Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 660/2024/DS-PT

Ngày: 25-7-2024.

V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.

Các Thẩm phán:

  1. Ông Lê Ngọc Tường
  2. Bà Lê Thị Ngọc Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Tào Minh Quân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 413/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DS-ST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3093/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 9706/2024/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1960 (có mặt).

    Địa chỉ thường trú: Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ liên lạc: Số E, Ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1970.

    Địa chỉ: Số C đường B, Tổ G, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C: Ông Nguyễn Huệ S, sinh năm 1978; thường trú: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số C L, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

  1. Bà Hoa Thị N, sinh năm 1960; địa chỉ thường trú: Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: Số E, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh G, sinh năm 1987; địa chỉ: Số C đường C, Tổ G, ấp G, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  3. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ: Số A, ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  4. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1982; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
  5. Ông Võ Văn R, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ C, ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Bà Võ Thị Thùy N1, sinh năm 1993; địa chỉ: Số A, ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  7. Bà Võ Thị H, sinh năm 1997; địa chỉ: Tổ C, ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  8. Ông Ngô Văn M1, sinh năm 1949; địa chỉ: Số B đường N, Tổ E, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Ngô Văn M1 đã chết.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn M1:

    1. Ông Ngô Ngọc D, sinh năm 1970; địa chỉ: Số B N, Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    2. Ông Ngô Thanh B, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    3. Bà Ngô Thanh H1, sinh năm 1975; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    4. Ông Ngô Minh P, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    5. Bà Ngô Thanh P1, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    6. Ông Ngô Anh C1, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Lê Văn R1 (B), sinh năm 1941; địa chỉ: Số B đường T, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Lê Văn R1 đã chết ngày 05/4/2021.

    Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Lê Văn R1:

    1. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1944; địa chỉ: Khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
    2. Ông Lê Văn L, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    3. Ông Lê Văn D1, sinh năm 1963; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    4. Bà Lê Ngọc L1, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
    5. Bà Lê Thị N2, sinh năm 1976; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  10. Bà Ngô Thị Thanh V, sinh năm 1967; địa chỉ: Số E, Tổ B, Khu phố B, thị trấn H, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  11. Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Số D Tỉnh lộ 15, Ấp H, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Văn T2, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Quyết T3, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

4. Người làm chứng:

  1. Ông Đặng Quang V1 - Chủ Cơ sở Đ2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B Tỉnh lộ 2, ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Ông Trần Văn N3, sinh năm 1960; địa chỉ: Số F, đường A, Tổ C, ấp G, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Ông Trần Văn D2, sinh năm 1965; địa chỉ: Đường A, Tổ D, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  4. Bà Trần Thị G1, sinh năm 1955; địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Phát L2, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  7. Ông Trần Văn C2, sinh năm 1967; địa chỉ: Số E đường A, Tổ 1, ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  8. Ông Nguyễn Ngọc D3, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Võ Trung N4, sinh năm 1973; địa chỉ: B, ấp C, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau;

* Tại đơn khởi kiện ngày 09/12/2019, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M trình bày sự việc như sau:

Thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, bộ địa chính xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh là thửa đất đang tranh chấp.

Nguyên trước đây ông Ngô Văn M1 có canh tác thửa đất số 222 thuộc đồng bà H2, đồng thời ông M1 tiến hành khai phá biền rạch phía trước ruộng ông M1 thửa 222 để cùng canh tác, diện tích khai phá phần này 143,6m² nay thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 bộ địa chính xã T, huyện C. Lúc khai phá và đắp bờ biền nhiều nông dân làm ruộng gần đó đều biết rõ và khuyến khích.

Đến năm 2000 ông M1 đến Ủy ban nhân dân xã T, huyện C liên hệ cán bộ địa chính thời đó là ông Trần Văn C2 để xin đăng ký và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định, nhưng ông C2 thông báo do hiện trạng là đất biền rạch chưa có số thửa nên không thể thực hiện được.

Ngày 10/5/2002, ông M1 chuyển nhượng thửa 223 đất biền này cho ông với số tiền công khai phá là 800.000đ (T5 trăm nghìn đồng), tương đương 02 chỉ vàng 24K, hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy tay. Từ đó ông M1 xem như toàn bộ công sức khai hoang bồi bổ đất đai đã chuyển nhượng hết cho ông. Vì vậy ông là người chính thức trực tiếp sử dụng thửa đất này từ năm 2002 để trồng sen.

Năm 2015 Nhà nước xây dựng đường điện cao thế đi ngang qua thửa đất 223, từ đó đến nay không còn trồng sen được nữa. Thời gian này do có xà bần giải phóng mặt bằng để xây dựng lại Trường Tiểu học T6, ông có mua lại xà bần của nhà thầu Đức Vinh để san lắp toàn thửa 223.

Năm 2018 ông Nguyễn Huệ S là người sử dụng phần đất phía trong thửa 223. Để san lắp mặt bằng, ông S có hỏi ông cho xe san lắp ngang qua đất của ông thửa 223. Nghĩ tình nghĩa làng xóm, ông đồng ý yêu cầu của ông S.

Sau khi thực hiện xong việc san lắp, ông S thông báo tranh chấp với ông tại Ủy ban nhân dân xã T với lý do ông S đã mua thửa 223 từ bà Ngô Thị Thanh V bằng giấy tay, nhưng sau đó ông S rút đơn.

Nguyễn Thị C cho rằng mẹ của bà C là bà Phan Thị L3 đã bán thửa 223 cho bà Ngô Thị Thanh V. Ông không đồng ý với ý kiến của bà C với những lý do sau:

- Bà Ngô Thị Thanh V là ai, địa chỉ ở đâu và bà V không hề xuất hiện trong quá trình hòa giải tranh chấp và các vấn đề pháp lý liên quan đến quá trình sử dụng đất, vậy chuyện bà V là sự bịa đặt của bà C.

- Ông Lê Văn R1 canh tác thửa 616, còn ông M1 canh tác thửa 222 và phần biền rạch thửa 223 đã khai phá canh tác nhiều năm liền, hai ông không hề có tranh chấp nào. Về sau ông R1 đã nhượng lại thửa 616 cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Phan Thị L3. Cũng tại thời điểm đó, thửa 616 phân cách với thửa 223 bằng một đường mương bề ngang 1m để dẫn nước cho ruộng ông X. Sự phân chia rõ ràng và ông R1 xác nhận không có việc đã bán thửa 223 cho ba mẹ bà C. Trường hợp bà C cho rằng ông R1 đã bán thửa 223 cho ba mẹ bà thì bà C nên trình bày chứng từ rõ ràng.

- Sự việc người có tên Nguyễn Văn S2 đăng ký sổ dã ngoại trên phần đất khai khẩn thửa 223 là không đúng thực tế.

Ngày 04/10/2019, ông yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T tổ chức hòa giải với bà Nguyễn Thị C. Sau đó ngày 31/10/2019 Ủy ban nhân dân xã T hòa giải lần 1 và ngày 07/11/2019 hòa giải lần 2. Cả hai lần hòa giải bà C đều vắng mặt, vì vậy việc hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông và bà C không thành. Ngày 11/11/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T ban hành Thông báo số 1567/TB-UBND về việc hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất của hai bên. Theo thông báo, tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông với bà C không thỏa thuận được và đề nghị các bên liên quan chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Nhằm để bảo vệ quyền lợi của ông trước sự xâm hại của bà C.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bà Nguyễn Thị C phải trả lại cho ông quyền sử dụng thửa đất số 223 tờ bản đồ 70, diện tích 143,6m², thuộc bộ địa chính xã T, huyện C.

* Tại Đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 29/3/2021, ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ông M yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 260m² thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C là tài sản của ông M.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Văn M trình bày:

Ông M yêu cầu Tòa án công nhận thửa đất số 223 tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m² tại xã T, huyện C là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông M, yêu cầu bà C phải trả lại cho ông M phần đất trên.

Năm 2016 ông có san lắp thửa 223, ông mua xà bần của chỗ ông V1, ông mua 21 xe xà bần, do xe chở đầy nên mỗi xe là 15 khối, tổng cộng số tiền ông đã trả cho ông V1 là 31.500.0000đ (Ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng).

Sau khi mua đất, ông có cho ông N3 thuê đất để trồng sen, ông N3 thuê khoảng 7-8 năm.

Năm 2018, Ô đồng ý cho ông T4 là người trực tiếp hỏi ông xin cho xe chạy ngang thửa 223 để vào san lấp mặt bằng đất phía trong.

Về chi phí xem xét thẩm định, tại chỗ và định giá tài sản 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), ông tự nguyện chịu, không có yêu cầu gì.

Về chi phí giám định tư pháp xây dựng 36.720.000₫ (Ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) mà ông đã tạm ứng, nếu yêu cầu của ông được chấp nhận thì bà C phải thanh toán số tiền trên lại cho ông, còn trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông thì ông tự nguyện chịu.

Ông đồng ý với kết quả tại biên bản định giá ngày 14/5/2021 xác định giá trị thửa đất tranh chấp là đất 2 lúa có giá 800.000đ/m².

* Tại đơn phản tố ngày 09/3/2021, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Từ năm 1975 ông H3 đã bán cho cha mẹ bà tất cả khu ở đồng bà H2 gồm thửa 152,153,154 và cả đám biền (thửa 223 nằm liền kề) cho cha bà là ông Nguyễn Văn S2 (Nguyễn Văn S1) và bà Phan Thị L3. Cha bà được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ trắng ngày 10/7/1995, trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vẽ hình thửa đám biền (thuộc thửa 223 ngày nay) và trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông S2 có ghi rõ ràng là mua của ông H3 trước năm 1975. Sau này nghe cha mẹ bà kể lại tại thời điểm đó ai cũng lo cái đói, cái no nên khi ông H3 bán đất cho cha mẹ bà là nói bán cả khu theo bờ xung quanh như hiện trạng vậy thôi, chứ không ai có thước đo đất, cũng không ai tính toán chi li diện tích đất là bao nhiêu. Cha mẹ bà canh tác sử dụng các thửa đất trên từ đó đến khi cha bà chết, đến năm 2001 mẹ bà Phan Thị L3 xin thừa kế các thửa đất nêu trên và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp sổ đỏ ngày 02/8/2001. Khi đó bà và mẹ bà sử dụng gồm thửa 152,153,154 và đám biền (thửa 223 ngày nay) đến năm 2003 mẹ bà chết, từ đó bà trực tiếp sử dụng thửa đất 223 cho đến nay. Từ thời điểm đó đến nay, cán bộ địa chính và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xã T đều biết rất rõ cha bà có đăng ký và đã lập sổ dã ngoại lưu tên cha bà là ông Nguyễn Văn S2 vào năm

2003, các cơ quan chức năng lưu tên vào sổ để xác định nguồn gốc đất do cha bà canh tác sử dụng từ năm 1975, khi đó tập đoàn ấp 11 biết cha bà có canh tác và sản xuất lúa tại thửa 223, bên cạnh đó Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cũng có lưu tên cha bà tại thửa đất 223 từ năm 2003.

Qua những chứng cứ nêu trên, bà đề nghị Tòa án công nhận thửa đất số 223 tờ bản đồ số 70 là của cha mẹ bà để lại cho bà để bà xin hợp thức hóa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất nêu trên. Bà đề nghị bác đơn của ông M vì hợp đồng viết tay của ông M1 và ông M tự viết ra để kiện bà là không có cơ sở.

* Tại phiên tòa, ông Nguyễn Huệ S là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hiện ông M tranh chấp có nguồn gốc trước năm 1975, cha mẹ bà CNguyễn Văn S2 (Sặt) và Phan Thị L3 (đã chết) nhận chuyển nhượng của ông R1 (H3) (ông R1 là anh ruột của ông Ngô Văn M1). Ông R1 bán cho cha mẹ bà C gồm thửa đất số 152, 153, 154 và cả đám biền (thuộc thửa 223 nằm liền kề), sau đó cha của bà C được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sổ trắng ngày 10/7/1995, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn S2 có ghi rõ ràng là mua của ông H3 trước năm 1975. Theo cha mẹ bà C nói thì khi ông H3 bán đất có nói là bán cả khu theo bờ xung quanh như hiện trạng chứ không ai có thước đo đất cũng không ai tính toán chi li về diện tích đất là bao nhiêu. Cha mẹ bà C canh tác sử dụng các thửa đất nêu trên từ đó đến khi cha bà C chết, đến năm 2001 mẹ bà C xin thừa kế các thửa đất nêu trên và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy ngày 02/8/2001. Khi đó mẹ bà C và bà C sử dụng các thửa 152, 153, 154 và đám biền (thuộc thửa 223 ngày nay) đến năm 2003 mẹ bà C chết nên bà C trực tiếp sử dụng thửa đất số 223 từ đó cho đến nay. Phần đất này cha bà C có đăng ký và đã lập sổ dã ngoại lưu tên cha bà C là ông Nguyễn Văn S2, cơ quan chức năng lưu tên ông S2 vào sổ để xác định nguồn gốc đất do ông S2 canh tác sử dụng từ năm 1975, khi đó tập đoàn ấp 11 biết ông S2 có canh tác và sản xuất lúa tại thửa số 223, bên cạnh đó Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H có lưu tên ông S2 tại thửa đất 223 từ năm 2003. Tại phần ghi chú theo văn bản số 13558 ngày 25/11/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H thì Bản đồ địa chính Thành phố Hồ Chí Minh (bản đồ số) được đo vẽ theo kế hoạch năm 1997-2004 và được đưa vào sử dụng từ năm 2001 đến năm 2009, nghĩa là ông S2 có đăng ký từ trước đó, chứ không phải năm 2003 mới đăng ký.

Nay bị đơn đề nghị Tòa án công nhận thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70 là của cha mẹ bà C là ông Nguyễn Văn S2 (Nguyễn Văn S1) và bà Phan Thị L3 để lại cho bà Nguyễn Thị C để bà C được hợp thức hóa xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên.

Ông xác định trước đây ông S2 (Sặt) mua của ông Lê Văn R1 (Hào) các phần đất thuộc thửa 152,153,154 tờ bản đồ số 16 và đám biền (nay là thửa 223). Đến năm 1995 ông S2 (S1) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa 152,153,154, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng có vẽ thửa 223. Sau khi ông S2 chết, bà L3 làm thủ tục thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 3 thửa đất 152,153,154, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn có vẽ đám biền nằm liền kề (nay là thửa 223). Bà C là người trực tiếp sử dụng phần đất tranh chấp.

Việc ông M nói rằng năm 2018, ông S và ông T4 cùng nhiều người khác có hùn mua thửa đất phía trong thửa đất số 223 là không đúng sự thật.

Thửa 223 trước đây bị đơn có san lấp mặt bằng, bị đơn mua đất từ nguồn nạo vét đất đường, đất hỗn hợp và tiến hành san lấp thửa đất số 223.

Việc ông M nói ông S và ông T4 có hỏi ông M để xin cho xe chạy qua thửa đất 223 để vào san lấp mặt bằng phía trong là không đúng. Ông S có nhờ ông T4 xem hiện trạng như thế nào, vì thửa 223 nhỏ, khi xe chạy vào ông S sợ phạm vào đất thửa 224 của ông Mai k bên. Nếu có hỏi xin thì ông S hỏi thửa lớn 224 của ông M, vì thửa 223 rất nhỏ và giáp ranh với nhà xưởng.

Ông Nguyễn Văn S2 với ông Nguyễn Văn S1 là cùng một người, vì giấy đất cấp cho ông S2 cũng ghi tên ông Nguyễn Văn S2, là chồng bà Phan Thị L3. Cha mẹ bà C có tất cả 06 người con (trong đó có 02 người đã chết) gồm: bà Nguyễn Thị C;Nguyễn Thị L4, sinh năm 1974, đã chết. Chồng tên là ông Võ Văn R. Vợ chồng bà L4 có 02 người con là bà Võ Thị Thùy N1 và bà Võ Thị H; ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1984, đã chết, không vợ con; ông Nguyễn Văn T1; ông Nguyễn Văn T;Nguyễn Thị Thanh G.

Hiện tại thửa 223 là đất trống, không có nhà cửa hay công trình phụ gì trên đất. Tại biên bản định giá ngày 14/5/2021 kết luận giá trị thửa đất tranh chấp là đất 2 lúa có giá 800.000đ/m², bị đơn đồng ý và không yêu cầu định giá lại.

* Bà Hoa Thị N trình bày:

Bà là vợ ông Nguyễn Văn M. Bà đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu của chồng bà là ông Nguyễn Văn M, vì thực tế chồng bà mua thửa đất 223 của ông M1. Ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 22/3/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 trình bày:

Ba ông tên là Nguyễn Văn S1 (Nguyễn Văn S2), mẹ ông là bà Phan Thị L3. Việc ông M tranh chấp phần đất tại xã T, huyện C với bà C, ông có ý kiến như sau: Phần đất đó của bà C,C có toàn quyền quyết định mọi việc liên quan đến phần đất trên.

* Tại bản tự khai ngày 19/4/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn R trình bày:

Ông là chồng của bà Nguyễn Thị L4. Vợ ông đã chết hơn 03 năm, vợ chồng ông có 02 người con là Võ Thị Thùy N1, sinh năm 1993 và Võ Thị H, sinh năm 1997. Về thửa đất số 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà ông Mai k1 yêu cầu bà C trả lại, ông không biết, không liên quan gì, ông M và bà C tự giải quyết với nhau, bà C muốn làm gì thì làm, giao lại hết cho bà C giải quyết. Việc tranh chấp đất giữa ông M và bà C, ông không biết, mọi chuyện để bà C giải quyết. Ông xác định ông không liên quan gì đến việc trên, ông cũng không yêu cầu gì. Ông đề nghị Tòa án không mời ông nữa.

* Tại bản tự khai ngày 19/4/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thùy N1 trình bày: Bà là con của ông Võ Văn R và bà Nguyễn Thị L4. Bà thống nhất với lời khai của ông R. Việc tranh chấp đất giữa ông M với bà C, bà không liên quan gì, giao lại cho bà C giải quyết và quyết định. Bà không liên quan, không có yêu cầu gì và đề nghị Tòa án không mời bà nữa.

* Tại bản tự khai ngày 27/4/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị H trình bày: Bà là con của ông Võ Văn R và bà Nguyễn Thị L4. Bà thống nhất với lời khai của ông R. Bà đề nghị Tòa án không mời bà nữa.

* Tại bản tự khai ngày 31/5/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông là em ruột bà Nguyễn Thị C. Phần đất diện tích 226,5m² thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C, ông không liên quan gì phần đất trên và mọi quyền quyết định về sau ông giao hết cho bà C. Ông đề nghị Tòa án giải quyết, hòa giải, xét xử vụ án vắng mặt ông. Ông cam kết không khiếu nại gì về sau.

* Tại bản tự khai ngày 31/5/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh G trình bày: Bà là em ruột bà Nguyễn Thị C. Phần đất diện tích 226,5m² thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C, bà không liên quan gì phần đất trên và mọi quyền quyết định về sau bà giao hết cho bà C. Bà đề nghị

Tòa án giải quyết, hòa giải, xét xử vụ án vắng mặt bà. Bà cam kết không khiếu nại gì về sau.

* Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/11/2020, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn R1 trình bày:

Trước đây ông R1 là người trực tiếp canh tác 0,2ha đất, từ công khai phá ruộng đồng bà H2, thuộc thửa đất số 616, kế bên biền ruộng khai phá sử dụng đất của ông Ngô Văn M1, giữa đất ông R1 với đất ông M1 cách nhau là một đường mương dẫn nước. Sau đó ông chuyển nhượng phần đất của ông cho ông Nguyễn Văn S1 và bà Phan Thị L3. Thời điểm đó, đường dẫn nước vừa là ranh đất vừa là đường dẫn nước cho ruộng bà B1 và ông X ở phần đất bên trong. Lúc đó ông và ông M1 canh tác đất ổn định và không có tranh chấp vì ranh đất rõ ràng. Ông xác định ông chỉ chuyển nhượng thửa đất số 616 cho ông S1 và bà L3, còn đất ông Ngô Văn M1 kế bên, ông không liên quan, ông không hề biết và cũng không đứng ra chuyển nhượng phần đất của ông Ngô Văn M1 cho ông S2 (S1),L3. Ông cam kết lời khai trên là đúng sự thật, ông còn minh mẫn khi được Tòa án tiến hành lấy lời khai.

* Tại bản tự khai ngày 06/6/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là vợ ông Lê Văn R1.Trước năm 1983, chồng bà có bán khu đất gồm các thửa đất số 152,153,154 tờ bản đồ 16 và đám biền nằm liền kề nay thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70, theo số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 60/754QQSDĐ/10/07/1995 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp, thuộc xã T, huyện C, cho ông Nguyễn Văn S1 (Sắt) và bà Phan Thị L3. Hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp khu đất nêu trên với bà Nguyễn Thị C (con ông S1 và bà L3), theo bà biết các thửa đất nêu trên từ thời điểm đã bán và giao cho ông S1 (Sắt) và bà L3 sử dụng từ thời điểm đó. Đến nay chồng bà đã chết, bà không liên quan gì đến các thửa đất nêu trên nên bà đề nghị Tòa án giải quyết, hòa giải, xét xử vụ án vắng mặt bà. Bà cam kết không khiếu nại gì về khu đất nêu trên về sau này.

* Tại bản tự khai ngày 22/02/2022, bà Ngô Thị Thanh V trình bày:

Ngày 16/8/2001, bà có mua của bà Phan Thị L3 phần đất diện tích 220m² thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C với số tiền 6.600.000₫ (Sáu triệu sáu trăm nghìn đồng), đất này hiện ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C. Hai bên có làm giấy tay mua bán, có các con của bà L3 ký tên, trong đó có bà Nguyễn Thị C. Từ năm 2002 do thấy hoàn cảnh bà C khó khăn nên bà có để phần đất trên cho bà C trồng lúa để có gạo ăn lo cho gia đình. Bà không biết ông Nguyễn Văn M, bà cũng không có giao dịch mua bán gì với

ông M. Bà xác định bà không có giao dịch mua bán phần đất trên với ông Nguyễn Huệ S. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết gì trong vụ án này.

* Tại văn bản số 1748/UBND ngày 27/12/2022 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, Ủy ban nhân dân xã T xin vắng mặt và đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xem xét hồ sơ của bên nguyên đơn và bên bị đơn, giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

* Người làm chứng ông Nguyễn Văn T4 trình bày:

Nhà ông gần nhà ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị C. Ông không có quan hệ bà con thân thuộc gì với ông M và bà C. Đối với phần đất thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C, ông biết rất rõ nguồn gốc đất. Ông Lê Văn R1 (H3) với ông Ngô Văn M1 là anh em cùng mẹ khác cha. Phần đất của ông R1 ở phía trên (là phần đất tranh chấp giữa ông M với bà C), còn phần đất của ông M1 ở phía dưới, cách nhau cũng khá xa, khoảng vài trăm mét. Ông M có mua phần đất của ông M1, không phải phần đất của ông R1 bán cho vợ chồng ông S2 (Sặt). Đất tranh chấp đó ông khẳng định trước đây là của ông R1, sau đó ông R1 bán lại cho vợ chồng ông S2 (Sặt). Ông khẳng định ông M hoàn toàn không có canh tác, không có trồng sen, không có san lắp mặt bằng gì phần đất trên.

* Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn T4 trình bày bổ sung:

Ông là người dân địa phương từ trước đến nay. Ông biết phần đất tranh chấp là của vợ chồng ông S2 (Sặt) mua của ông R1 (H3). Ông N3 có mướn đất của ông M để trồng sen nhưng là mướn phần đất lớn thửa 224, còn đất thửa 223 thì nhỏ, sen trồng ở thửa lớn 224 bò qua thửa 223, cây cối, cây bình bát mọc lên nhiều ở thửa 223. Ông không biết ông N3 vì ông N3 không phải người ở xã T, ông N3 ở xã B. Việc ông M nói rằng năm 2018, ông và ông Nguyễn Huệ S cùng nhiều người khác có hùn mua thửa đất phía trong thửa đất số 223 là không đúng sự thật. Việc ông M nói rằng ông có hỏi ông M để xin cho xe chạy quang qua thửa 223 để vào phía trong san lắp mặt bằng là không đúng sự thật. Do thửa 223 nhỏ, một bên là thửa lớn 224 của ông M, một bên là tường rào của Xí nghiệp, ông có nói chủ hai bên, sợ xe chạy vào ảnh hưởng đến đất của hai bên.

* Người làm chứng ông Trần Văn N3 trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng bà con gì với ông M và bà C. Ông là người thuê đất trồng sen, lúa trên đất tranh chấp của ông M đã hơn 10 năm trước, nên biết đất này là của ông M, ông không biết nguồn gốc đất này ở đâu ông M có.

* Người làm chứng ông Trần Văn D2 trình bày:

Ông không có quan hệ họ hàng bà con gì với ông M và bà C. Ông canh tác ruộng mướn của người khác gần phần đất tranh chấp từ năm 1989 đến năm 2004

nên ông biết đất này ông M1 bán cho ông M khoảng năm 2002.

* Người làm chứng ông Võ Trung N4 trình bày:

Ông là chủ sử dụng thửa đất số 222 tờ bản đồ số 70 thuộc bộ địa chính xã T, huyện C. Tại thời điểm từ ngày 03/8/2018, ông có đến xem thửa đất số 222 và mua thửa đất số 222, khi đó ông thấy thửa 223 nằm phía trước thửa đất của ông, thửa 223 khi đó chưa san lắp mặt bằng, lúc đó ông thấy trên thửa 223 tiếp giáp một bên là nhà xưởng, có nhiều cây bình bát và cây cỏ dại, khi đó ông có chụp một tấm hình hiện trạng khu đất tại thời điểm đó. Ông cam kết lời khai trên là đúng sự thật, nếu có gì sai trái ông xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Người làm chứng ông Đặng Quang V1 trình bày:

Trước đây ông Nguyễn Văn M có làm giấy xác nhận và đưa cho ông ký tên với nội dung là ông có bán xà bần cho ông M để ông M san lắp mặt bằng tại thửa đất số 223 ở đường V, ấp A, xã T, huyện C. Nay ông làm đơn này khẳng định nội dung xác nhận trên là không đúng vì việc ông Mai san 1 mặt bằng ở thửa đất nào là việc của ông M, ông chỉ bán xà bần cho ông M, còn ông Mai san 1 mặt bằng chỗ nào thì ông không nhớ. Ông cam kết lời trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật, nếu có gì sai trái ông xin chịu trách nhiệm trước pháp luật.

* Người làm chứng bà Trần Thị G1 trình bày:

Nhà bà gần nhà của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị C. Ruộng của bà cũng gần ruộng của vợ chồng ông Nguyễn Văn S2 (Sặt). Đối với phần đất thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C, bà biết rất rõ. Bà biết chính xác phần đất đó là của ông Lê Văn R1 đã bán cho vợ chồng ông Nguyễn Văn S2 (Sặt). Bà khẳng định là ông M hoàn toàn không có canh tác, không có trồng sen, không có san lắp mặt bằng gì đối với phần đất trên. Ruộng của bà gần phần đất tranh chấp và hiện nay bà vẫn còn làm ruộng nên biết rất rõ. Ông M không hề canh tác gì phần đất trên. Bà cam kết lời khai trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

* Người làm chứng ông Nguyễn Phát L2 trình bày:

Nhà ông gần nhà ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị C. Đối với phần đất thuộc thửa 223 tờ bản đồ số 70 tại xã T, huyện C mà hiện nay ông Nguyễn Văn M đang tranh chấp với bà Nguyễn Thị C, ông biết rất rõ. Đất đó là của ông Lê Văn R1. Trước đây khoảng năm 1985 đến khoảng năm 1987, 1988, ông có thục phần đất đó của ông Lê Văn R1 là 01 chỉ vàng (thục có nghĩa là mướn). Được một thời gian thì ông R1 lấy đất lại, không cho ông mướn nữa để ông R1 bán đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn S2 (Sặt). Ông khẳng định là ông M hoàn toàn không có canh tác. Đất tranh chấp là ngọn đường nước nên không trồng sen

được, không có san lắp mặt bằng gì phần đất trên. Ông cam kết lời khai trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

* Người làm chứng Ông Nguyễn Ngọc D3 trình bày:

Ngày 04/6/2020 ông có ký xác nhận trong tờ đơn xin xác nhận sử dụng đất của ông Nguyễn Văn M. Tiếp giáp mặt tiền (đường V bây giờ) trước đây là con rạch, phía trong con rạch có biền không ai làm ruộng được do đất lún. Sau đó ông Ngô Văn M1 có đắp bờ, lấn từ từ vào. Ông có nghe nói lại là ông M1 có bán đất cho ông M. Ông chỉ biết là ông M1 có đắp bờ một đoạn dài, còn chính xác số thửa, số tờ bản đồ thì ông không nắm được, vì hiện nay Công ty, Xí nghiệp về đóng trụ sở ở khu vực đó nhiều nên có nhiều sự thay đổi so với trước đây. Sự việc ông đã trình bày rõ nên ông đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt ông.

* Người làm chứng ông Trần Văn C2 trình bày:

Từ năm 1992 đến năm 2008, ông là cán bộ địa chính xã T. Năm 1983, theo Tài liệu 299-TTg, phần đất tranh chấp giữa ông M và bà C thuộc thửa đất số 951 tờ bản đồ số 5. Sau đó đất đưa vào Hợp tác xã quản lý, trong quá trình sử dụng thì phần đất đó không có ai sử dụng nên thành đất mương. Đến năm 2000, ông Ngô Văn M1 liên hệ Ủy ban nhân dân xã T để đăng ký phần đất của ông M1 và phần đất đang tranh chấp. Tuy nhiên thời điểm đó phần đất tranh chấp này không có số thửa (do thể hiện là đất rạch) nên không đăng ký được phần đất tranh chấp trên. Đến năm 1990, Hợp tác xã giải thể thì người dân về sử dụng lại phần đất cũ của mình.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DSST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

  • - Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 50 Luật đất đai năm 2003;
  • - Căn cứ Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
  • - Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
  • - Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M về việc: Yêu cầu công nhận thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông M và đòi bà Nguyễn Thị C phải trả lại cho ông M phần đất trên.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị C.

    Công nhận thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị C, theo Bản vẽ đo đạc số 8474 do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/6/2018, được Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố H - Chi nhánh huyện C kiểm tra nội nghiệp ngày 15/6/2018.

    C được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định của pháp luật.

  3. Về chi phí tố tụng:

    Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), ông M tự nguyện chịu (đã quyết toán xong).

    Chi phí giám định tư pháp xây dựng 36.720.000đ (Ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) ông M phải chịu (đã quyết toán xong).

    Chi phí thẩm định 16.500.000đ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) bị đơn tự nguyện chịu (đã quyết toán xong).

  4. Về án phí:

    Ông M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.554.100đ (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn một trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0083224 ngày 03/01/2020, ông M được hoàn lại 3.254.100đ (Ba triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn một trăm đồng); hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho ông M là 2.945.900₫ (Hai triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0085886 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

    Hoàn tiền tạm ứng án phí 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) cho bà C theo biên lai thu tiền số 0085797 ngày 15/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

    Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.

Ngày 18/01/2024, Nguyên đơn – ông Nguyễn Văn M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, không rút yêu cầu kháng cáo.

Nguyên đơn trình bày: yêu cầu hội đồng xét xử Phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Tòa sơ thẩm căn cứ thông tin trên sổ dã ngoại để xác định đất do ông S1 (S2) đăng ký sử dụng là không chính xác vì sổ dã ngoại thực hiện từ năm 1997 nhưng ông S1 đã chết từ năm 1995 thì không đăng ký sử dụng đất được. Năm 2016 ông M san lấp mặt bằng trên đất tranh chấp, nếu ông M không san lấp thì năm 2018 ông S không thể cho xe chạy qua phần đất này. Nếu ông M1 không bồi đắp đất thì phần đất biền này không thể có số thửa được. Việc bà Đ khai ông H3 (R1) có bán đất cho ông S1 từ năm 1983 là không đúng vì năm 1987 đất này là của tập đoàn A.

Đại diện bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ông S1 mua đất của ông R1 từ trước năm 1975 gồm các thửa 152, 153, 154 và phần rạch biền nên không thể hiện số thửa nay là thửa 223. Năm 1995, ông S1 được cấp giấy chứng nhận đối với các thửa đất 152,153,154 còn phần rạch do chưa có số thửa nên chưa thể xin cấp giấy chứng nhận nhưng trong giấy chứng nhận cấp cho ông S1 có thể hiện phần rạch mà hiện là thửa 223. Sau khi ông S1 mất bà L3 xin thừa kế di sản của ông S1, tại giấy chứng nhận cấp cho bà L3 cũng thể hiện phần rạch mà hiện là thửa 223. Bà C ở cùng cha mẹ từ nhỏ và sau khi ông S1L3 mất bà C tiếp tục sử dụng đất, năm 2018 nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đối với phần đất tại thửa 223, đã được ủy ban nhân dân xã T xem xét hoàn tất qui trình lấy ý kiến các hộ dân xung quanh khu đất, hoàn tất qui trình niêm yết công khai và có tờ trình gửi Văn phòng đăng ký đất đai xem xét cấp giấy chứng nhận. Do ông MN tranh chấp nên bà C chưa được cấp giấy chứng nhận. Bà C yêu cầu chấp nhận yêu cầu phản tố của bà C để bà C ổn định cuộc sống.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoa Thị N trình bày: Trước năm 1975 thửa đất 223 thuộc quyền sử dụng của địa chủ không ai có quyền mua bán nên bà C khai mua của ông R1 là không đúng. Thửa 223 không thuộc quyền sử dụng của ông S1 mà của ông M1, ông M1 bán cho ông MN là có thật. Yêu cầu hội đồng xét xử Phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn T4 và ông Võ Trung N4 trình bày: Cam kết khai đúng sự thật, giữ nguyên nội dung đã trình bày trước đây tại tòa án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:

- Về tố tụng: Từ ngày thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa Phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung: Đề nghị hội đồng xét xử Phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M và bà Hoa Thị N, giữ nguyên bản án Dân sự Sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 305, Điều 306, Điều 307 Bộ luật Tố tụng dân sự Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn M. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 23/2024/DSST ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M về việc: Yêu cầu công nhận thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông M và đòi bà Nguyễn Thị C phải trả lại cho ông M phần đất trên.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị C.

    Công nhận thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị C, theo Bản vẽ đo đạc số 8474 do Công ty TNHH T7 lập ngày 04/6/2018, được Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố H - Chi nhánh huyện C kiểm tra nội nghiệp ngày 15/6/2018.

    C được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 70, diện tích 226,5m², đất tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định của pháp luật.

  1. Về chi phí tố tụng:

    Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), ông M tự nguyện chịu (đã quyết toán xong).

    Chi phí giám định tư pháp xây dựng 36.720.000đ (Ba mươi sáu triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng) ông M phải chịu (đã quyết toán xong).

    Chi phí thẩm định 16.500.000đ (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) bị đơn tự nguyện chịu (đã quyết toán xong).

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông M phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.554.100đ (Ba triệu năm trăm năm mươi bốn nghìn một trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0083224 ngày 03/01/2020, ông M được hoàn lại 3.254.100đ (Ba triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn một trăm đồng); hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho ông M là 2.945.900₫ (Hai triệu chín trăm bốn mươi lăm nghìn chín trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0085886 ngày 29/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

    Hoàn tiền tạm ứng án phí 1.250.000đ (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) cho bà C theo biên lai thu tiền số 0085797 ngày 15/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơn – ông Nguyễn Văn M phải chịu án phí Dân sự Phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí ông M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019111 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sư.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền

17

18

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 660/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 660/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn M tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Nguyễn Thị C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger