|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/7/2024 V/v “Xin ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Vũ Linh.
- - Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- 2/ Ông Nguyễn Văn Mến.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Tô Minh Phú – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 90/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/5/2024 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 213/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Huỳnh Ngọc L, sinh năm 1965 (Có mặt).
- Địa chỉ: Số I tổ A, hẻm F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- - Bị đơn: Ông Phùng Thị M, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
- Địa chỉ thường trú: Số C tổ D, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
- Chỗ ở hiện nay: Số I tổ A, hẻm F, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L trình bày và yêu cầu: Ông và bà Phùng Thị M tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 1999 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, quận C vào ngày 20/10/2003. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không tìm ra tiếng nói chung trong cuộc sống, thường xuyên cãi vả, không thể hàn gắn với nhau. Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông yêu cầu được ly hôn với bà Phùng Thị M.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 (ba) con chung là Huỳnh Trí T (nam) sinh ngày 27/11/2000, Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 29/5/2001 và Huỳnh Ngọc G (nữ), sinh ngày 02/6/2004, hiện các con chung đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống giữa ông với bà M không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn bà Phùng Thị M đã được Tòa án triệu tập 02 (hai) lần đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án trên theo quy định, cụ thể vào các ngày 11/6/2024 và ngày 27/6/2024, tuy nhiên bà M vắng mặt mà không có lý do. Cho nên, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và được đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Có mặt tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L vẫn giữ phần trình bày và yêu cầu như trên.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử, cũng như tại phiên tòa hôm nay: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục tố tụng. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý giải quyết đúng quy định; Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải, thu thập chứng cứ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật; không phát hiện vi phạm.
- - Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Đối với bị đơn bà Phùng Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị xét xử vắng mặt theo quy định.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho ông Huỳnh Ngọc L được ly hôn với bà Phùng Thị M, do trong thời gian chung sống thì hôn nhân của ông L, bà M phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng nhưng hai người không tự giải quyết mâu thuẫn đã tồn tại. Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Huỳnh Trí T (nam) sinh ngày 27/11/2000, Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 29/5/2001 và Huỳnh Ngọc G (nữ), sinh ngày 02/6/2004, các con chung đã trưởng thành nên không điều chỉnh. Đối với tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn ông L khai không có, tuy nhiên bị đơn bà M vắng mặt nên chưa được làm rõ, đề nghị tách ra xem xét giải quyết thành vụ án khác, nếu đương sự có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Ông Huỳnh Ngọc L và bà Phùng Thị M tự nguyện đi đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân phường H, quận C cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 226, ngày 20/10/2003, nên hôn nhân của ông, bà là hợp pháp được pháp luật bảo vệ và điều chỉnh khi có yêu cầu. C sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, không đạt được hạnh phúc như mong muốn nên ông L có đơn yêu cầu xin ly hôn với bà M, quan hệ tranh chấp được xác định là “Xin ly hôn”, vụ việc được Tòa án nhân dân quận Cái Răng thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Phùng Thị M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu của các đương sự:
- - Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của ông L và bà M là hợp pháp trên cơ sở tự nguyện, trong thời gian chung sống thì tình cảm vợ chồng có sự rạn nứt, mâu thuẫn với nhau, giữa hai người không tìm ra cách giải quyết mâu thuẫn, không hàn gắn tiếp tục cuộc sống hôn nhân đã được xây dựng.
Xét thấy, để xây dựng hạnh phúc của gia đình, cũng như cuộc sống của vợ chồng phải được vun đắp từ tình cảm thật sự xuất phát từ bản thân của cả người vợ và người chồng, sự tự nguyện cả hai người đồng thời cùng duy trì, giữ gìn hạnh phúc đã xây dựng, cùng chăm lo cho nhau và nuôi dạy con chung, nhưng ông L và bà M không làm được điều này. Ông L cho rằng không còn tình cảm, không thể hàn gắn, kiên quyết ly hôn với bà M, nếu gán ép, duy trì sẽ không mang lại hạnh phúc. Riêng đối với bị đơn bà M đã được Tòa án thông báo đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng bà M vắng mặt mà không có lý do, không đưa ra ý kiến hay giải pháp nào để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau, chứng tỏ không còn tha thiết duy trì cuộc hôn nhân với ông L. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa ông L và bà M không đạt được, đời sống chung thực tế không tồn tại, nghĩ nên cho ông L được ly hôn với bà M là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật.
- Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Huỳnh Trí T (nam) sinh ngày 27/11/2000, Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 29/5/2001 và Huỳnh Ngọc G (nữ), sinh ngày 02/6/2004, các con chung đã trưởng thành, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Ông L khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng bà M vắng mặt nên chưa làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 147, 235, 266 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 và 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- 1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Huỳnh Ngọc L được ly hôn với bà Phùng Thị M.
- 2. Về con chung: Có 03 (ba) con chung là Huỳnh Trí T (nam) sinh ngày 27/11/2000, Huỳnh Ngọc S, sinh ngày 29/5/2001 và Huỳnh Ngọc G (nữ), sinh ngày 02/6/2004, các con chung đã trưởng thành, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- 3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông L khai không có, không có yêu cầu giải quyết, riêng bà M vắng mặt nên chưa làm rõ. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ tách ra giải quyết thành vụ án khác, nếu có yêu cầu.
- 4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn ông Huỳnh Ngọc L nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003441 ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ; ông L đã nộp xong án phí.
- 5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; riêng đối với đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm theo quy định./.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vũ Linh |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về xin ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn (L- M)
