TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2024 V/v “Ly hôn, con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Sang;
Bà Thi Thị Thanh Trúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiên Thị Minh Hiếu, là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh: Ông Nguyễn Văn Trường, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 255/2024/TLST- HNGĐ, ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Mỹ N, sinh năm 1991 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh Ngô Văn H, sinh năm 1990 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lâm Mỹ N trình bày: Chị và anh Ngô Văn H có quen biết, tìm hiểu nên tự nguyện cưới nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện D cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 12/5/2015. Thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng sống rất hạnh phúc, sau một thời gian phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, vợ chồng thường xuyên cự cải, anh H không tôn trọng, bất kính với mẹ vợ, vợ chồng ngày càng xa cách, gia đình không còn hạnh phúc nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn H.
- Về con chung: Chị với anh H có 01 con chung là Ngô Lâm Bảo N1, sinh ngày 22/9/2015, chị N yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp cho đến khi cháu N1 tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Mỹ N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Ngô Văn H vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn anh Ngô Văn H vắng mặt không có lý do; nguyên đơn chị Lâm Mỹ N vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, chị Lâm Mỹ N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá chứng cứ do các bên cung cấp, chứng cứ do Tòa án thu thập. Trên cơ sở các lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận cho chị Lâm Mỹ N được ly hôn với anh Ngô Văn H. Về con chung chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cháu Ngô Lâm Bảo N1 cho chị N được quyền nuôi con chung sau khi ly hôn, buộc anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp cho đến khi cháu N1 tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N trình bày không có nên không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Nguyên đơn chị Lâm Mỹ N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngô Văn H và yêu cầu nuôi con chung; bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh nên căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý, Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nhưng bị đơn anh Ngô Văn H đều vắng mặt không lý do, Tòa án lập biên bản không hòa giải được theo quy định. Tại phiên tòa, nguyên đơn Lâm Mỹ N, bị đơn anh Ngô Văn H đều vắng mặt, nhưng chị N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[3] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Chị Lâm Mỹ N và anh Ngô Văn H tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện D, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 12/5/2015, đây là việc kết hôn hợp pháp. Quá trình sống chung, chị N cho rằng vợ chồng sống hạnh phúc sau ngày cưới, nhưng sau một thời gian do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp, vợ chồng thường xuyên cự cải, anh H không tôn trọng, bất kính với mẹ vợ, vợ chồng ngày càng xa cách, gia đình không còn hạnh phúc nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh Ngô Văn H.
Xét đơn khởi kiện của chị N yêu cầu được ly hôn với anh H cũng như quan điểm của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận.
- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã ra thông báo thụ lý vụ án và tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để chị N với anh H xem xét, suy nghĩ lại, gạt bỏ mâu thuẫn, bất đồng vợ chồng đoàn tụ, hạnh phúc, nuôi dạy con chung. Nhưng bị đơn anh Ngô Văn H mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt không lý do và không có văn bản thể hiện ý kiến phản bác hay chấp nhận đối với các yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Mỹ N, như vậy anh H đã bỏ mặt, không quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân này, thể hiện rằng anh không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N.
Từ nhận định, phân tích trên có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Lâm Mỹ N và anh Ngô Văn H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Lâm Mỹ N yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lâm Mỹ N được ly hôn với anh Ngô Văn H.
- Về con chung: Chị N với anh H có 01 con chung là Ngô Lâm Bảo N1, sinh ngày 22/9/2015, chị N yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì chau Như là con gái, sau khi chị N và anh H ly thân cháu N1 được chị N nuôi dưỡng, chăm sóc và cháu N1 có nguyện vọng được sống chung với chị N. Đối với anh H không có ý kiến phản đối yêu cầu của chị N, không yêu cầu được quyền nuôi cháu N1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của chị N chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, giao cháu N1 cho chị N được quyền nuôi con sau khi ly hôn.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của chị N: Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”; mức cấp dưỡng nuôi con do chị N và anh H không có thỏa thuận được. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình. “Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định mà mức cấp dưỡng không thấp hơn ½ tháng lương tối thiểu vùng”.
Mức lương tối thiểu vùng tại huyện C là 3.450.000 đồng, chị N yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng trên tháng là phù hợp với quy định của Nghị quyết và khả năng lao động của anh H nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Mỹ N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Mỹ N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Khoản 1 Điều 9, Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56, 57, các Điều 81, 82, 83, 107, 110, 116 Luật hôn nhân và gia đình; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Mỹ N.
- Về hôn nhân: Cho chị Lâm Mỹ N được ly hôn với anh Ngô Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Ngô Lâm Bảo N1, sinh ngày 22/9/2015 cho chị Lâm Mỹ N được quyền nuôi con chung.
Buộc anh Ngô Văn H cấp dưỡng nuôi con chung là Ngô Lâm Bảo N1 mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án.
Anh Ngô Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lâm Mỹ N trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Lâm Mỹ N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000665 ngày 31/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Buộc anh Ngô Văn H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Hùng |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
