|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 661/2024/DS-PT Ngày: 21 - 8 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh
Các thẩm phán: Ông Phạm Trí Tuấn
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Dũng – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 14 và 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 236/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS –ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 971/2024/ QĐPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H năm 1941 (có mặt)
Địa chỉ: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Hà P(vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Quế A năm 1971 (có mặt)
Địa chỉ: Số I C đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Đchỉ: 171 N, phường A, Quận F, Tp Hồ Chí Minh
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trương Vĩnh T– Văn phòng luật sư Trương Vĩnh TĐoàn luật sư Thành phố H46 (có mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn K (có mặt)
Địa chỉ: A L, Phường A, quận G, TP .
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông K
- Luật sư Nguyễn K1 K1(có mặt)
- Luật sư Phạm Thị Thanh T1(vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số 1 đường số F, Khu dân cư C, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H
- Ủy ban nhân dân quận G.
- Ông Trần Anh S (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Ái N (có mặt)
- Anh Trần Quang K2(có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Em Trần Nguyễn Ái L (vắng mặt)
- Cháu Trần Nguyễn K3 P2 (vắng mặt)
- Ông Trần Trường S1 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh V (vắng mặt)
- Ông Trần Nam H1(vắng mặt)
- Bà Trần Thị Thanh H2(vắng mặt)
Địa chỉ: F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
Ông Nguyễn Đại B– Chuyên viên Văn phòng Đ Chi nhánh Q2, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)
Cùng địa chỉ: C Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ A1 K2– Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận G. (vắng mặt)
Địa chỉ: Số C Q, Phường A, quận G, TP .
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Đặng Công T2 trưởng Phòng T5 - Ủy ban nhân dân quận G. (có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo ủy quyền của ông S: Ông Bùi Bá P1(có mặt)
Địa chỉ: Số C lô B, phường S, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật của em L1 cháu P2 Ông Trần Văn K4 bà Nguyễn Thị Ái N (có mặt)
Cùng địa chỉ: A L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: F B, Phường A, quận G, TP .
Cùng địa chỉ: B đường số B, Phường H, quận G, TP Hồ Chí Minh
Địa chỉ: A, phường B, thành phố T, TP Hồ Chí Minh
Người kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:
Phần diện tích đất 607m², thuộc thửa số 517, tờ bản đồ số 1 và phần diện tích đất 1010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1 cùng tọa lạc tại số A, A L, Phường A, quận G Nguyễn Thị H3 chồng là ông Trần A2 S tạo lập từ trước năm 1975 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà H
Đối với phần đất 1010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại A L, Phường A, quận G bày như sau:
Vào năm 2019, bà H5 nhờ con trai là anh Trần Văn K5 diện cho vợ chồng bà làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với phần đất nêu trên. Sau đó anh K6 tự ý làm thay đổi các giấy tờ (trong đó có giấy cho đất của vợ chồng bà vào năm 2002 anh K7 ý viết và ký vào) để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận và đã được Ủy ban nhân dân quận G giấy chứng nhận số CH 04089 ngày 08 tháng 10 năm 2019. Bà H6 rằng việc Ủy ban nhân dân quận G giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông K8 trên là không đúng đối tượng, không đúng ý chí, nguyện vọng của bà và không đúng với quy định của pháp luật.
Đối với phần đất 607m², thửa số 517 tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại A L, Phường A, quận G bày như sau:
Vào khoảng năm 2019, bà H7 con bà là anh Trần Văn K9 làm thủ tục tách thửa phần đất 607m², thuộc thửa số 517, tờ bản đồ số 1. Anh K10 bà H8 hiện ủy quyền cho anh K11 anh K9 làm thủ tục tách thửa, anh K12 vợ chồng bà đến phòng công chứng, bảo vợ chồng bà ký vào một số giấy tờ mới tách thửa được. Tin tưởng con trai nên vợ chồng bà ký vào nhưng không đọc nội dung, công chứng viên cũng không giải thích gì, kêu vợ chồng bà ký vào. Sau này bà mới phát hiện anh K13 dối vợ chồng bà để ký vào Hợp đồng tặng cho, bà xác định không tặng cho toàn bộ phần diện tích đất này cho anh K14 vợ chồng bà có nhiều con, dự định sẽ chia đều cho các con. Do đó, việc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: CS 04358 ngày 02/11/2020 cho anh K15 không đúng nguyện vọng và ý chí của bà H
Do đó, bà H9 kiện yêu cầu Tòa án:
- Công nhận phần diện tích đất 607m², thuộc thửa số 517, Tờ bản đồ số 1 và phần diện tích đất 1010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1, cùng tọa lạc tại số A, A L, Phường A, quận G các Giấy chứng nhận số CH04089 do Ủy ban nhân dân quận G cho ông Trần Văn K16 08/10/2019 và Giấy chứng nhận số CS 04358 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho ông Trần Văn K16 02/11/2020 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà. Yêu cầu ông K17 giao trả lại cho vợ chồng bà các phần đất này.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08/10/2019 cho ông Trần Văn K
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất số CS04358 do Sở T Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K
* Bị đơn là ông Trần Văn K18 bày:
Cha mẹ ông là ông Trần A2 Svà bà Nguyễn Thị H10 mẹ ông đã tặng cho riêng ông toàn bộ nhà và đất, cụ thể như sau:
- Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04358 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho ông Trần Văn K16 02/11/2020: trước đây, cha mẹ ông đã có chia đất cho các anh em trong gia đình. Năm 2019, chính ông K15 người đã đưa cha mẹ ông đến Văn phòng C thực hiện việc ký hợp đồng tặng cho toàn bộ diện tích đất này cho ông K
- Đối với giấy chứng nhận số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G cho ông Trần Văn K16 08/10/2019: thực tế là cha mẹ ông K6 cho ông K19 nhà đất này từ năm 2002. Năm 2017, cha mẹ ông K6 thực hiện việc tái xác nhận là đã tặng cho ông K4 đứng ra nhận thay số tiền bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất. Sau đó ông được cấp giấy chứng nhận số CH 04089.
Ông K20 đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần A2 Scó các lời khai tại tòa như sau:
Ngày 11/11/2022, ông S2 bản tự khai trình bày như sau:
Trước đây, vào năm 2019 vợ chồng ông có nhờ con trai là anh Trần Văn K5 diện ủy quyền cho vợ chồng ông làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại số A, Phường A, quận G, Thành phố H thửa đất số: 517, tở bản đồ số 1 theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0724/2008/UB.GCN ngày 04 tháng 02 năm 2008 do Ủy ban nhân dân quận G. Khi làm xong thì tách ra để ông cho các con mỗi người một phần làm nhà để ở. Nhưng vào tháng 01/2022 ông mới phát hiện ra là anh K20 biết làm bằng cách nào mà đã đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T thành phố Hcấp ngày 02/11/2020 và Giấy chứng nhận số CH04089 do Ủy ban nhân dân quận G cho anh K16 08/10/2019. Nhận thấy Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hvà UBND quận Gcấp hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên cho anh K15 không đúng đối tượng, không đúng ý chí nguyện vọng của vợ chồng ông và không đúng với quy định của pháp luật. Ông S3 định không ký bất kỳ một giấy tờ gì cho đất và nhà cho anh K21 cả giấy tay, ông yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của vợ chồng ông (nếu có).
Nay, vợ ông S2 đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau đây:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 04358 ngày 02/11/2020 do Sở T Hcấp cho ông K
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04089 ngày 08/10/2019 do UBND quận G cho ông K
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H11 hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất nêu trên, trả lại tài sản cho vợ chồng ông để ông chia đều cho các con.
Ngày 07/12/2023, ông Bùi Bá P1 là người đại diện theo ủy quyền của ông S2 bản tự khai trình bày như sau:
Phần đất được UBND quận Gcấp Giấy chứng nhận số CH 04089 ngày 18 tháng 10 năm 2019, diện tích 1010,7 m², thửa đất 581, tờ bản đồ số 1 toạ lạc tại 1 L, Phường A, quận G(địa chỉ cũ: 62/1BLê Đ, phường A, quận G là do ông Trần A2 Svà vợ là bà Nguyễn Thị H12 cất năm 1991 trên nền đất khai phá từ năm 1975. Năm 2002, ông S4 bà H13 đồng thuận cho con trai là ông Trần Văn K22 quyền sử dụng phần đất và tài sản trên đất nói trên. Năm 2017 và 2018, ông S4 bà H13 cam kết không tranh chấp, cho phép ông K23 hợp thức hoá phần đất này và đã được cấp giấy chứng nhận.
Năm 2019, ông S4 bà H14 cho phần đất có diện tích 610,1m² tại địa chỉ A L, Phường A, quận G(thuộc thửa đất 517, tờ bản đồ số 1) cho ông KPhần đất và nhà ở này ban đầu thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông S4 bà H15 Giấy chứng nhận số 0724/2008/UB.GCN do UBND quận Gcấp ngày 04 tháng 02 năm 2008. Sau đó ông S4 bà H14 cho ông K24 hợp đồng tặng cho được chứng nhận bởi Công chứng viên tại Văn phòng CTP .số công chứng 0223848 ngày 26 tháng 12 năm 2019. Đến năm 2020, phần đất và nhà ở này được cấp đổi Giấy chứng nhận do được tặng cho sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T Thành phố Hcấp ngày 02 tháng 11 năm 2020 với tên người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là ông Trần Văn K
Ông S3 định vợ chồng ông đã cho con trai là ông K25 phần đất nêu trên. Đồng thời, ông S5 dùng lời khai này để thay thế cho các lời khai của ông trước đây.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Á Nvăn bản ngày 11/02/2023 và ngày 09/11/2023 trình bày:
Bà N1 đoan toàn bộ nhà đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08 tháng 10 năm 2019 cho ông Trần Văn K4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T thành phố Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K27 tài sản riêng của ông KBà N đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Q K3văn bản ngày 10/11/2023 trình bày:
Thống nhất ý kiến của ông Trần Văn K
Anh K3đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Nguyễn Ái L2 Cháu Trần Nguyễn K3 P2có người đại diện theo pháp luật là ông Trần Văn K(đã có bản khai ngày 24/10/2022 trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn) và bà Nguyễn Thị Ái N(có văn bản ngày 11/02/2023 và ngày 09/11/2023) trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần T3 S1có bản tự khai ngày 22/9/2023 trình bày:
Trước đây vào năm 2007, bố mẹ ông là ông Trần Anh S6 bà Nguyễn Thị H16 giấy tay và có ký tên cho anh Trần N2 H3và ông S1với diện tích mỗi người là 100m² (ngang 4 và chiều dài theo hết thửa đất) để xây nhà ở. Do lúc đó bố mẹ ông chưa làm xong thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư được do vướng đền bù giải tỏa kênh T -Rạch NBố mẹ ông có nói rằng khi nào bồi thường xong thì bố mẹ ông sẽ ủy quyền cho em trai ông là ông Trần Văn K28 đổi mục đích sang đất ở, sau đó ông bà sẽ tách sổ ra cho anh em ông. Ông chờ đợi mãi mà vẫn mà không thấy đất đâu. Ông nói với bố mẹ thì ông K10 muốn lấy đất thì đưa tiền chuyển mục đích sử dụng đất, tiền dịch vụ và tiền mái tôn cho ông KSau đó, ông có mang 800.000.000 (tám trăm triệu đồng) đưa cho ông KSau một năm, sau khi bố mẹ ông đề cập với ông K29 ông K30 ra chỉ 4 mét đất mà không tách giấy tờ ra. Sau này ông bà mới biết là ông K6 làm giấy tờ sang tên toàn bộ đất đai nhà cửa của ông bà từ năm 2019. Do đó, mẹ ông đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy các giấy chứng nhận của ông K4 công nhận các phần đất mà ông K6 được cấp giấy chứng nhận thuộc quyền sử dụng của bố mẹ ông.
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của mẹ ông là bà Nguyễn Thị H17
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thanh V có bản tự khai ngày 22/9/2023 trình bày:
Chồng bà là ông Trần N2 H3sinh năm 1960, chết năm 2015. Trước đây, vào năm 2007, bố mẹ chồng bà là ông Trần A2 S và bà Nguyễn Thị H18 viết tờ giấy tay do chính cha, mẹ chồng bà viết và tự ký tên cho chồng bà là ông Trần N2 H3 và em trai chồng là ông Trần T3 S1một người là ngang 4 mét dài khoảng gần hai chục mét ước khoảng một người là 100m² để cất nhà ở. Nhưng do bố, mẹ chồng bà chưa làm xong giấy tờ quyền sử dụng đất do nằm trong dự án kênh T - Rạch Nđang bồi thường nên chưa tách thửa được. Bố mẹ chồng bà có nói rằng khi bồi thường xong ông bà sẽ ủy quyền cho em chồng bà là ông Trần Văn K9 làm giấy tờ quyền sử dụng đất khi nào xong thì bố, mẹ chồng bà sẽ tách cho anh em bà. Nhưng, anh em bà chờ mãi đến năm 2015 thì chồng bà là ông Trần N2 H3chết cũng chưa xong. Bố, mẹ chồng bà có nói với ông Trần Văn K31 đất cho bà nhưng ông K20 chịu. Đến năm 2022 thì mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị H19 phát hiện ông Trần Văn K32 năm 2019 đã được cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, mẹ chồng bà mới nộp đơn khởi kiện tại tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xin xem xét, giải quyết hủy giấy chứng nhận cấp sai cho ông K33 ông K6 làm giả các giấy tờ tặng cho nhà đất để đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải là nguyện vọng của bố, mẹ chồng bà.
Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của mẹ chồng bà là bà Nguyễn Thị H3 xét xử theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị T4 H2có bản tự khai ngày 22/9/2023 trình bày:
Ông, bà nội của bà là ông Trần A2 Svà bà Nguyễn Thị H18 viết tờ giấy tay là cho bố bà là ông Trần N2 H3và em trai bố bà là chú Trần T3 S1(một người là ngang 4 mét dài khoảng gần hai chục mét ước khoảng một người là 100m² để cất nhà ở). Nhưng do ông, bà nội bà chưa làm xong giấy tờ quyền sử dụng đất do nằm trong dự án kênh T - Rạch Nnên chưa làm thủ tục tách thửa đất. Ông, bà nội bà có nói rằng khi bồi thường xong ông bà sẽ ủy quyền cho chú bà là ông Trần Văn K9 làm giấy tờ quyền sử dụng đất khi nào xong thì ông, bà sẽ tách cho mẹ bà là bà Nguyễn Thị Thanh V1 chú S1Nhưng gia đình bà chờ mãi đến năm 2015 thì bố của bà chết. Ông, bà nội bà có kêu chú K31 đất cho gia đình bà và chú S1nhưng chú K20 đồng ý. Đến năm 2022 thì ông, bà nội bà mới phát hiện chú K6 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2019. Vì vậy, bà nội bà mới nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu hủy các giấy chứng nhận đã cấp sai cho chú K14 không thể hiện đúng ý chí nguyện vọng của ông, bà nội bà.
Đề nghị quý tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà nội bà là bà Nguyễn Thị H17
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần N2 H1có bản tự khai ngày 22/9/2023 trình bày:
Có cùng ý kiến như ý kiến của bà Trần Thị Thanh H2
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân quận G có văn bản số 4695/UBND ngày 06/12/2022 trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện như sau:
Nhà đất tại địa chỉ A L, Phường A, quận G(thuộc thửa 567, tờ bản đồ số 29, Phường Acó nguồn gốc đất do ông Trần Văn S7 khai phá trước năm 1975. Năm 1983, ông S2xây dựng nhà không xin phép. Năm 1991, ông S2sửa chữa nới rộng nhà không xin phép. Năm 1999, ông bà Trần Văn S8– Nguyễn Thị H20 ký kê khai nhà đất với diện tích đất 1809m², diện tích xây dựng 42m². Năm 2002, ông S8– bà H6 con là ông Trần Văn K34 phần nhà đất theo giấy tờ cho nhà đất ngày 27/9/2002. Cùng năm 2002, ông K35 chữa nới rộng không xin phép.
Năm 2008, nhà đất trên bị giải tỏa một phần bởi dự án kênh T - B– rạch Nước Lên theo Quyết định số 2458/QĐ-UBND ngày 14 tháng 7 năm 2008 (do ông bà Trần Văn S8– Nguyễn Thị H21 diện khai trình).
Năm 2019, ông K36 hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận. Theo xác nhận của Ủy ban nhân dân Phường A phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 09 tháng 02 năm 2015 và tại đơn đăng ký ngày 02 tháng 8 năm 2019 và tại Công văn số 867/UBND ngày 26 tháng 8 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Phường A2quận GPhần nhà đất ông K37 đề nghị cấp Giấy chứng nhận được ông S2nới rộng sửa chữa năm 1991. Năm 2002, ông S8– bà H14 cho con là ông Trần Văn K38 giấy tay đề ngày 27 tháng 9 năm 2002. Ông S8– bà H18 đơn cam kết được Ủy ban nhân dân Phường A thực ngày 15 tháng 02 năm 2017 và đơn tường trình cam kết được Ủy ban nhân dân Phường A thực ngày 23 tháng 10 năm 2018 với nội dung: vào năm 2002, vợ chồng ông S2có cho con là Trần Văn K39 và đất với diện tích khuôn viên 1010,7m². Nhà đất do vợ chồng ông xây dựng nới rộng diện tích năm 1991 không xin phép trên phần đất tự khai phá năm 1975. Năm 2008, để phục vụ cho dự án thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh T - B– rạch Nước Lên nhà đất này có một phần bị giải tỏa bồi thường. Lúc đó do ông K40 có điều kiện hợp thức hóa nên vợ chồng ông S2đứng tên đại diện khai trình. Nay, ông K41 hợp thực hóa ông bà S2cam kết không tranh chấp khiếu nại gì về phần nhà đất nói trên. Ông bà đề nghị Ủy ban nhân dân quận C giúp đỡ cho con là ông K23 cấp Giấy chứng nhận.
Sau đó, ông Trần Văn K42 Ủy ban nhân dân quận G Giấy chứng nhận số CH 04089 ngày 08 tháng 10 năm 2019 với diện tích đất 1010,7m² (diện tích đất ở đô thị 1005,6m2, diện tích đất trồng cây hàng năm khác 5,1m²), diện tích xây dựng và sàn xây dựng 997,7m².
Việc Ủy ban nhân dân quận G Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 04089 ngày 08 tháng 10 năm 2019 cho ông Trần Văn K27 đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H Văn bản số 10831/STNMT-VPĐK ngày 15/12/2022 trình bày ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện như sau:
- Quá trình giải quyết hồ sơ hành chính:
- Căn cứ pháp lý giải quyết:
- Đối với thành phần hồ sơ:
- Đối với quy trình giải quyết:
- Việc kiểm tra, đối chiếu hồ sơ, cơ sở dữ liệu đang được quản lý tại Chi nhánh Văn phòng Đ
- Tại thời điểm đăng ký chuyển quyền, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ nhận được thông tin về việc tranh chấp, khiếu nại.
- Thành phần hồ sơ cung cấp cho Tòa án: gồm các bản chụp
- Biên nhận hồ sơ số 26872.120.20.010887 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Đ 20 tháng 5 năm 2020;
- Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0724/2008/UB.GCN ngày 04 tháng 02 năm 2008 do UBND quận G cho ông bà Trần A2 SNguyễn Thị H
- Đơn đăng ký biến động đất đai ngày 20 tháng 5 năm 2022;
- Giấy ủy quyền ngày 26 tháng 12 năm 2019;
- Hợp đồng tặng cho số 22348 do Văn phòng Cchứng nhận ngày 26 tháng 12 năm 2019;
- Thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 12 tháng 3 năm 2020;
- Thư mời bổ túc hồ sơ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận Gphát hành ngày 25 tháng 5 năm 2020;
- Biên bản làm việc ngày 05 tháng 6 năm 2020; ngày 12 tháng 6 năm 2020; ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- Bộ hồ sơ thu hồi, giải tỏa một phần nhà đất;
- Tờ trình giải quyết hồ sơ số 4120/TTr-CNGV ngày 21 tháng 9 năm 2020 của Chi nhánh Văn phòng Đ
- Thư xin lỗi về việc giải quyết thủ tục hành chính trễ hẹn số 02315/TXL-CNGV ngày 29 tháng 9 năm 2020;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN số CS04358 do Sở T Thành phố Hcấp ngày 02 tháng 11 năm 2020 cho ông Trần Văn K
Nhà đất số A, Phường A, quận G đất số 517, tờ bản đồ số 1 được Ủy ban nhân dân (UBND) quận G Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 0724/2008/UB.GCN ngày 04 tháng 02 năm 2008 cấp cho ông bà Trần Anh S– Nguyễn Thị H22 diện tích đất: 610,1m², diện tích sàn xây dựng: 435,3m².
Ông bà Trần Anh S– Nguyễn Thị H23 cho toàn bộ nhà đất nêu trên cho ông Trần Văn K43 Hợp đồng số 22348 lập tại Văn phòng Cngày 26 tháng 12 năm 2019, trước bạ ngày 12 tháng 3 năm 2020.
Ông Trần Văn K44 hồ sơ đăng ký biến động do chuyển quyền (đề nghị cập nhật xác nhận thay đổi trên giấy chứng nhận đã cấp) do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai quận G nhận, quá trình giải quyết hồ sơ do nhà đất trên bị thu hồi một phần trong dự án đầu tư công trình tiêu thoát nước và cải thiện ô nhiễm kênh Tham lương - B - Rạch N trên địa bàn quận G Quyết định thu hồi đất của UBND Thành phố Hdo ranh đất có thay đổi so với Giấy chứng nhận đã cấp (thu hồi một phần) nên ông K45 nghị tạm ngưng hồ sơ để đo vẽ theo hiện trạng thực tế và đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận mới. Ngày 02 tháng 11 năm 2020 Sở T Thành phố Hđã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS04358 đối với địa chỉ nhà số A, Phường A, quận G đất số 517, tờ bản đồ số 1, với diện tích đất 607m², diện tích xây dựng 347,4m², diện tích sàn 435,3m².
Đăng ký thay đổi ngày 09 tháng 6 năm 2021, địa chỉ căn nhà nay được cấp số mới là 1 L, Phường A, quận G số nhà 34242/CN-UBND ngày 01 tháng 12 năm 2011 do Chủ tịch UBND quận Gcấp.
Thành phần hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận của ông Trần Văn K46 đủ theo quy định tại Điều 11 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ T6 sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 7 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29 tháng 9 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ T7 định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
Quy trình giải quyết hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận của ông Trần Văn K47 theo quy định tại khoản 4 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 79, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ.
Như vậy việc giải quyết hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận của ông bà Trần Anh S– Nguyễn Thị H24 tên tặng cho ông Trần Văn K47 quy định pháp luật.
Trên đây là ý kiến của Sở TĐề nghị Toà án nhân dân Thành phố căn cứ quy định pháp luật ngành và các quy định pháp luật có liên quan để xem xét giải quyết, đảm bảo vụ kiện được giải quyết thống nhất, đúng thời gian, đúng quy trình thủ tục và nội dung theo quy định.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS –ST ngày 03 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Pháp lệnh về nhà ở năm 1991;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H17 về việc:
- Công nhận phần diện tích đất 1.010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại số A, Phường A, quận G chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08/10/2019 cho ông Trần Văn K48 quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần A2 SBuộc ông Trần Văn K49 những người đang cư trú trên phần diện tích đất 1.010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại số A, Phường A, quận G, anh Trần Q K3chị Trần Nguyễn Ái L2 cháu Trần Nguyễn K3 P2có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần Anh S
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08/10/2019 cho ông Trần Văn K
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H17 về việc:
- Công nhận phần diện tích 607m², thuộc thửa số 517, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại số A, Phường A, quận G chứng nhận số CS04358 do Sở T Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K48 quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần Anh S
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T thành phố Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự
Ngày 16/01/2024, nguyên đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị theo hướng sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Văn K50 toàn bộ 2 thửa đất và hủy giấy chứng nhận thửa đất 581 và 517.
Ngày 16/01/2024, ông Bùi Bá P2 diện ủy quyền của ông Trần Anh S9 cáo một phần bản án sơ thẩm theo hướng đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 11/01/2024, bị đơn có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị theo hướng không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H18 người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Quế A3 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là Luật sư Vũ Q1 T3Luật sư Trương Vĩnh T trình bày :
- Bị đơn ông Trần Văn K49 người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là Luật sư Nguyễn Kiếm K1 trình bày:
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần A2 Scó người đại diện theo ủy quyền là ông Bùi Bá P3 bày:
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành Phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng trình tự và quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Tại thời điểm lập hợp đồng, ông Sbà H25 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với các thửa đất số 517, 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại số A, A L, Phường A, Quận G. Nội dung thỏa thuận tặng cho hai thửa đất trên giữa ông S10 Hvới ông K20 vi phạm quy định pháp luật; hợp đồng có đầy đủ chữ ký và lăn tay xác nhận của các bên. Việc tặng cho nhà đất trên được thực hiện đúng trình tự, thủ tục tại Giấy cho nhà và đất; đơn tường trình và cam kết; đơn cam kết. Tuy nhiên, vụ án dân sự trên là quan hệ tranh chấp trong nội bộ gia đình nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận phần diện tích đất có diện tích 607m² thuộc thửa số 517, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại số A, Phường A, Quận G sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị H3 ông Trần A2 S đồng thời hủy giấy chứng nhận số CS 04358 do Sở T thành phố Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K.
Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đối với kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hđề n công nhận thửa đất số 517, diện tích 607m² tọa lạc tại 1 L, Phường A, Quận G thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H3 ông Trần A2 S
Vào ngày 04/02/2008, ông Sbà H26 Ủy ban nhân dân quận G Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 724/QSDĐ đối với thửa đất 517, tờ bản đồ số 1, địa chỉ 1 L, Phường A, quận G
Ngày 26/12/2019 ông Sbà H27 lập Hợp đồng tặng cho số 22348 tại Văn phòng C1 T4tặng cho toàn bộ quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nêu trên cho ông Trần Văn K
Ngày 02/11/2020, Sở Tài Nguyên và Môi trường Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS04358 đối với nhà đất nêu trên cho ông KCăn nhà nay được cấp số mới là 1 L, Phường A, quận G
Nguyên đơn bà H28 bày vợ chồng bà chỉ ủy quyền cho ông K9 làm thủ tục tách thửa, không có ý định tặng cho nhà đất cho ông K51 thời điểm ký hợp đồng công chứng, bà H29 được công chứng viên thông qua nội dung của hợp đồng, không được giải thích, chỉ kêu ký vào thì vợ chồng bà ký vì nghĩ rằng ký ủy quyền làm thủ tục tách thửa.
Hội đồng xét xử nhận thấy, về hình thức thì Hợp đồng tặng cho giữa bà H30 Svà ông K42 lập thành văn bản và được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật. Về nội dung, tại thời điểm lập hợp đồng, ông Sbà H25 đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở đối với thửa đất trên nên hoàn toàn có quyền định đoạt đối với thửa đất; nội dung thỏa thuận tặng cho không vi phạm quy định pháp luật. Hợp đồng tặng cho có đầy đủ chữ ký và lăn tay xác nhận của các bên. Bà H28 bày vợ chồng bà không được công chứng viên giải thích công chứng thủ tục tặng cho, chỉ có người dịch vụ yêu cầu bà ký và bà không biết nội dung hợp đồng là gì, tuy nhiên, bà H29 cung cấp được chứng cứ, tài liệu để chứng minh. Hiện nay, chính ông S11 xác định ông và bà H27 đến văn phòng C ký hợp đồng tặng cho ông K19 đất nêu trên.
Như vậy, có đủ căn cứ để xác định Hợp đồng tặng cho số 22348 ngày 26/12/2019 có hiệu lực pháp luật, việc tặng cho nhà đất giữa bà H30 Svà ông K được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và việc cấp giấy chứng nhận cho ông K27 phù hợp. Do đó, bà H31 cầu công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho bà đối với phần diện tích 607m² thuộc thửa đất số 517, tờ bản đồ số 1 và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T Hngày 02/11/2020 cấp cho ông K27 không có căn cứ. Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H
[2] Đối với kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn K52 nghị công nhận phần diện tích đất 1.010,7m² thuộc thửa số 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại số A, Phường A, Quận G sử dụng hợp pháp của ông K
[2.1] Các bên đương sự đều thống nhất phần diện tích đất 1.010,7m² có nguồn gốc của ông S6 bà H32 phá trước năm 1975. Đến năm 1999, ông Sbà H33 ký kê khai nhà đất với diện tích đất 1.809m², diện tích xây dựng 42m². Năm 2002, ông Sbà H34 con là ông K34 phần nhà đất theo “Giấy cho nhà và đất” ngày 27/9/2002 (BL 250). Việc tặng cho còn thể hiện qua “Đơn tường trình và cam kết” ngày 23/10/2018 (BL 168) và “Đơn cam kết” ngày 15/02/2017 (BL 227), có chứng thực tại địa phương.
Hiện nay, bà H29 thừa nhận việc tặng cho trên, không thừa nhận bà và ông S2 ký và viết giấy tặng cho ngày 27/9/2002. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Tòa án đã tiến hành thu thập các mẫu so sánh, tài liệu có liên quan để tiến hành giám định chữ ký, chữ viết của bà Hông S12 giấy tặng cho ngày 27/9/2002.
Tại Kết luận giám định chữ ký số 864/KL-KTHS ngày 06/02/2023 của Phòng K4Công an Thành phố H xác định: “chữ ký và chữ viết họ tên của bà Nguyễn Thị H35 Trần A1Skhông phải do cùng một người ký, viết ra”. Tuy nhiên, đến ngày 30/6/2023, tại Kết luận giám định chữ ký số 5993/KL-KTHS của Phòng K4Công an Thành phố H xác định: “Không đủ cơ sở để kết luận chữ ký mang tên Trần A2 Svà chữ ký mang tên Nguyễn Thị H18 phải cùng một người ký ra hay không”.
Như vậy, có thể thấy, ở hai lần giám định, việc thu thập các mẫu so sánh, tài liệu có liên quan là khác nhau và cho ra kết quả giám định khác nhau nên không đủ cơ sở để làm căn cứ giải quyết.
Tại phiên hòa giải ngày 19/9/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm công khai ngày 03/01/2024, ông S13 nhận nội dung của Giấy cho nhà và đất ngày 27/9/2002 là đúng ý chí của ông Sbà H36 xác định chữ ký tại giấy này là chữ ký của ông S
[2.2] Đối với “Đơn tường trình và cam kết” ngày 23/10/2018 và “Đơn cam kết” ngày 15/02/2017, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, bà H36 ông S14 thừa nhận có ký tên tại hai văn bản này. Các tài liệu trên được chứng thực tại Ủy ban nhân dân Phường A với nội dung: “Vào năm 2002, vợ chồng ông S2 cho con là Trần Văn K39 và đất với diện tích khuôn viên 1010,7m². Lúc đó do ông K40 có điều kiện hợp thức hóa nên vợ chồng ông S15 tên đại diện khai trình. Nay, ông K41 hợp thực hóa ông bà S16 kết không tranh chấp khiếu nại gì về phần nhà đất nói trên".
Bà H28 bày bà ký tên trên các đơn tường trình và cam kết chỉ nhằm mục đích ủy quyền cho ông K53 thủ tục nhà đất, chỉ nhờ ông K54 tên giúp; ông Sbà H37 ký nhưng không đọc nội dung. Tuy nhiên, bà H29 cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời khai này, do đó, lời khai của bà H11 không có căn cứ để chấp nhận.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định chữ ký tại “Giấy cho nhà và đất” ngày 27/9/2002, “Đơn tường trình và cam kết” ngày 23/10/2018 và “Đơn cam kết” ngày 15/02/2017 là của ông S6 bà H
[2.3] Bản án sơ thẩm nhận định rằng thủ tục niêm yết công khai đối với hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của ông K55 được thực hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân Phường A Gvào ngày 18/7/2019 và không niêm yết công khai tại khu dân cư nơi có đất. Do không thực hiện việc niêm yết công khai tại khu dân cư nơi có đất nên vợ chồng bà H35 Skhông biết được việc ông K6 lập thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đối với phần diện tích đất mà bà Hông S17 quản lý sử dụng.
Hội đồng xét xử nhận thấy, tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư ngày 05/02/2015 về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất thể hiện nội dung: “Năm 2002, ông bà Trần Anh S– Nguyễn Thị H38 lại con là ông Trần Văn K34 phần nhà đất bằng giấy tay ngày 27/9/2002. Cùng năm 2002, ông K35 chữa nới rộng nhà ở không phép và ở ổn định cho đến nay với DTKV 1.003,4m² được sử dụng làm đất ở ổn định từ năm 1991 đến nay, nhà đất hiện chưa xảy ra tranh chấp” (BL 238). Phiếu lấy ý kiến có xác nhận của 05 hộ dân, là các hộ đều sống lâu năm, cùng thời với hộ ông S18 hộ dân đều xác nhận tình trạng sử dụng đất chưa xảy ra tranh chấp.
Việc niêm yết công khai đối với hồ sơ cấp giấy chứng nhận cho ông K51 trụ sở Ủy ban nhân dân Phường A thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, được thể hiện tại Công văn số 159/DSCK ngày 18/7/2019 về Danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh
Trên thực tế, bà H39 sinh sống bên cạnh diện tích đất đang tranh chấp, bà H40 việc xây dựng nhà trọ của ông K56 không có bất cứ ý kiến phản đối hay ngăn cản nào.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, ông S13 nhận việc bà H13 ông S19 cho ông K22 bộ diện tích đất tranh chấp và yêu cầu Tòa án công nhận toàn bộ diện tích đất tranh chấp là của ông Kông S20 có đơn kháng cáo đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm đã không công nhận quyền sử dụng hợp pháp của ông K26 với thửa đất số 581.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định việc tặng cho giữa ông S10 Hvà ông K26 với thửa đất số 581 là đúng ý chí, nguyện vọng của người cho là ông S10 HViệc Ủy ban nhân dân quận G Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 04089 ngày 08/10/2019 cho ông K27 đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà H41 nhận kháng cáo của ông Kông S21 bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H42 việc đề nghị công nhận diện tích đất 1.010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H29 chấp nhận yêu cầu của bà H42 việc hủy giấy chứng nhận của Ủy ban nhân dân quận G cho ông K
[4] Về án phí phúc thẩm: Các đương sự không phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H43 nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn K4 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần A2 SSửa bản án sơ thẩm.
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H44 về việc:
- Công nhận phần diện tích đất 1.010,7m², thửa số 581, tờ bản đồ số 1, tọa lạc tại số A, Phường A, quận G chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08/10/2019 cho ông Trần Văn K48 quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần A2 S Buộc ông Trần Văn K49 những người đang cư trú trên phần đất có trách nhiệm giao trả lại toàn bộ diện tích đất nêu trên cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần Anh S
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 04089 do Ủy ban nhân dân quận G ngày 08/10/2019 cho ông Trần Văn K
- Công nhận phần diện tích 607m², thuộc thửa số 517, tờ bản đồ số 1 tọa lạc tại số A, Phường A, quận G chứng nhận số CS04358 do Sở T Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K48 quyền sử dụng của vợ chồng bà Nguyễn Thị H3 ông Trần Anh S
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CS 04358 do Sở T thành phố Hcấp ngày 02/11/2020 cho ông Trần Văn K
- Về chi phí tố tụng:
- Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị H45 miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho bà H11 300.000 đồng (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AD/2021/0002288 ngày 02/6/2022 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
- Hoàn trả cho ông Trần Văn K số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) mà ông K6 nộp theo biên thu tạm ứng án phí số 0031743 ngày 24/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí giám định chữ ký, chữ viết do nguyên đơn, bị đơn đã nộp tạm ứng, cả nguyên đơn, bị đơn đều tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Minh |
Bản án số 661/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 661/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị H kiện Ông Trần Văn K về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn K và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Anh S. Sửa bản án sơ thẩm
