Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯƠNG MỸ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 31-05-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ - TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Tiến Lợi

Bà Nguyễn Thị Luận

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ tham gia phiên tòa:

Ông Cù Ngô Ngọc Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 05 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 05 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐ-ST ngày 24/05/2024 đối với bị cáo:

Tạ Thị T, sinh năm 1983.

Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn M, xã B, huyện T, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Đình K (đã chết) và bà Kiều Thị T1; chồng: Nguyễn Kiêm P và 02 con (lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004).

D chỉ bản số: 793 lập ngày 22/12/2023 tại Công an huyện C, Thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 67/2015/HSST ngày 23/4/2015, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Nộp án phí Hình sự sơ thẩm ngày 13/7/2015 (đã được xóa án).
  • + Ngày 01/11/2017, Công an phường P, quận B, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền: 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi “Trộm cắp tài sản”. (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 055728 ngày 01/11/2017). Đã chấp hành nộp phạt xong ngày 06/11/2017 (đã được xóa).
  • + Bản án Hình sự sơ thẩm số: 135/2019/HSST ngày 25/7/2019, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/01/2021. Nộp án phí Hình sự sơ thẩm ngày 25/7/2019 (đã được xóa án).

Bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023.

Hiện tại ngoại tại: thôn M, xã B, huyện T, Thành phố Hà Nội.

* Người bị hại: Bà Đặng Thị T3, sinh năm 1969 (đã chết ngày 15/01/2024).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3:

  1. Bà Đặng Thị T4, sinh năm 1968 (chị gái bà T3).

    Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn H, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội.

  2. Ông Đặng Đình X, sinh năm 1972 (em trai bà T3).

    Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn L, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội.

    Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S – Bộ C.

    Ông Đặng Đình X có đơn xin vắng mặt.

  3. Ông Đặng Đình T5, sinh năm 1983 (em trai bà T3).

    Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn L, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội.

  4. Bà Đặng Thị X1, sinh năm 1985 (em gái bà T3).

    Nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Bà Đặng Thị T4, ông Đặng Đình T5 ủy quyền cho bà Đặng Thị X1, sinh năm 1985; nơi đăng ký HKTT và cư trú: thôn Đ, xã H, huyện C, Thành phố Hà Nội.

Bà Đặng Thị X1 có đơn xin vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Bà Tạ Thị O, sinh năm 1968

    Cư trú tại: thôn B, xã Q, huyện C, TP Hà Nội.

  2. Ông Đào Kim H, sinh năm 1974

    Cư trú tại: đội A, thôn E, xã Q, huyện C, TP Hà Nội.

Đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tạ Thị T làm nghề buôn bán cá tôm ở các chợ trên địa bàn huyện Ứ và huyện C, Thành phố Hà Nội. Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, Tạ Thị T mặc áo khoác dài tay có họa tiết kẻ caro tối màu, đeo khẩu trang màu đỏ, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát: 29F4- 3169 đi đến chợ B trên địa bàn xã V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội để bán tôm. Bán tôm xong, T tiếp tục điều khiển xe máy đi đến chợ đầu mối cá - tôm ở phường L, quận H, Thành phố Hà Nội mua hàng. Khi quay về, T rẽ vào chợ Q thuộc thôn B, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội để mua rau. T dựng xe mô tô ở khu bán cá cuối chợ và đi bộ đến cửa hàng bán rau của bà Đặng Thị T3 ở cổng chợ để mua rau. Trong khi chờ bà T3 trả lại tiền thừa, T nhìn thấy bà T3 cầm 01 (một) chiếc túi đeo chéo vải dù màu đen bên trong có cọc tiền có tổng giá trị là 59.629.000 đồng (gồm các tờ tiền mệnh giá từ 1.000 đồng đến 500.000 đồng). T nhìn thấy bà T3 để chiếc túi đen vào giữa hai thùng xốp dùng để kê bán rau. Liền nảy sinh ý định trộm cắp túi đựng tiền của bà T3, Thảo cầm hai cây Súp lơ ra cất treo ở xe mô tô rồi quay lại quầy hàng rau nói với bà T3 “Bán cho 07 cân củ cải; 03 cải thảo mang ra treo ở xe máy cho em ở cuối chợ” rồi T đi sang quầy thịt lợn đối diện quầy của bà T3 để mua 30.000 đồng thịt lợn. Thấy T đứng ở cửa hàng mua thịt lợn, bà T3 cầm rau đi ra treo vào xe của T. Thấy bà T3 đi ra khỏi cửa hàng, T liền đi nhanh đến cửa hàng rau của bà T3 lấy túi vải màu đen bên trong có tiền ở giữa khe hai thùng xốp kẹp giấu vào nách rồi quay lại chỗ xe mô tô. Khi T nhìn lại phía sau, thấy bà Tạ Thị O gọi “Chị T3 ơi” và chỉ tay về phía T. Biết là bị phát hiện trộm cắp túi tiền, T vội vàng nổ máy xe để đi ra khỏi chợ. Do chợ đông người, không thoát được, nên khi điều khiển xe mô tô đi đến gần quầy bán quần áo của anh Đào Kim Hùng, Thảo cầm túi tiền vứt xuống gần chỗ xe kéo của anh H rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thẳng ra cổng chợ, nhưng bị bà O, bà T3 và một số người dân đã giữ T lại và trình báo với Công an xã Q đến lập biên bản sự việc T lấy trộm túi đựng tiền của bà T3.

Anh Đào Kim H1 phát hiện túi vải màu đen tại xe chở quần áo, không biết là của ai nên mang về nhà, khi anh H1 mở túi ra thấy bên trong có nhiều tiền nên cất đi để chờ hỏi lại vợ là chị Vũ Thị Bùi x tiền của ai. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, Cơ quan Điều tra mời anh H1 đến làm việc, lúc này anh H1 mới biết được việc bà T3 bị mất trộm túi vải đựng tiền. Anh H1 liền trình bày và giao nộp chiếc túi bên trong có đựng tiền để phục vụ công tác điều tra.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện C trích xuất hình ảnh từ Camera an ninh của gia đình chị Trịnh Thị T6 ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc trộm cắp tài sản trên. Đồng thời thu giữ 02 (hai) file video từ Camera an ninh của gia đình chị Trịnh Thị T6.

* Vật chứng thu giữ:

Vật chứng do Tạ Thị T giao nộp:

  • + 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda cũ, đã qua sử dụng, kiểu dáng Dream, biển kiểm soát: 29F4 - 3169; số khung: C100MN0015986, số máy: HC09E-035213.
  • + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, cũ đã qua sử dụng; số IMEI 1: 357086102324736, số IMEI 2: 357087102324734.
  • + 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu tối có họa tiết kẻ caro, chất liệu vải gió.
  • + 01 (một) chiếc khẩu trang vải màu đỏ .

Vật chứng do anh Đào Kim H1 giao nộp:

  • + Số tiền 59.629.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi chín triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn đồng) tiền Ngân hàng N đang lưu hành .
  • + 01 (một) chiếc túi đeo chéo vải dù màu đen.
  • - 02 (hai) file video từ Camera an ninh của gia đình chị Trịnh Thị T6.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 40/KL-HĐĐG ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện C kết luận: “01 (một) túi vải màu đen, dạng túi chéo, không có nhãn mác. Tại thời điểm tháng 12/2023 có giá trị là: 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng)”.

* Tại bản kết luận giám định số: 528/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H, kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM đeo biển kiểm soát: 29F4 - 3169: Bề mặt kim loại vị trí số khung của xe bị han gỉ, xác định được số khung nguyên thủy của xe là: C100MN – 0015986; bề mặt kim loại vị trí số máy của xe có dấu vết tẩy xóa, xác định được số máy nguyên thủy của xe là: HC09E - 015214? (ký tự “?” không xác định được), là số máy nguyên thủy của xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE.”.

* Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

+ Ngày 15/01/2024, bà Đặng Thị T3 bị đột quỵ và tử vong tại nhà riêng ở Đ, thôn L, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội và được đăng ký khai tử tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C theo quy định. Đại diện gia đình bà T3 là chị Đặng Thị X1 (em gái ruột bà T3) đã có đơn xin lại số tiền bị trộm cắp là 59.629.000 đồng.

+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển kiểm soát: 29F4- 3169, là phương tiện của T sử dụng đi buôn bán hằng ngày, sau khi trộm cắp túi đựng tiền 59.629.000 đồng, T đã nổ máy xe đi. Đại diện gia đình Tạ Thị T khai nhận mua chiếc xe mô tô nêu trên của người không quen biết qua mạng xã hội để làm phương tiện đi lại và khi mua không có giấy tờ mua bán xe. Cơ quan Điều tra xác định chiếc xe mô tô nêu trên có giấy tờ mang tên ông Nguyễn Xương V (sinh năm 1943; trú tại A K, quận T, TP Hà Nội; đã chết từ năm 2002), năm 2000, do không có nhu cầu sử dụng nên ông Nguyễn Xương V đã bán chiếc xe mô tô nêu trên cho người không quen biết, không lập giấy tờ mua bán. Tra cứu cơ sở dữ liệu quản lý vật chứng xác định chiếc xe mô tô không phải vật chứng vụ án.

Cáo trạng số: 40/CT-VKS-CM ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố Tạ Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Tạ Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Tạ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tạ Thị T từ 26 đến 30 tháng tù. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại bà Đặng Thị T3 do chị Đặng Thị X1 là người đại diện cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3 số tiền: 59.629.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi chín triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn đồng) và 01 (một) chiếc túi đeo chéo vải dù màu đen. Trả lại bị cáo Tạ Thị T 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, biển kiểm soát: 29F4 – 3169 và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu tối có họa tiết kẻ caro, chất liệu vải gió và 01 (một) chiếc khẩu trang vải màu đỏ .

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của cơ quan truy tố, về hành vi tố tụng của Điều tra viên, của Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giữ, thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, các biện pháp điều tra như: Lấy lời khai bị can, lấy lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, trưng cầu định giá tài sản, giao nhận các văn bản tố tụng cho bị can. Các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thu thập đầy đủ, đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên không mớm cung, ép cung, bức cung, dùng nhục hình đối với bị can. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về sự vắng mặt của người bị hại là bà Đặng Thị T3: Bà Đặng Thị T3 đã chết ngày 15/01/2024 do bị bệnh đột quỵ, bà T3 không có chồng, không có con, bố mẹ bà T3 đều đã mất nên Toà án đưa những người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Đặng Thị T3 là chị em ruột của bà T3 bao gồm: Bà Đặng Thị T4, ông Đặng Đình X, ông Đặng Đình T5, bà Đặng Thị X1 vào tham gia tố tụng với tư cách là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3. Ông Đặng Đình X hiện đang chấp hành án tại Trại giam S – Bộ C đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Đặng Thị T4 và ông Đặng Đình T5 đều uỷ quyền cho bà Đặng Thị X1. Bà Đặng Thị X1 đã có lời khai và đã có đơn xin vắng mặt nên việc vắng mặt của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Xét lời khai của bị cáo Tạ Thị T tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra, vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự, lời khai của người bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, tại cửa hàng bán rau của bà Đặng Thị T3 trong chợ Q, thuộc địa phận thôn B, xã Q, huyện C, Thành phố Hà Nội. Tạ Thị T thấy bà T3 cầm chiếc túi vải dù, bên trong có tiền. Lợi dụng sơ hở của bà Đặng Thị T3 trong khi đang bán hàng, Tạ Thị T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của bà Đặng Thị T3 chiếc túi vải màu đen bên trong có số tiền: 59.629.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi chín nghìn đồng) bà T3 để ở giữa 02 thùng xốp mà bà T3 kê để bán hàng.

Hành vi lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu là bà Đặng Thị T3 rồi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Đặng Thị T3 là chiếc túi vải bên trong có số tiền 59.629.000 đồng mà Tạ Thị T thực hiện đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 40/CT-VKS-CM ngày 05/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội truy tố: Bị cáo Tạ Thị T về tội Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; xâm phạm đến trật tự công cộng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị Toà án xét xử đều về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị Cơ quan Công an xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Cụ thể: Bản án Hình sự sơ thẩm số: 67/2015/HSST ngày 23/4/2015, Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội xử phạt 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án Hình sự sơ thẩm số: 135/2019/HSST ngày 25/7/2019, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội xử phạt 08 (T2) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 01/11/2017, Công an phường P, quận B, Thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Điều đó chứng tỏ, bị cáo đã nhiều lần được giáo dục cải tạo nhưng không chịu sửa chữa, tu dưỡng để trở thành người công dân tốt, nay lại tiếp tục phạm tội mới cùng loại. Do vậy, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng như phòng ngừa chung.

[2.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, tạo điều kiện để bị cáo yên tâm cải tạo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bà Đặng Thị T3 chỉ yêu cầu xin lại số tiền bị mất mà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; bà Đặng Thị X1 là người đại diện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Đặng Thị T3 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét trách nhiệm bồi thường.

[4]. Về xử lý vật chứng:

  • + Số tiền 59.629.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi chín triệu sáu trăm hai mươi chín nghìn đồng) và 01 (một) chiếc túi đeo chéo vải dù màu đen là tài sản hợp pháp của bà Đặng Thị T3. Bà Đặng Thị T3 đã chết nên trả lại cho người đại diện của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3 do chị Đặng Thị X1 đại diện quản lý, sử dụng.
  • + 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda cũ đã qua sử dụng, kiểu dáng Dream, biển kiểm soát: 29F4 - 3169; số khung: C100MN0015986, số máy: HC09E-035213; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, cũ đã qua sử dụng; số IMEI 1: 357086102324736, số IMEI 2: 357087102324734; 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu tối có họa tiết kẻ caro, chất liệu vải gió; 01 (một) chiếc khẩu trang vải màu đỏ là tài sản của Tạ Thị T, không coi là vật chứng của vụ án nên trả lại cho bị cáo Tạ Thị T quản lý, sử dụng.

Đối với anh Đào Kim Hùng: Cơ quan Điều tra xác định, khi anh Đào Kim Hùng đang treo quần án để bán hàng tại chợ Q thì phát hiện 01 túi vải dù màu đen ở bên cạnh sườn phải của xe máy nên đã đem cất vào trong bao tải và tiếp tục dọn hàng. Sau đó, khi về nhà anh H1 có mở ra xem thì thấy có nhiều tiền được bọc bên ngoài bằng túi nilong trắng nên đã cất lên nóc tủ để hỏi lại vợ anh H1 về số tiền nêu trên. Sau khi được Cơ quan Điều tra mời lên làm việc, anh H1 mới biết số tiền này là của bà Đặng Thị T3 bị mất trộm, nên đã tự nguyện giao nộp. Do đó, Cơ quan Điều tra không xem xét là có căn cứ.

[5]. Về án phí: Bị cáo Tạ Thị T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tạ Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tạ Thị T 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.

4. Về xử lý vật chứng:

  • + Trả lại những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3 do chị Đặng Thị X1 là người đại diện nhận lại số tiền: 59.629.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi chín triệu, sáu trăm hai mươi chín nghìn đồng) hiện lưu giữ tại tài khoản số 3949.0.1052753.00000 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Chương Mỹ - Kho bạc Nhà nước huyện C (theo Ủy nhiệm chi ngày 24/04/2024) .
  • + Trả lại những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đặng Thị T3 do chị Đặng Thị X1 là người đại diện nhận lại 01 (một) chiếc túi đeo chéo vải dù màu đen.
  • + Trả lại bị cáo Tạ Thị T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu nâu, cũ đã qua sử dụng, kiểu dáng Dream, biển kiểm soát: 29F4 - 3169; số khung: C100MN0015986, số máy hiện đã bị tẩy xóa, không kiểm tra tình trạng, chất lượng máy bên trong; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, cũ đã qua sử dụng; số IMEI 1: 357086102324736, số IMEI 2: 357087102324734; 01 (một) chiếc áo khoác dài tay màu tối có họa tiết kẻ caro, chất liệu vải gió đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc khẩu trang vải màu đỏ .

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 23/04/2024 giữa Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Tạ Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • + Bị cáo Tạ Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • + Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị hại (bà Đặng Thị T3) gồm: Ông Đặng Đình X, bà Đặng Thị X1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Chương Mỹ;
  • - Công an huyện Chương Mỹ;
  • - CC THA dân sự huyện Chương Mỹ;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện của người bị hại;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Hoàng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger