|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 660/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 05/6/2025
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Chí
Ông Phạm Nguyễn Anh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh, thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 104/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 163/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 154/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Diệp Chí H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số A đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Võ Thanh N, sinh năm: 1971; Địa chỉ: Số A đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 14 tháng 01 năm 2025, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bà Diệp Chí H là nguyên đơn trình bày:
Bà và ông N tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 24/2002, quyển số 01 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang vào ngày 09/5/2002.
Lúc đầu mới về chung sống với nhau bà và ông N rất hạnh phúc đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do ông N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác không chăm lo, chăm sóc gia đình, mặc dù bà đã nhiều lần tạo điều kiện, cơ hội, khuyên bảo ông N để vợ chồng cùng chung sống với nhau để xây dựng tổ ấm cho gia đình vì con nhưng ông N không thay đổi, sửa chữa, vợ chồng bắt đầu thường xuyên gây gỗ với nhau về vấn đề này. Năm 2021 bà đã nộp đơn ly hôn nhưng do con còn nhỏ và bà cũng muốn duy trì cuộc hôn nhân này nên bà rút đơn để tạo điều kiện cho ông N thay đổi. Tuy nhiên ông N không thay đổi, đồng thời nay con bà đã trưởng thành, bà nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt kết quả, bà không còn tình cảm với ông N và cũng xác định không còn khả năng đoàn tụ gia đình. Từ năm 2022 bà đã sống ly thân với ông N cho đến nay, vợ chồng không ai chăm sóc, lo lắng cho nhau. Nay, thực sự rất mệt mỏi, tình cảm bà dành cho ông N không còn, nên bà yêu cầu ly hôn với ông N để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Cao N1 đã trưởng thành.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, bà không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 08/5/2025 bị đơn – ông Võ Thanh N vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành theo quy định của pháp luật; bị đơn không chấp hành theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn”. Theo kết quả xác minh: Ông Võ Thanh N, sinh năm 1971 hiện tạm trú, cư trú tại địa chỉ 1 đường N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn có nơi cư trú tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bà H có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, ông N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
[3] Về nội dung vụ án :
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà H và ông N là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2002, quyển số 01 ngày 09/5/2002 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Căn cứ vào trình bày của bà H trong quá trình chung sống, bà H xác định ban đầu vợ chồng sống vui vẻ, hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông N có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, bà H đã từng nộp đơn xin ly hôn sau đó bà H rút đơn ly hôn vì con, ngoài ra cũng mong muốn ông N sẽ thay đổi. Tuy nhiên, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, bà và ông N bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống hôn nhân ngày càng bế tắc, bà và ông N đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay không còn quan tâm đến nhau, không còn tin tưởng nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông N vẫn vắng mặt và không gửi văn bản ghi quan điểm, việc này thể hiện ông không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn giữa vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, cuộc sống chung của vợ chồng bà H và ông N đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể kéo dài, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, nên việc bà H yêu cầu ly hôn với ông N là có cơ sở để chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà H và ông N có 01 con chung tên Võ Cao N1 sinh ngày 12/02/2006 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 36 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Diệp Chí H được ly hôn với ông Võ Thanh N.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Cao N1 sinh ngày 12/02/2006 đã trưởng thành.
- Về nợ chung và tài sản chung khi ly hôn: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0057241 ngày 05/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.
- Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo đối với bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Giấy chứng nhận kết hôn số 24/2002, quyển số 01 ngày 09/5/2002 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, tỉnh Tiền Giang hết hiệu lực.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Nga |
Bản án số 660/2025/HNGĐ-ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 660/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
