố B trình báo sự việc. Biết hành vì phạm tội của mình không thể che dấu nên S đã tự liên hệ với chị S1, trả lại số tài sản đã trộm cắp và đến Đồn Công an Khu công nghiệp B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình. Chị S1 đã mang số tài sản do S trả lại giao nộp tại Đồn Công an Khu công nghiệp B. Đồn Công an K lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan điều tra Võ Ngọc S khai nhận hành vi phạm tội của mình. (Lời khai của bị cáo Võ Ngọc S tại bút lục số 61-67, 87-88, người bị hại tại bút lục số 68-73, 89-90),
Vật chứng thu giữ và xử lý như sau:
- - 01 lắc tay kim loại màu vàng có ký hiệu 16K; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt vuông có ký hiệu 23K; 01 nhẫn tròn kim loại màu vàng có ký hiệu 24K; 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền có gắn móc màu vàng. Những tài sản trên là của chị Đỗ Thị S1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị S1 (Bút lục số 45, 81).
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imel 867511050141892, có số sim 0393499403 là tài sản của Võ Ngọc S, không liên quan đến vụ án. Cơ quan điều tra đã trả lại cho S (Bút lục số 44, 80).
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 90/KL ngày 01/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng thành phố B, kết luận như sau: 01 nhẫn vàng (Loại vàng 24K), có trọng lượng: 02 chỉ, trị giá 13.720.000 đồng; 01 nhẫn vàng (Loại vàng 23K), có trọng lượng: 2,385 chỉ, trị giá 16.027.200 đồng; 01 lắc khoen vàng (Loại vàng 16K), có trọng lượng: 3,725 chỉ, trị giá 17.991.750 đồng; 01 dây chuyền vàng (Loại vàng 16K), có trọng lượng: 4,193 chỉ, trị giá 20.252.190 đồng; 01 mặt dây chuyền có gắn móc bằng vàng (Loại vàng 16K), có trọng lượng: 0,255 chỉ, trị giá 1.231.650 đồng.
Tổng cộng: 69.222.790 đồng (Sáu mươi chín triệu hai trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi đồng).
Về trách nhiệm dân sự: Chị Đỗ Thị S1 đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Bị cáo Võ Ngọc S đã tự nguyện bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị S1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng), chị S1 có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho S.
Tại bản Cáo trạng số: 456/CT-VKSBH ngày 02/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố Võ Ngọc S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Võ Ngọc S từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét. Về dân sự: Do bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Quá trình tranh luận, bị cáo Võ Ngọc S thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục lao động kiếm tiền để điều trị bệnh HIV cho bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 02 giờ 15 phút ngày 26/03/2024, tại xưởng nhuộm của Công ty trách nhiệm hữu hạn U, khu công nghiệp L thuộc phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo Võ Ngọc S đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm 01 lắc tay kim loại màu vàng có ký hiệu 16K; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt vuông có ký hiệu 23K; 01 nhẫn tròn kim loại màu vàng có ký hiệu 24K; 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền có gắn móc màu vàng của bà Đỗ Thị S1, có tổng trị giá tài sản là 69.222.790 đồng (Sáu mươi chín triệu hai trăm hai mươi hai nghìn bảy trăm chín mươi đồng).
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại bà Đỗ Thị S1. Nhằm mục đích muốn có tiền tiêu xài, phục vụ cho lợi ích cá nhân, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra.
Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú về hành vi phạm tội của mình, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu, hiện bị bệnh HIV dẫn đến bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng thường xuyên phải uống thuốc và tái khám hàng tháng từ tháng 6/2022 cho đến nay (có xác nhận và các đơn thuốc của Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Đ) là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy trong thời gian được tại ngoại bị cáo chấp hành tốt các quy định pháp luật và có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng mà cho bị cáo hưởng án treo và ấn định một thời gian thử thách tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục được lao động và điều trị bệnh HIV như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 lắc tay kim loại màu vàng có ký hiệu 16K; 01 nhẫn kim loại màu vàng, mặt vuông có ký hiệu 23K; 01 nhẫn tròn kim loại màu vàng có ký hiệu 24K; 01 dây chuyền kim loại màu vàng, 01 mặt dây chuyền có gắn móc màu vàng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bà Đỗ Thị S1 là đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO có số Imel 867511050141892, có số sim 0393499403 là tài sản của Vô Ngọc S2 không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp bị cáo S2 là đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 65 của Bộ luật hình sự;
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị Quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018.
Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ Ngọc S cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí:
Buộc bị cáo Võ Ngọc S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc Bảo |
Bản án số 661/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 661/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc S phạm tội
