Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

Bản án số: 661/2025/DS-PT

Ngày: 26 - 12 - 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng;

Bà Ngô Thị Kim Châu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 366/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 503/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 10 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 282/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 582/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị P, sinh năm 1961;

Địa chỉ: Ấp H, xã N, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Bà Thái Thị G, sinh năm 1988; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp H, xã H, tỉnh Vĩnh Long.

1

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1987; (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Số F khóm B, phường I, thành phố V (nay là phường L), tỉnh Vĩnh Long.

Chổ ở hiện nay: Số A, khóm T, phường T, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Số F khóm B, phường I, thành phố V (nay là phường L), tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Mỹ H:

Ông Trần Khánh C, sinh năm 1988; (có mặt)

Địa chỉ: Số A đường N, phường L, tỉnh Vĩnh Long.

- Người kháng cáo: Bà Trần Thị Mỹ H, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25/02/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị P, người đại diện theo ủy quyền của bà P là bà Thái Thị G trình bày:

Qua mối quan hệ quen biết từ trước với ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H. Ông B và bà H cần tiền nên bà P có cho ông B và bà H vay, cụ thể như sau: Ngày 05/02/2024, bà P cho ông B và bà H vay 540.000.000 đồng; thời hạn vay là 05 tháng, tính từ ngày 05/02/2024 đến hết ngày 05/7/2024, không tính lãi; mục đích vay để nhập hàng đầu tư kinh doanh; ông B và bà H không có thế chấp tài sản gì cho bà P. Khi vay có lập giấy mượn tiền, hình thức giao nhận tiền: chuyển khoản 300.000.000 đồng và nhận tiền mặt 240.000.000 đồng.

Đến nay, ông B và bà H chưa trả vốn và lãi. Ông B và bà H có ký tên, ghi họ tên Nguyễn Thanh B, Trần Thị Mỹ H và lăn tay trên Giấy mượn tiền ngày 05/02/2024.

Bà P yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho bà P số tiền vốn vay là 540.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 06/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 10%/năm.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H: Tòa án sơ thẩm đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên

2

họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cùng các văn bản tố tụng khác. Tuy nhiên, Tòa án không nhận được văn bản trình bày ý kiến của bị đơn, bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ và vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long quyết định (tóm tắt) như sau:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P.

Buộc ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị P số tiền vốn vay và lãi là 596.921.400 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/9/2025, bị đơn bà Trần Thị Mỹ H có đơn kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết cho bà và ông Nguyễn Thanh B có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị P số tiền gốc là 300.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị P là bà Thái Thị G trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Nguyên đơn biết hoàn cảnh bị đơn hiện đang khó khăn nhưng do bị đơn không có thiện chí trả nợ nên việc có bớt tiền lãi cho bị đơn hay không nguyên đơn sẽ xem xét trong giai đoạn thi hành án.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H là ông Trần Khánh C trình bày tại bản giải trình đề ngày 18/11/2025:

Bà H không quen biết bà P. Bà H xác định ông B có vay số tiền 300.000.000 đồng của bà Huỳnh Thị Ngọc Q (không biết thông tin về năm sinh, địa chỉ của bà Q) công tác tại Ngân hàng A nhưng bà Q yêu cầu biên nhận được lập ghi tên người cho vay là bà P. Do thời điểm vay tiền thì bà H và ông B là vợ chồng nên bà H phải cùng ký tên vào biên nhận. Bà H là người trực tiếp nhận số tiền 300.000.000 đồng nhưng sau đó đã dùng tiền để chi trả phần lớn các khoản nợ riêng của ông B. Khoảng 04 tháng sau khi vay 300.000.000 đồng tiền gốc thì bà Q và ông B thỏa thuận lập biên nhận mới ghi nhận khoản vay số tiền 300.000.000 đồng và ghi thêm một khoản 240.000.000 đồng. Thực chất khoản

3

tiền 240.000.000 đồng ghi thêm là tiền lãi nên việc Tòa án sơ thẩm công nhận khoản tiền này là nợ gốc là không hợp lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Bà H chưa trả 300.000.000 đồng cho bà P, việc ông B có trả số tiền này cho bà P hay chưa thì bà H không biết.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Khánh C trình bày: Bà H là người trực tiếp nhận số tiền 300.000.000 đồng từ bà P nhưng đã dùng để trả nợ cho ông B. Bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, chỉ đồng ý cùng ông B trả cho bà P số tiền 300.000.000 đồng và trả lãi theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh B vắng mặt.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà P và bà H đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật. Ông B không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Mỹ H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Bị đơn bà Trần Thị Mỹ H kháng cáo và thực hiện thủ tục kháng cáo hợp lệ, trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Về địa chỉ của ông Nguyễn Thanh B, theo hồ sơ vụ án, nguyên đơn cung cấp địa chỉ ông B là số F khóm B, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 14 tháng 11 năm 2025, người đại diện theo ủy

4

quyền của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H là ông Trần Khánh C trình bày ông B và bà H đã ly hôn, sau khi ly hôn thì ông B đã không còn ở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp. Theo yêu cầu của Tòa án, ông C cung cấp Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 114/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, trong đó, ông B là nguyên đơn, cũng ghi địa chỉ cư trú như trên và địa chỉ tạm trú là 11/5B, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là A, khóm T, xã T, tỉnh Vĩnh Long). Theo biên bản xác minh ngày 09/12/2025, Trưởng khóm T cho biết địa chỉ theo số nhà A là địa chỉ trước đây vợ chồng ông B, bà H tách ra ở riêng, địa chỉ hiện nay ông B đang sinh sống là tại nhà cha ruột là ông Nguyễn Văn C1. Tại biên bản xác minh ngày 19/11/2025, cha ruột của ông B là ông Nguyễn Văn C1 cho biết sau khi ly hôn thì ông B về sống cùng ông tại địa chỉ 11/5, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện thủ tục tống đạt cho ông B tại địa chỉ 11/5, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là 11/5, khóm T, phường T, tỉnh Vĩnh Long) và trong bản án phúc thẩm ghi chổ ở hiện nay của ông B là địa chỉ này.

[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thanh B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh B.

[1.4] Về việc người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H cho rằng số tiền vay là vay của bà Huỳnh Thị Ngọc Q, công tác tại Ngân hàng A:

Xét thấy, theo Giấy mượn tiền thì người cho vay là bà P, người vay là bà H và ông B. Bà Phấn khởi K yêu cầu bà H, ông B trả nợ nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà P là nguyên đơn, ông B và bà H là bị đơn là phù hợp. Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm, bà H và ông B đều không có ý kiến gì và tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà H trình bày bà H không biết thông tin về năm sinh, địa chỉ của bà Q; người đại diện theo ủy quyền của bà P cũng khẳng định bà P là người cho ông B, bà H vay theo Giấy mượn tiền đề ngày 05/02/2024 nên việc Tòa án không đưa bà Q tham gia tố tụng là đúng quy định.

[2] Về nội dung:

Bà Lê Thị P yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Thanh B trả số tiền gốc 540.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm tính từ ngày 06/7/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm.

5

Căn cứ khởi kiện của bà P là Giấy mượn tiền đề ngày 05/02/2024 có nội dung ông Nguyễn Thanh B, bà Trần Thị Mỹ H có mượn của bà Lê Thị P số tiền 540.000.000 đồng, mục đích để nhập hàng đầu tư kinh doanh.

[3] Xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H:

[3.1] Về việc bà H trình bày lý do kháng cáo là tại cấp sơ thẩm bà không nhận được thông báo triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long để tham gia phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy:

Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp địa chỉ của bà H, ông B là số 62/2D khóm B, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Trong đơn kháng cáo, bà H cũng ghi địa chỉ như địa chỉ nguyên đơn cung cấp trong đơn khởi kiện. Căn cước công dân của bà H, ông B ghi nơi thường trú là số 62/2D khóm B, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long) đã thực hiện các thủ tục tống đạt thông báo, quyết định của Tòa án đúng quy định (qua Thừa phát lại) đối với các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2025/QĐXXST-DS và giấy triệu tập ngày 09/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2025/QĐST-DS ngày 30/6/2025 và giấy triệu tập ngày 30/6/2025 nhưng bà H và ông B không có mặt tại địa chỉ nêu trên nên Thừa phát lại đã thực niêm yết theo quy định pháp luật. Do bà H, ông B không đến Tòa án, không có văn bản ý kiến, không tham gia phiên tòa nên việc Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long xét xử vắng mặt bà H, ông B là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3.2] Về việc bà H cho rằng bà chỉ vay 300.000.000 đồng, không phải 540.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả 300.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định, Hội đồng xét xử xét thấy:

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị P cung cấp Giấy mượn tiền đề ngày 05/02/2024, nội dung bà P cho ông B và bà H vay số tiền 540.000.000 đồng để nhập hàng đầu tư kinh doanh, hình thức nhận chuyển khoản 300.000.000 đồng và nhận tiền mặt 240.000.000 đồng. Giấy mượn tiền đề ngày 05/02/2024 có nêu rõ họ tên, năm sinh, số căn cước công dân; có chữ viết, chữ ký, dấu lăn tay và ghi họ tên của bà H, ông B. Như đã phân tích ở đoạn được đánh số thứ tự [3.1], mặc dù đã được Tòa án cấp sơ thẩm tống

6

đạt hợp lệ các thông báo, quyết định, giấy triệu tập của Tòa án nhưng suốt quá trình giải quyết vụ án, ông B và bà H không tham gia tố tụng, không cung cấp tài liệu, chứng cứ, không có ý kiến phản bác, đồng thời, vào thời điểm vay tiền thì ông B và bà H còn là vợ chồng hợp pháp (đến ngày 25/6/2025 mới có Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 114/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông B và bà H), nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Giấy mượn tiền đề ngày 05/02/2024 để giải quyết buộc ông B và bà H có nghĩa vụ trả cho bà P số tiền 540.000.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Theo đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, người đại diện theo ủy quyền của bà H là ông C trình bày bà H chỉ vay của bà P số tiền gốc 300.000.000 đồng, không phải 540.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả tiền gốc 300.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C trình bày trong số tiền 540.000.000 đồng có 300.000.000 đồng tiền gốc và 240.000.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên, bà P không thừa nhận trong số tiền 540.000.000 đồng mà bà yêu cầu bị đơn trả có 240.000.000 đồng tiền lãi, đồng thời, bà H và ông C cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà H, ông C.

[4] Từ các phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị P, buộc bà H và ông B có nghĩa vụ liên đới trả nợ gốc là 540.000.000 đồng và tiền lãi là 56.921.400 đồng là có căn cứ.

[5] Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh kháng cáo có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

7

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Mỹ H;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Vĩnh Long.

Căn cứ vào các điều 147, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các điều 357, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ vào các điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị P.

Buộc ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị P số tiền vốn vay và lãi là 596.921.400 (năm trăm chín mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi mốt nghìn, bốn trăm) đồng, trong đó nợ gốc là 540.000.000 (năm trăm bốn mươi triệu) đồng và tiền lãi là 56.921.400 (năm mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi mốt nghìn, bốn trăm) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Buộc ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Mỹ H liên đới chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 27.876.856 (hai mươi bảy triệu, tám trăm bảy mươi sáu nghìn, tám trăm năm mươi sáu) đồng.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Trần Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002610 ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

8

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - TAND KV1 - Vĩnh Long;
  • - Phòng THADS KV1 - Vĩnh Long;
  • - Phòng GĐ, KT, TT & THA TAND tỉnh;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 661/2025/DS-PT ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 661/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lẻ Thị Phấn - Nguyễn Thanh Bình, Trần Thị Mỹ Hạnh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger