|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 661/2024/HS-PT Ngày: 19/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Thắng;
Các Thẩm phán: Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Nguyễn Tiến Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số 655/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu C, do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
* Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Nguyễn Hữu C, sinh ngày 22 tháng 12 năm 1964 tại tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc T và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ Nguyễn Thị Uyên T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/8/2023, hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo do Tòa án chỉ định: Ông Ma Ngọc K - Luật sư Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T; có mặt.
* Bị hại có kháng cáo: Ông Chu Văn N, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn M, M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2022, do có mối quan hệ thân quen nên Nguyễn Hữu C, cư trú tại thôn L, xã M cho ông Chu Văn N ở thôn M, xã M vay tiền để trả nợ ngân hàng (ngày 12/5/2022, gia đình ông N vay 10.000.000 đồng; ngày 17/8/2022, gia đình ông N vay 300.000.000 đồng hẹn 10 ngày trả, hai bên có viết giấy vay nợ, thoả thuận miệng lãi suất 02%/tháng). Đến thời hạn trả nợ do không thấy gia đình ông N trả tiền, C và bà Nguyễn Thị Uyên T1 (vợ C) đã nhiều lần đòi tiền (nhắn tin, điện thoại, trực tiếp đến đòi tiền) nhưng gia đình ông N vẫn không trả.
Khoảng 08 giờ ngày 18/8/2023, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu nâu, biển số 22B2 - 050.38 đến nhà ông N để đòi nợ, khi đi C mang theo một con dao nhọn, loại dao gọt hoa quả. Thấy C mang theo dao nên bà T1 đã dùng điện thoại di động nhắn tin cho bà Nguyễn Thị H (vợ ông N) với nội dung: “Bảo chồng mày trốn đi nhé ông C mang dao nhọn vào trong đó nó đâm chồng mày lại bảo ch k bảo”, sau khi nhận được tin nhắn bà H đã gọi điện thoại cho ông N; khi C đến nhà ông N, thấy cửa nhà (làm bằng tôn) đóng bên trong không mở được. Cấp gọi nhưng không thấy ông N trả lời nên C đi về nhà cất dao và lấy 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp quay lại nhà ông N, dùng ổ khóa, khóa cửa ra, vào nhà ông N (mục đích là để ông N ở trong không ra được thì C sẽ gặp được ông N để đòi nợ), sau đó, C gọi nhưng ông N không trả lời nên C đi về nhà.
Khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm xong, C xuống bếp lấy 01 con dao bằng kim loại, chuôi gỗ (Kích thước chiều dài 40,2cm; phần bản và lưỡi dao dài 28cm, chỗ rộng nhất bản dao là 6,8cm), bọc dao vào miếng bìa cát tông, cài vào giá đèo hàng giữa xe mô tô biển số 22B2 - 050.38 và điều khiển xe đến nhà của C (nhà hiện đang cho thuê) ở ngã ba chợ cùng thôn L để mài dao. Khi đến nhà do quên chìa khóa nên C đi về; trên đường về do vẫn bực tức về việc ông N nợ tiền không trả nên C điều khiển xe mô tô đến nhà ông N. Cấp dựng xe ngoài lề đường thấy ông N tay trái cầm cưa sắt, tay phải cầm búa đinh đang đứng quay mặt hướng về phía cửa. Cấp đi vào, ông N quay lại thì C chửi “Đ. mẹ mày vợ chồng nhà mày lừa tao, bảo vay có bảy ngày để đáo nợ ngân hàng thôi mà một năm nay rồi mày không trả, tao gọi điện không nghe máy, nhắn tin cũng không trả lời”. Ông N hỏi “Tại sao anh khoá nhà em”, C nói “Anh khoá mục đích là để gặp em, thế mày vay tiền của tao được một năm rồi mà không thèm trả, gọi điện, nhắn tin cho vợ chồng mày nhưng không trả lời”, ông N nói “Chưa có tiền”, vừa nói ông N vừa đặt chiếc cưa sắt xuống nền sân, cạnh cửa tôn, còn tay phải vẫn cầm búa đinh đi về phía Cấp. Cấp quay ra xe mô tô tay phải cầm dao đi về phía ông N, khi cách ông N khoảng 80cm (đối diện với ông N, lúc này trên đầu ông N đang đội 01 chiếc mũ cối), Cấp tay phải cầm dao nhằm đầu ông N chém 01 nhát từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải sang trái, thấy Cấp giơ dao chém, ông N hơi nghiêng người sang phải, đầu hơi cúi về trước để né tránh, lưỡi dao trúng vào mũ cối làm rách mũ, lưỡi dao chém vào vùng đỉnh đầu bên trái của ông N gây thương tích, chiếc mũ cối rơi xuống nền sân. Ông N vứt búa xuống sân và tiến về phía Cấp, C tiếp tục vung dao chém nhát thứ 02 từ trên xuống
dưới trúng vào vùng bả vai trái và cánh tay trái của ông N gây thương tích. Sau khi bị chém, ông N chạy về hướng thôn Đ, xã M rồi dùng điện thoại quay lại hình ảnh C đi xe mô tô đi về. Sau đó ông N được anh Trần Văn B ở cùng thôn đưa đi cấp cứu, còn C điều khiển xe mô tô về nhà và cho dao vào thùng nước. Khoảng 13h30 cùng ngày, C cầm dao đến Công an xã M đầu thú.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 199/KLTTCT-TTPY ngày 20/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận Chu Văn N:
- Các kết quả chính:
- Kết quả giám định:
- + Mẻ bản ngoài xương sọ: 5%
- + Vết thương chưa liền sẹo vùng đỉnh trái: 2%
- + Vết thương chưa liền sẹo vùng bả vai trái: 01%
- + Vết thương chưa liền sẹo 1/3 trên mặt sau cánh tay trái: 01 %
- + Vết thương chưa liền sẹo 1/3 giữa mặt sau cánh tay trái: 01%.
- Kết quả khám chuyên khoa: Không.
- Kết quả cận lâm sàng: Chụp CT-Scanner sọ não: Thấy hình ảnh vỡ bản ngoài xương đỉnh trái.
- Kết quả khác: Không.
- Kết quả giám định:
- Kết luận
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chu Văn N tại thời điểm giám định là 10% (Mười phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích gây mẻ bản ngoài xương sọ; vết thương chưa liền sẹo ở vùng đỉnh trái, bả vai trái, mặt sau cánh tay trái là do vật sắc tác động gây nên.
- Kết luận khác: Không có.
Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 243/2023/KLTTCT-TTPY ngày 24/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận Chu Văn N:
- Kết quả chính
- Tại kết luận giám định số 199/2023/KLTTCT-TTPY, ngày 24/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chu Văn N tại thời điểm giám định là: 10% (Mười phần trăm);
- Nay giám định bổ sung tổn thương cơ thể do chấn động não điều trị ổn định là: 01%.
- Tê, mỏi chân trái đến mông là do bệnh lý không phải do thương tích.
- Kết luận
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chu Văn N tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm) theo phương pháp cộng tại Thông tư.
Tại Kết luận giám định số 1120/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Trên các mẫu ký hiệu A1, A2, A3, A4, A8, A12, A13 gửi giám định có máu người; mẫu ký hiệu A3, A4, A13 thuộc nhóm máu AB; do lượng dấu vết trên các mẫu ký hiệu A1, A2, A8, A12 rất ít không đủ để xác định nhóm máu.
- - Trên các mẫu ký hiệu A5, A6, A7, A9, A10, A11 không phát hiện dấu vết máu.
- - Máu của Chu Văn N (ký hiệu M) thuộc nhóm máu AB.
Tại Kết luận giám định ADN số 573/23/KLGDADN-PYQG ngày 18/10/2023 của V, kết luận Chu Văn N:
- - Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu gửi giám định ký hiệu A1: Dương tính.
- - Thử định tính phát hiện nhanh vết máu người trên mẫu gửi giám định ký hiệu A2: Âm tính.
- - ADN thu từ mẫu gửi giám định ký hiệu A1 trùng khớp hoàn toàn với ADN của Chu Văn N (mẫu Ký hiệu M2) và không trùng khớp với ADN của Nguyễn Hữu C (mẫu Ký hiệu M1) trên các locus STR đã so sánh.
- - Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ mẫu gửi giám định ký hiệu A2 trên các locus STR đã phân tích nên không thể so sánh với ADN của Chu Văn N (mẫu Ký hiệu M2) và Nguyễn Hữu C (mẫu Ký hiệu M1).
Cáo trạng số 15/CT-VKSTQ-P2 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Cấp về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu C phạm tội “Giết người”.
- Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/8/2023).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Chu Văn N các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa; chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở điều trị; chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của bị hại; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian
điều trị, bồi thường tổn thất về tinh thần, tổng cộng: 38.115.000 đồng (Ba mươi tám triệu một trăm mười lăm nghìn đồng), được trừ đi số tiền 4.500.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường trong giai đoạn điều tra và chuyển trả cho bị hại Chu Văn N số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) bà Nguyễn Thị Uyên T1 (vợ bị cáo) đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, theo Biên lai số 0000024 ngày 09/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Tổng cộng là 19.500.000 đồng (Mười chín triệu năm trăm nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Hữu C còn phải bồi thường tiếp cho ông Chu Văn N số tiền là 18.615.328 đồng, làm tròn là 18.615.000 đồng (Mười tám triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng).
Khoản tiền bồi thường kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 07/5/2024, bị cáo Nguyễn Hữu C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 10/5/2024, bị hại ông Chu Văn N có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo C và tăng bồi thường trách nhiệm dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Nguyễn Hữu C đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Chu Văn N, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Ông Chu Văn N giữ nguyên kháng cáo, đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo C và tăng bồi thường trách nhiệm dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ; đối chiếu lời khai của bị cáo, người bị hại tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, kết luận: Bị cáo Nguyễn Hữu C bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và kết án về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Do người bị hại cũng có một phần lỗi, hình phạt 07 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật, tương xứng với mức độ phạm tội của bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các chi phí bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu C đã tự nguyện rút kháng cáo. Bị hại ông Chu Văn N kháng cáo đề nghị tăng hình phạt và tăng mức bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nhưng không đưa ra được căn cứ chứng minh cho kháng cáo của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu C; không chấp nhận kháng cáo bị hại Chu Văn N, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.
Luật sư trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 07 năm tù là phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội và rút kháng cáo. Do bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo của bị hại. Về trách nhiệm dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận các chi phí bồi thường theo đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Đơn kháng cáo của bị cáo, người bị hại trong hạn luật định, đúng quy định của pháp luật. Căn cứ các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, được chấp nhận để xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu C rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ị cáo Nguyễn Hữu C.
[3] Về nội dung:
[3.1] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và những của người làm chứng, kết luận giám định pháp y và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 18/8/2023, tại thôn M, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Hữu C do bức xúc về việc gia đình ông Chu Văn N vay tiền năm 2022 không trả tiền; Nguyễn Hữu C đã có hành vi tay phải cầm 01 con dao bằng kim loại, chuôi gỗ (Kích thước dài 40,2cm; phần bản và lưỡi dao dài 28cm, chỗ rộng nhất bản dao là 6,8cm) chém ông N 01 nhát vào vùng đỉnh đầu bên trái, 01 nhát vào vùng bả vai trái và cánh tay trái gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 11%.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm
cho xã hội; xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe người khác được pháp luật bảo vệ, việc ông Chu Văn N không chết là ngoài ý muốn của bị cáo, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3.3] Xét kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu C của bị hại Chu Văn N:
Khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo C: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; đồng thời tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Quang T2 được tặng Kỷ niệm chương của L1 và được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba; mẹ đẻ của bị cáo là bà Nguyễn Thị Đ đã tham gia dân công hoả tuyến trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Nhà nước giải quyết chế độ trợ cấp một lần. Người bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù là có căn cứ, phù hợp với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo; bị cáo xuất trình tài liệu thể hiện việc bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 18.615.000 đồng cho người bị hại, thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo.
Bị hại kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo nhưng không đưa ra được tài liệu chứng cứ gì mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu C của bị hại Chu Văn N.
[3.4] Xét kháng cáo đề nghị tăng trách nhiệm bồi thường dân sự, Hội đồng xét xử thấy:
- Về chi phí hợp lý cho việc cứu chữa: Bị hại Chu Văn N bị Nguyễn Hữu C chém gây thương tích, tổn hại 11% sức khỏe phải đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T (03 đợt: đợt 1 từ ngày 18/8/2023 đến 22/8/2023; đợt 2 từ ngày 23/8/2023 đến ngày 28/8/2023, đợt 3 ngày 31/8/2023, khám lại ngày 17/10/2023), bệnh viện Đ1 (ngày 18/8/2023), phòng khám Đ2 (ngày 16/10/2023), phòng khám Đ3 (ngày 17/10/2023), Bệnh viện Đ4 (ngày 18/10/2023) các chi phí khám chữa bệnh đã được Bảo hiểm y tế chi trả một phần; còn lại có các biên lai viện phí, hóa đơn mua thuốc chi phí hết số tiền 4.715.328 đồng là số tiền thực tế bị hại phải chi trả do vậy cần chấp nhận. Không chấp nhận chi phí mua thuốc bổ bồi dưỡng sau khi ra viện 8.000.000 đồng do bị hại không cung cấp được hóa đơn, biên lai.
- Chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở hết số tiền 3.300.000 đồng số tiền thực tế bị hại phải chi trả do vậy cần
chấp nhận.
- Không chấp nhận các khoản chi phí mà bị hại thuê phương tiện đi lại theo giấy triệu tập của cơ quan điều tra do đây là quyền và nghĩa vụ của bị hại trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án theo Điều 62 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại, do bị hại Chu Văn N được hưởng tiền lương hưu và trợ cấp xã hội hàng tháng là 8.143.700 đồng, do vậy yêu cầu bồi thường nội dung này là không có căn cứ, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Đối với yêu cầu bồi thường phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Xét thấy, do bà Nguyễn Thị H - vợ bị hại không có thu nhập ổn định, nên cần áp dụng mức thu nhập bình quân của người lao động ở địa phương là 150.000đ/người/ngày, tương ứng số ngày bà H chăm sóc bị hại N điều trị tại Bệnh viện để làm căn cứ tính thu nhập bị mất. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận mức 14 ngày x 150.000đ/ngày = 2.100.000 đồng.
- Về yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần, xét thấy ông N bị tổn hại 11% sức khỏe, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải bồi thường tổn thất về tinh thần tương ứng 10 tháng lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử là phù hợp: 10 x 1.800.000đ = 18.000.000 đồng.
Ngoài ra, tuy bị hại không có yêu cầu, nhưng căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo Nguyễn Hữu C bồi thường cho bị hại Chu Văn N các chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe là 10.000.000 đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm buộc bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản chi phí cụ thể như sau:
- - Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa = 4.715.328 đồng;
- - Chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở điều trị = 3.300.000 đồng;
- - Chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe = 10.000.000 đồng;
- - Phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị = 2.100.000 đồng;
- - Bồi thường tổn thất về tinh thần = 18.000.000 đồng;
Tổng cộng: 38.115.328 đồng, được trừ đi số tiền 19.500.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường trước đó, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 18.615.328 đồng (làm tròn 18.615.000 đồng) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tổng hợp những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy bị hại kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới nên không có căn cứ để tăng mức bồi thường dân sự đối với bị cáo.
[4] Về án phí: Bị hại là ông Chu Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đình chỉ
xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu C và không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Hữu C của bị hại Chu Văn N; giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HS-ST ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang về phần hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu C.
- Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu C 07 (bảy) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 18/8/2023).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu C phải có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Chu Văn N các khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa; chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở điều trị; chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của bị hại; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, bồi thường tổn thất về tinh thần, tổng cộng: 38.115.000 đồng, được trừ đi số tiền 4.500.000 đồng gia đình bị cáo đã bồi thường trong giai đoạn điều tra và chuyển trả cho bị hại Chu Văn N số tiền 15.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Uyên T1 (vợ bị cáo) đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang, theo Biên lai số 0000024 ngày 09/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang. Tổng cộng là 19.500.000 đồng, bị cáo Nguyễn Hữu C còn phải bồi thường tiếp cho ông Chu Văn N số tiền là 18.615.328 đồng, làm tròn là 18.615.000 đồng.
Xác nhận bà Nguyễn Thị Uyên T1 (vợ bị cáo) đã nộp thay bị cáo Nguyễn Hữu C 18.615.000 đồng bồi thường trách nhiệm dân sự tại Biên lai số 0000038 ngày 06/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
- Về án phí: Bị hại ông Chu Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Xác nhận bà Nguyễn Thị Uyên T1 (vợ bị cáo) đã nộp 200.000 đồng án
phí hình sự sơ thẩm và 930.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000038 ngày 06/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Anh Thắng |
Bản án số 661/2024/HS-PT ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về giết người (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 661/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Giết người (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu C và không chấp nhận kháng cáo đề nghị tăng hình phạt, tăng bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Hữu C của bị hại Chu Văn N
