Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Bản án số: 660 /2025/DS - PT

Ngày: 12-06-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Lan Hương

2. Bà Lê Thị Ngọc Hương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 408/2025/TLPT-DS ngày 08 tháng 04 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 3202/2024/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2192/2025/QĐ - PT ngày 22 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4615/2025/QĐ-PT ngày 14/05/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Số A đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu đô thị A (AK4-08-14), số G V, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty Cổ phần V.

Địa chỉ: Số B đường L, phường B, quận T, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ chi nhánh T: Số D đường P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu L1.

Địa chỉ: Số D đường P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 1973.

Địa chỉ: Số A đường T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Kiều L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Khu đô thị A (AK4-08-14), số G V, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do có kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 04/4/2023 và các đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai, biên bản hòa giải và trong quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị Kiều L đại diện nguyên đơn trình bày:

Nguyên đơn – bà Nguyễn Thị Minh H (Sau đây gọi tắt là bà H) có cho Công ty cổ phần Viễn thông Di động Toàn cầu Chi nhánh Thành phố V (Sau đây gọi tắt là bị đơn) thuê mặt bằng để trạm ăngten theo Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm Ăngten viễn thông số: S35/2019/HĐLĐT-GM Mã trạm: SG1081C ngày 12/3/2019 với thời hạn hợp đồng là 5 (Năm) năm từ ngày 17/03/2019 đến 17/03/2023, giá cho thuê là: 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng/tháng.

Tuy nhiên, kể từ ngày 09/12/2019, bà H có nhận được thông báo công nợ cho trạm SG1081C của Công ty Cổ phần V – Chi nhánh Thành phố V từ ngày 01/02/2018 đến ngày 30/11/2019 với số tiền: 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng, và kể từ thời gian này cho đến nay, nguyên đơn đã nhiều lần làm việc và yêu cầu thanh toán số tiền nợ cũ và các khoản công nợ phát sinh thêm nhưng không nhận được bất cứ phản hồi hay thiện chí thanh toán công nợ nào từ Công ty Cổ phần V – Chi nhánh Thành phố V. Với tình hình khó khăn về tài chính cũng như chiếm dụng mặt bằng trong suốt thời gian qua mà không thanh toán công nợ, nguyên đơn tiến hành khởi kiện công nợ đối với Công ty Cổ phần V.

Nguyên đơn xác định số tiền nợ của Công ty Cổ phần V đến thời điểm tháo gỡ như sau:

Nợ cũ đến ngày 30/11/2019 là 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng.

Nợ phát sinh từ ngày 17/12/2019 đến ngày 17/09/2022 là 33 (Ba mươi ba) tháng với số tiền là 33 tháng x 13.000.000 đồng = 429.000.000 (Bốn trăm hai mươi chín triệu) đồng.

Tổng công nợ đến ngày 17/09/2022 là 715.000.000 (Bảy trăm mười lăm triệu) đồng.

Việc Công ty Cổ phần V không thanh toán công nợ đã gây quá nhiều khó khăn và thiệt hại cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn yêu cầu buộc Công ty Cổ phần V thanh toán khoản nợ là 715.000.000 (Bảy trăm mười lăm triệu) đồng.

Ông Nguyễn Hữu L1, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần V trình bày:

Công ty Cổ phần V (Sau đây gọi tắt là Gtel M) thuộc Tổng Công ty V1. Đơn vị chủ quản bởi Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ C.

Công ty G1 có ký Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm Ăngten viễn thông số: S35/2019/HĐLĐT-GM Mã trạm: SG1081C ngày 12/3/2019 về việc thuê diện tích lắp đặt trạm viễn thông mã trạm SG1081C với bà Nguyễn Thị Minh H.

Hiện nay, Công ty thực hiện tái cơ cấu theo Quyết định của Ban thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương và lãnh đạo Bộ C ngày 17/3/2020, trọng tâm là tái cơ cấu Công ty Cổ phần V mà các bên không thể biết được khi giao kết hợp đồng.

Để thực hiện đề án tái cơ cấu Công ty theo chỉ đạo của Cơ quan chủ quản, ngày 20/3/2020 Công ty có Công văn số: 43/GTM-KT ngày 20/3/2020 về việc tạm dừng hợp đồng thuê vị trí lắp đặt trạm kể từ ngày 01/01/2020 cho đến khi Công ty triển khai mạng mới 5G. Việc tạm dừng hợp đồng thuê vị trí lắp đặt trạm phát sóng của G được thống nhất thực hiện vào ngày 01/01/2020 của tất cả các hợp đồng còn thời hạn trên toàn quốc.

Công ty và bà H xác nhận công nợ đến thời điểm tạm dừng hợp đồng theo thông báo ngày 09/12/2019, theo đó Công ty Cổ phần V còn phải thanh toán tiền thuê nhà cho bà H số tiền: 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng.

Do đó, Công ty chưa thực hiện thanh toán cho bà H số tiền thuê nhà trạm theo hợp đồng nêu trên từ ngày 01/02/2018 đến ngày 30/11/2019 là 22 (hai mươi hai) tháng, mỗi tháng là: 13.000.000 (Mười ba triệu) đồng (22 tháng x 13.000.000 đồng = 286.000.000 đồng) tổng cộng là 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng theo thời hạn hợp đồng nêu trên.

Đối với công nợ là 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng của bà H, do Công ty G2 nhiều khó khăn khách quan và Công ty đang trong giai đoạn tái cơ cấu, do đó Công ty K1 đề nghị bà H xem xét cho xóa khoản nợ nêu trên.

Nếu bà H có yêu cầu tháo dỡ thiết bị là trạm phát sóng SG1081C để trả lại mặt bằng của bà H, Công ty sẽ có văn bản xin ý kiến của Cơ quan chủ quản (Cục A và phòng chống tội phạm sử dụng Công nghệ cao (A05) và tiến hành tháo dỡ, thu hồi thiết bị là tài sản nhà nước để bảo quản theo quy định khi có quyết định của Cơ quan chủ quản vì Công ty là cơ quan vận hành hệ thống mạng cho chủ sở hữu là Bộ C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Duy K có bà Nguyễn Thị Kiều L là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Nguyễn Duy K thống nhất toàn bộ trình bày và yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh H, yêu cầu Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Nguyễn Duy K không có yêu cầu độc lập.

Ngày 07/10/2024 nguyên đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu bị đơn như sau:

  1. Bổ sung số tháng và số tiền còn thiếu theo Hợp đồng kể từ ngày 17/9/2022 đến ngày 17/3/2024 (16 tháng) tương đương số tiền: 208.000.000 (Hai trăm lẻ tám triệu) đồng.
  2. Phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền 923.000.000 đồng x 8% = 73.840.000 (Bảy mươi ba triệu tám trăm bốn mươi nghìn) đồng.
  3. Thanh toán số tiền chậm thanh toán (15%) trên giá trị vi phạm, tương đương 923.000.000 x 15 % = 138.450.000 (Một trăm ba mươi tám triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng.

Vụ án được hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất được việc giải quyết vụ án, đề nghị đưa vụ án xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau: Nguyên đơn không yêu cầu tháo dỡ thiết bị là trạm phát sóng SG1081C để trả lại mặt bằng của bà H.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán:

  • Số tiền theo đơn khởi kiện là 715.000.000 (Bảy trăm mười lăm triệu) đồng (Đã bao gồm số tiền công nợ cũ 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng theo Thông báo công nợ (SG1081C) ngày 09/12/2019 do bị đơn gửi nguyên đơn).
  • Số tiền thuê nhà kể từ ngày 17/9/2022 đến ngày 17/3/2024 (16 tháng) tương đương số tiền là 208.000.000 (Hai trăm lẻ tám triệu) đồng.
  • Lãi quá hạn (tạm tính đến ngày xét xử 20/12/2024), mức lãi suất 10% theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự số tiền: 134.463.333 (Một trăm ba mươi bốn triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.
  • Phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền: 50.960.000 (Năm mươi triệu chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán là: 1.108.423.333 (Một tỷ một trăm lẻ tám triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn ba trăm ba mươi ba) đồng.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 3202/2024/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H yêu cầu bị đơn Công ty Cổ phần V thanh toán tổng số tiền là 1.108.423.333 (Một tỷ, một trăm lẻ tám triệu, bốn trăm hai mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng, gồm:

  • Số tiền công nợ còn thiếu theo Thông báo công nợ (SG1081C) ngày 09/12/2019 do bị đơn gửi nguyên đơn là: 286.000.000 (Hai trăm tám mươi sáu triệu) đồng.
  • Số tiền thuê nhà kể từ ngày 17/12/2019 đến ngày 17/3/2024 (49 tháng) tương đương số tiền: 637.000.000 (Sáu trăm ba mươi bảy triệu) đồng.
  • Số tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 20/12/2024, mức lãi suất 10% theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự số tiền: 134.463.333 (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng.
  • Số tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền: 50.960.000 (Năm mươi triệu, chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị đơn Công ty cổ phần V còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

  • Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh H được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 16.300.000 (Mười sáu triệu, ba trăm nghìn) đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2023/0044655 ngày 11/10/2023 và số tiền 10.405.800 (Mười triệu, bốn trăm lẻ năm nghìn, tám trăm) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0040894, Ký hiệu: BLTU/23P ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Bị đơn Công ty Cổ phần V phải chịu án phí là 45.252.700 (Bốn mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, bảy trăm) đồng.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án cho các bên đương sự.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, ông Nguyễn Hữu L1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty Cổ phần V có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm số 3202/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của TAND Quận 1.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Ông Nguyễn Hữu L1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày và tranh luận: Việc TAND Quận 1 thụ lý vụ án và đưa ra xét xử nhưng không xem xét toàn diện các chứng cứ, không xem xét tính liên quan của chứng cứ và hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi thực hiện hợp đồng dẫn đến chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn làm ảnh hưởng đến chức năng an ninh và nhiệm vụ của Công ty T1 của Bộ C. Trước khi Công ty và bà H ký kết hợp đồng S35/2019/HĐLĐ-GM ngày 12/3/2019 thì Công ty và bà H đang thực hiện hợp đồng tương tự và Công ty còn nợ chưa thanh toán cho bà H theo hợp đồng cũ từ ngày 01/02/2018 đến ngày 12/3/2019 là hơn 12 tháng. Tương đương số tiền chưa thanh toán là 12 tháng x 13.000.000 đồng = 156.000.000 đồng. Cho thấy hai bên ký kết hợp đồng S35/2019/HĐLĐ-GM ngày 12/3/2019 trong hoàn cảnh Công ty không có khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng cũ, do yếu tố an ninh quốc phòng Công ty ở tình thế phải ký tiếp hợp đồng để giữ trạm theo chỉ thị của Bộ C. Bà H biết rõ quyền lợi của bà đã bị ảnh hưởng liên tiếp hơn 12 tháng nhưng vẫn đồng ý ký hợp đồng mới có thời hạn 5 năm. Vậy bà H đã biết Công ty không đủ khả năng để thực hiện hợp đồng, biết trước rủi ro nhưng bà H vẫn ký hợp đồng mới với Công ty và thực tế công ty không có khả năng để thực hiện hợp đồng mới này. Trên cơ sở đó, ngày 13/01/2020 Công ty có văn bản số 26/GTM đề nghị bà H hợp tác, chia sẻ khó khăn với Công ty do vị trí lắp đặt trạm là tầng thượng của khách sạn, là vị trí trống không khai thác được trong dịch vụ khách sạn nên cần vận động tận dụng hỗ trợ nhà nước trong an ninh mạng nhưng bà H không đồng ý chia sẻ khó khăn với công vụ của Công ty. Công ty liên tục thông báo xin dừng hợp đồng, ngày 20/3/2020 Công ty có công văn 43/GTM đề nghị bà H tạm dừng hợp đồng thuê vị trí lắp đặt, thời hạn yêu cầu tạm dừng hợp đồng là ngày 31/12/2019. Bà H không đồng ý và tự ý ngắt điện hệ thống của trạm SG1081 làm gián đoạn phát sóng. Ngày 15/4/2020, Bộ

trưởng bộ C có quyết định 2845/QĐ-BCA tái cơ cấu Công ty Cổ phần V, ngày 14/11/2020 trạm SG1081 được phép ngắt nguồn, tắt trạm không phát sóng (trạm SG1081 ngừng hoạt động từ ngày 14/11/2020 theo hóa đơn của công ty Đ). Ngày 13/4/2021, đại diện Công ty và ông K bà H tiếp tục đàm phán tạm ngưng hợp đồng nhưng phía bà H đơn phương không đồng ý. Tháng 10/2022 các bên thỏa thuận được việc tháo dỡ trạm SG1081 để bàn giao trống mặt bằng cho bà H theo biên bản tháo dỡ trạm hai bên đã ký. Ngày 18/11/2022 công ty H1 tháo dỡ thiết bị nhập kho và bàn giao trống mặt bằng cho bà H. Công ty không đủ khả năng thực hiện hợp đồng và đề xuất tạm dừng hợp đồng là phù hợp theo các điều khoản 4.2.4 (nghĩa vụ thanh toán) và 5.1 (bất khả kháng) nhưng phía bà H không đồng ý, không tôn trọng yếu tố bình đẳng trong giao dịch dân sự. Do đó, Công ty có quyền đề xuất tạm dừng giao dịch, chấm dứt giao dịch khi bị ép buộc là có cơ sở. Công ty căn cứ các điều 5.1, 5.2 và 6.2 của hợp đồng quy định về điều kiện bất khả kháng và tạm dừng hợp đồng khi điều kiện bất khả kháng xảy ra để vận động bà H xin dừng hợp đồng nhưng phía bà H không hợp tác, không thực hiện theo nội dung hợp đồng đã ký. Theo quy định tại điều 6.3.2 nếu hết thời hạn tạm dừng hợp đồng mà hai bên không giải quyết được sự kiện là nguyên nhân tạm dừng hợp đồng thì hợp đồng được chấm dứt. Điều 6.3.4 Công ty có quyền chấm dứt hợp đồng trước hạn khi thông báo cho bên còn lại 30 ngày. Ngoài ra, tại điều 6.3.3 Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ngay lập tức khi phía bà H can thiệp vào hệ thống điện của trạm BTS, bà H tự ý ngắt điện của trạm BTS một cách liên tục trong tháng 01/2020 và tháng 02/2020 nhằm gây áp lực để Công ty thanh toán tiền thuê (đính kèm biểu đồ tiêu thụ năng lượng năm 2020 do điện lực TP H cung cấp). Bà H yêu cầu Công ty thanh toán tiền thuê đến hết thời hạn hợp đồng là ngày 17/3/2024 và các phí phạt vi phạm hợp đồng, lãi quá hạn theo thời hạn của hợp đồng thì Công ty không đồng ý, vì: Công ty liên tục xin dừng hợp đồng, bà H can thiệp trực tiếp vào hệ thống điện của trạm BTS, các bên thống nhất tháo dỡ trạm SG1081 vào ngày 18/11/2022, bà H cũng đã ký vào biên bản tháo dỡ trạm, trạm SG1081 cũng không hoạt động theo các điều khoản của hợp đồng do có các điều kiện thực tế làm thay đổi khách quan tính chất của hợp đồng. Do đó cần xem lại quyền, nghĩa vụ các bên được tính đến thời điểm nào đối với hợp đồng đã ký, thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh đã thay đổi cơ bản, đã phát sinh các tình tiết khách quan nêu trên. Tòa cấp sơ thẩm không thực hiện việc thẩm định tại chỗ để xác định nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của bị đơn, nhận định, đánh giá chứng cứ dựa trên lời khai của nguyên đơn để giải quyết vụ án là chưa đảm bảo việc xem xét, đánh

giá toàn diện chứng cứ.

Đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng điều 420 BLDS 2015 cho chấm dứt hợp đồng vào ngày 30/11/2020 (theo ngày cắt điện trạm BTS của điện lực Đ) do hoàn cảnh khách quan thay đổi sau khi hợp đồng được ký kết. Nay Công ty Cổ phần V đồng ý thanh toán công nợ cho bà H từ ngày 01/02/2018 đến ngày 30/11/2019 là 286.000.000 đồng và từ ngày 01/12/2019 đến ngày 30/12/2020 là 12 tháng x 13.000.000 đồng/tháng = 156.000.000 đồng, tổng số tiền Công ty thanh toán cho bà H là 286.000.000 đồng + 156.000.000 đồng = 422.000.000 đồng.

Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét sửa án sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu của nguyên đơn đối với các khoản tiền sau:

  • Tiền thuê nhà kể từ ngày 17/12/2019 đến ngày 17/3/2024 (49 tháng) là 637.000.000 (Sáu trăm ba mươi bảy triệu) đồng.
  • Tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 20/12/2024, mức lãi suất 10% theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự số tiền: 134.463.333 (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi ba nghìn, ba trăm ba mươi ba) đồng.
  • Số tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền: 50.960.000 (Năm mươi triệu, chín trăm sáu mươi nghìn) đồng.

Bà Nguyễn Thị Kiều L đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày và tranh luận: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nội dung kháng cáo: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của các đương sự thì ngày 12/3/2019, nguyên đơn bà H và bị đơn Công ty cổ phần V có chi nhánh Thành phố V tự nguyện ký Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm ăng ten viễn thông số S35/2019/HĐTĐL-GM mã trạm: SG1081C, mục đích thuê mặt bằng để trạm ăng ten, thời hạn thuê: 05 năm từ ngày 17/3/2019 đến ngày 17/3/2024, giá cho thuê: 13.000.000 đồng/tháng, thanh toán 03 tháng/lần.

Nguyên đơn đã thực hiện việc bàn giao mặt bằng cho thuê cho bị đơn quản lý, sử dụng nhưng bị đơn chưa thanh toán đầy đủ số tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn. Bị đơn chỉ xác nhận có nợ nguyên đơn số tiền thuê mặt bằng còn thiếu từ ngày 01/02/2018 đến ngày 30/11/2019 là: 286.000.000 đồng.

Bị đơn trình bày lý do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê là do đang thực hiện việc tái cơ cấu và thay đổi chủ sở hữu theo chỉ đạo của Thường trực Chính phủ và Bộ C.

Ngày 13/01/2020, bị đơn gửi công văn đề nghị cho Công ty L2 thời hạn thực hiện nghĩa vụ tài chính cho đến khi đề án tái cơ cấu Tổng Công ty được phê duyệt, triển khai. Như vậy, có cơ sở xác định đến ngày 13/01/2020, bị đơn vẫn đang sử dụng mặt bằng và chưa thanh toán tiền thuê.

Ngày 20/3/2020, bị đơn gửi Công văn số 43/GTM-KT thể hiện bị đơn căn cứ điều khoản bất khả kháng tại Hợp đồng do chưa hoàn tất thực hiện việc tái cơ cấu nên Công ty đề nghị tạm ngừng Hợp đồng kể từ ngày 01/01/2020. Tuy nhiên, hai bên không tiến hành ký Biên bản tạm ngừng như quy định tại khoản 6.2 của Hợp đồng.

Mặt khác, theo Quyết định số 2845/QĐ-BCA ngày 15/4/2020 của Bộ C về việc thành lập Ban chỉ đạo Đề án tái cơ cấu Công ty cổ phần V và Công văn số 370/GTEL-VP ngày 30/9/2020 của Tổng Công ty V1 chỉ thể hiện nội dung “2, Không tự ý tháo dỡ các trạm BTS; đối với những trạm bắt buộc phải tháo dỡ, yêu cầu Gtel M phải có xác nhận nội bộ nêu rõ lý do tháo dỡ, báo cáo Chủ tịch và Q.Tổng giám đốc Tổng công tV1 phê duyệt. Đối với các trạm thuộc Công an, khi tháo dỡ và di chuyển, bắt buộc phải có biên bản xác nhận của Công an địa phương...” chứ không thể hiện nội dung Công ty phải ngừng việc thuê mặt bằng cũng như tháo dỡ trạm; do đó đây không được xác định là sự kiện bất khả kháng. Bị đơn cung cấp hóa đơn giá trị gia tăng (tiền điện) để chứng minh việc trạm không phát sóng, ngừng hoạt động từ ngày 14/11/2020. Tuy nhiên, tại Hóa đơn vẫn thể hiện việc sử dụng điện của Công ty.

Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định rằng, bị đơn vẫn sử dụng mặt bằng của nguyên đơn để đặt trạm phát sóng SG1081C cho đến nay, Hợp đồng trên vẫn còn hiệu lực đến ngày 17/3/2024. Bị đơn không thanh toán tiền thuê là vi phạm nghĩa vụ Hợp đồng nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu thanh toán số tiền thuê 13.000.000 đồng x 49 tháng = 637.000.000 đồng của nguyên đơn.

Xét mức lãi suất, thời gian và cách tính lãi quá hạn của nguyên đơn yêu cầu 10% là phù hợp theo quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

Xét thấy, thỏa thuận mức chịu phạt vi phạm của hai bên phù hợp Điều 418 Bộ luật dân sự 2015, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trong Hợp đồng. Do đó, yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt vi phạm 637.000.000 đồng x 8% = 50.960.000 đồng của nguyên đơn là có cơ sở.

Do đó, nhận thấy không có cơ sở chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần V.

Bởi các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật TTDS năm 2015:

  • Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần V: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 3220/2024/DS-ST ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân Quận 1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thời hạn kháng cáo: Bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời hạn luật định đã tạm nộp án phí phúc thẩm nên được xác định là hợp lệ.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc không chấp nhận trả tiền thuê nhà kể từ ngày 17/12/2019 đến ngày 17/3/2024 (49 tháng) là 637.000.000 đồng:

[2.1.1] Nhận thấy: Nguyên đơn có cho bị đơn thuê mặt bằng để trạm ăngten theo Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm Ăngten viễn thông số: S35/2019/HĐLĐT-GM Mã trạm: SG1081C ngày 12/3/2019 với thời hạn hợp đồng là 5 năm từ ngày 17/03/2019 đến 17/03/2023, giá cho thuê là: 13.000.000đồng/tháng. Xét, Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm Ăngten viễn thông số: S35/2019/HĐLĐT-GM được các bên tự nguyện ký kết, hình thức và nội dung phù hợp quy định Điều 385, Điều 398 nên có hiệu lực theo quy định Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ bàn giao mặt bằng cho thuê cho bị đơn quản lý, sử dụng nhưng bị đơn chưa thanh toán đầy đủ số tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn. Bị đơn chỉ xác nhận có nợ nguyên đơn số tiền thuê mặt bằng còn thiếu từ ngày 01/02/2018 đến ngày 30/11/2019 là: 286.000.000 đồng.

[2.1.2] Ngày 13/01/2020, bị đơn ban hành Công văn số 26/GTM-HCM-KT về việc thanh toán tiền thuê mặt bằng, cơ sở hạ tầng lắp đặt trạm BTS. Công văn này thể hiện nội dung Công ty đã nhận được yêu cầu của ông K bà H về việc yêu cầu thanh toán tiền nợ thuê mặt bằng và đề nghị cho Công ty lùi thời hạn thực hiện nghĩa vụ tài chính cho đến khi đề án tái cơ cấu Tổng Công ty được phê

duyệt, triển khai. Như vậy, có cơ sở xác định đến ngày 13/01/2020, bị đơn vẫn đang sử dụng mặt bằng và chưa thanh toán tiền thuê.

[2.1.3] Vào ngày 20/3/2020 bị đơn có công văn số: 43/GTM-KT V/v đề nghị tạm ngừng hợp đồng thuê mặt bằng, cơ sở hạ tầng lắp đặt trạm BTS. Công văn nêu trên là yêu cầu đơn phương tạm ngừng hợp đồng của bị đơn không phải là công văn yêu cầu chấm dứt hợp đồng, không có sự đồng ý và xác nhận của nguyên đơn. Sau khi gửi công văn các bên cũng không tiến hành thương thảo, thống nhất các vấn đề phát sinh hay thỏa thuận chấm dứt hợp đồng. Bị đơn vẫn tiếp tục sử dụng mặt bằng của nguyên đơn để đặt trạm phát sóng SG1081C cho đến nay. Các lý do bị đơn đưa ra cũng không có căn cứ nên Hợp đồng trên vẫn còn hiệu lực đến hết hạn hợp đồng là ngày 17/3/2024.

[2.1.4] Do bị đơn vẫn tiếp tục sử dụng mặt bằng của nguyên đơn để đặt trạm phát sóng SG1081C nhưng không thanh toán tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán tiền nhà còn thiếu đến ngày 17/3/2024 (49 tháng) là: 637.000.000 đồng là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này không có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc không chấp nhận trả tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày xét xử 20/12/2024, mức lãi suất 10% theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự số tiền: 134.463.333 đồng.

Nhận thấy: Do nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng đã giao kết nhưng bị đơn vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên bị đơn còn phải chịu lãi trên số tiền chậm thanh toán theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự.

Xét, cách tính và thời gian tính lãi quá hạn của nguyên đơn phù hợp quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tạm tính lãi quá hạn đến ngày xét xử, mức lãi suất 10% theo quy định Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân sự số tiền: 134.463.333 đồng là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này không có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc không chấp nhận trả số tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền: 50.960.000 đồng.

[2.3.1] Nhận thấy: Tại Điều 7 của Hợp đồng thuê diện tích lắp đặt trạm Ăngten viễn thông số: S35/2019/HĐLĐT-GM Mã trạm: SG1081C ngày 12/3/2019 có thỏa thuận: “Các bên cam kết tuân thủ những nội dung đã thỏa thuận. Bên vi phạm hợp đồng sẽ chịu phạt 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ những vi phạm đã thỏa thuận mức phạt riêng”.

[2.3.2] Nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ bàn giao mặt bằng cho thuê cho bị đơn quản lý, sử dụng nhưng bị đơn chưa thanh toán đầy đủ số tiền thuê mặt bằng cho nguyên đơn nên đã vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng hai bên đã

ký. Do đó bị đơn phải chịu số tiền phạt vi phạm hợp đồng. Thỏa thuận phạt vi phạm của các bên phù hợp quy định Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền phạt vi phạm hợp đồng 8% theo Điều 7 Hợp đồng số tiền: 637.000.000 đồng x 8% = 50.960.000 đồng là có căn cứ. Yêu cầu kháng cáo của bị đơn đối với nội dung này không có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.

[3] Từ phân tích trên, nhận thấy, bản án sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ khách quan, áp dụng đúng pháp luật, quyết định phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Những lý do kháng cáo của bị đơn không có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.

[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: do HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên người kháng cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần V.

2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 3202/2024/DS-ST ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần V phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào án phí tạm nộp 300.000 đồng theo biên lai thu ký hiệu BLTU/24P số 0079523 ngày 16/01/2025 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 1. Bị đơn đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án

hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND Tối Cao;
  • TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • VKSND TP.HCM;
  • Cục thi hành án dân sự TPHCM;
  • Chi cục THADS Quận 1;
  • TAND Quận 1;
  • Các đương sự;
  • Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 660/2025/DS - PT ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

  • Số bản án: 660/2025/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê mặt bằng. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger